Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Hoạt động trải nghiệm 7_CTST.

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Hoạt động trải nghiệm 7_CTST. Chủ đề 5 Tài nguyên thiên nhiên
Người gửi: Trần Kim Thoa
Ngày gửi: 08h:55' 04-10-2023
Dung lượng: 624.9 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
CHỦ ĐỀ

5

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỤC TIÊU
– Trình bày được đặc điểm cơ bản của một trong số các loại tài nguyên thiên
nhiên tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh (đất, nước, rừng, khoáng sản,…).
– Trình bày được hiện trạng sử dụng, một số giải pháp bảo vệ và sử dụng
hợp lí các loại tài nguyên thiên nhiên tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh.

KHỞI ĐỘNG
Hãy kể tên một số tài nguyên thiên nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh mà em biết.

KHÁM PHÁ
I. TÀI NGUYÊN ĐẤT
1. Đặc điểm tài nguyên đất của Thành phố Hồ Chí Minh
Tiềm năng đất đai trên phạm vi địa bàn Thành phố có nhiều hạn chế về diện
tích. Theo tài liệu khảo sát thổ nhưỡng, trên địa bàn các huyện và quận ven
Thành phố Hồ Chí Minh có 6 loại đất chính:
– Đất cát: diện tích 5,2 nghìn ha, chiếm khoảng 4,19% diện tích vùng khảo sát.
Phân bố ở huyện Cần Giờ.
– Đất mặn: diện tích 19,8 nghìn ha, chiếm khoảng 15,99% diện tích vùng khảo
sát. Phân bố tập trung ở huyện Cần Giờ.

42

– Đất phèn: chủ yếu là đất phèn tiềm tàng, diện tích khoảng 44,5 nghìn ha, chiếm 36,04%
diện tích vùng khảo sát. Phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém như phía nam
huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía bắc huyện Cần Giờ.

– Đất phù sa: diện tích khoảng 20,4 nghìn ha, chiếm 16,51% diện tích vùng khảo sát,
trong đó loại đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 3%. Phân bố chủ yếu ở vùng phía nam
huyện Bình Chánh và một số nơi ở huyện Củ Chi, Hóc Môn,… ở độ cao khoảng 1,5 m.

– Đất xám: diện tích khoảng 31,3 nghìn ha, chiếm khoảng 25,29% diện tích
vùng khảo sát. Phân bố chủ yếu trên vùng đất cao, gò ở huyện Củ Chi, Hóc Môn,
thành phố Thủ Đức và phía bắc huyện Bình Chánh.
– Đất đỏ vàng: diện tích khoảng 2,4 nghìn ha, chiếm 1,98% diện tích vùng khảo
sát. Phân bố trên vùng gò ở huyện Củ Chi và thành phố Thủ Đức.
Diện tích còn lại không khảo sát là 85,9 nghìn ha, gồm đất phi nông nghiệp (đất ở,
chuyên dùng,…) và núi đá chiếm khoảng 5,4 ha thuộc xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.
?

CÂU HỎI
Dựa vào thông tin mục 1, em hãy kể tên các loại đất ở Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên
đất a. Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất
Đất đai là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường. Đất không chỉ là nguồn tài
nguyên mà còn là nền tảng không gian để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế – xã
hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế
trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Đất đai có giá trị to lớn đối với con người cũng
như đối với tự nhiên. Đất có thể lâm vào tình trạng suy thoái và ô nhiễm khi gặp phải các
tác nhân tiêu cực. Ở Thành phố Hồ Chí Minh đất đai chưa được khai thác đầy đủ. Theo
thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích đất đai của
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 là 209,5 nghìn ha đất tự nhiên, trong đó có 111,9
nghìn ha đất nông nghiệp (chiếm 53,4%), đất phi nông nghiệp có diện tích khoảng 96,6
nghìn ha (chiếm 46,1%) và hơn 1 nghìn ha đất chưa sử dụng (chiếm 0,5%).

43

Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất ở Thành phố Hồ Chí
Minh, giai đoạn 2015 – 2019
(Đơn vị: nghìn ha)

2015

2019

115,5

111,9

– Đất sản xuất nông nghiệp

66,8

64,3

– Đất lâm nghiệp

34,9

35,5

– Đất nuôi trồng thuỷ sản

11,3

9,4

– Đất nông nghiệp khác

2,5

2,7

Đất phi nông nghiệp

93,1

96,6

– Đất ở

27,4

29,3

– Đất chuyên dùng

33,9

35,1

– Đất phi nông nghiệp khác

31,8

32,2

Đất chưa sử dụng

0,9

1,0

Hiện trạng sử dụng đất
Đất nông nghiệp

(Nguồn: http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn)

b. Biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên đất
Để phát huy tối đa nguồn lực đất đai, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất theo cơ chế đặc thù, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội.
– Đối với khu vực trung tâm có diện tích 930 ha, Thành phố điều chỉnh quy
hoạch gắn liền với tái cấu trúc việc phân bố đất đai, định hình các khu chức năng
hợp lí, gắn với chỉnh trang các khu dân cư hiện hữu, tăng giá trị sử dụng đất.
– Đối với các trục giao thông lớn, Uỷ ban nhân dân Thành phố đã phê duyệt đề
án “Quản lí và phương hướng sử dụng đất đai hiệu quả”. Theo đề án này, Thành
phố sẽ tạo cơ chế thu hồi diện tích đất liền kề các công trình hạ tầng để bán đấu
giá, nhằm khai thác tối đa giá trị tài nguyên đất đai.
– Đối với thành phố Thủ Đức, thành phố này đang phối hợp với Sở Quy hoạch
– Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lập quy hoạch chung xây dựng thành
phố Thủ Đức để trình Uỷ ban nhân dân Thành phố thông qua.
– Đối với 5 huyện (Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi, Cần Giờ), Sở Nội vụ
Thành phố Hồ Chí Minh vừa có tờ trình gửi Uỷ ban nhân dân Thành phố về công tác
xây dựng đề án chuyển các huyện thành quận (hoặc thành phố thuộc Thành phố Hồ
Chí Minh) trong giai đoạn 2021 – 2030. Việc phát triển các huyện thành quận tạo tiền
đề cần thiết để Thành phố chuyển đổi mục đích sử dụng đất hiệu quả hơn theo cơ
chế đặc thù từ Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về thí
điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

44

?

CÂU HỎI

Dựa vào bảng 1, em hãy nhận xét sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất của
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2019.
II. TÀI NGUYÊN NƯỚC
1. Đặc điểm tài nguyên nước của Thành phố Hồ Chí
Minh a. Nguồn nước trên mặt
Nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí
Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch khá dày đặc với tổng diện tích mặt nước
là 35 500 ha, mật độ 3,38 km/km 2.
Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều
sông khác, có lưu vực lớn khoảng 45 000 km2, lưu lượng bình quân 20 – 500
m³/s, hằng năm cung cấp 15 tỉ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn
nước ngọt chính của Thành phố.

Hình 1. Sông Sài Gòn
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP. HCM)

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua thành phố Thủ Dầu Một (tỉnh
Bình Dương) đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa
phận Thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54
m³/s, bề rộng của sông tại Thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m.

45

Sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy
ra Biển Đông bởi hai ngả chính là Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành
Rái chính là đường thuỷ chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn.
Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch
chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, Rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông,
Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hủ, Kênh Ðôi,…

Hình 2. Hệ thống kênh rạch tại Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP. HCM)

b. Nguồn nước ngầm
Khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có lượng nước ngầm khá phong
phú. Khu vực phía nam, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực
nội thành có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng sử dụng không tốt do bị ô
nhiễm bởi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, vẫn được khai thác
chủ yếu ở ba tầng: 0 – 20 m, 60 – 90 m và 170 – 200 m. Khu vực Quận 12, các
huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được
khai thác ở tầng 60 – 90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.
c. Chế độ thuỷ văn
Hầu hết kênh rạch và một phần hạ lưu các sông Đồng Nai, Sài Gòn đều chịu
ảnh hưởng của thuỷ triều. Tuỳ theo những điều kiện cụ thể (mùa, lưu lượng nước
sông,…), nước biển có thể ngược dòng xâm nhập đến tận Bình Dương (trên sông
Sài Gòn) và Long Đại (trên sông Đồng Nai).
?

CÂU HỎI
Kể tên một số con sông lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cho biết ý nghĩa

của các con sông với đời sống và sản xuất.

46

2. Bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên
nước a. Hiện trạng sử dụng tài nguyên nước
Nguồn nước đóng vai trò quan trọng đối với sự sống, nhưng cũng là đối tượng dễ bị tác
động, bị ô nhiễm khó phục hồi. Thành phố Hồ Chí Minh cùng với tốc độ đô thị hoá cao, kinh tế
phát triển nhanh đang phải đối mặt với các vấn đề ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng:
– Nước trên mặt: Nguồn nước ở Thành phố Hồ Chí Minh đang bị ô nhiễm nghiêm trọng:
nước sông Đồng Nai từ Hoá An về Cát Lái; khu vực Nhà Bè và vùng Cần Giờ đang bị

ô nhiễm vi sinh, ô nhiễm dầu mỡ. Trên sông Sài Gòn, nguồn nước đang bị ô nhiễm vi
sinh cao. Chất lượng nước của các kênh rạch trên địa bàn Thành phố chỉ đạt tiêu
chuẩn loại B và bị ô nhiễm vi sinh rất lớn. Bên cạnh đó là tình trạng ngập lụt trong
trung tâm Thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra cả trong mùa khô. Diện tích
khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm.
Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính khoảng 8 tỉ đồng mỗi năm.

Hình 3. Ô nhiễm nước trên
mặt tại kênh Tham Lương
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền
thông TP. HCM)

– Nước ngầm: Nguồn nước ngầm chủ yếu bị ô nhiễm nitơ, kim loại nặng, chất
độc và nhiễm mặn. Bên cạnh đó, lượng nước ngầm ở Thành phố Hồ Chí Minh
đang bị sụt giảm nghiêm trọng. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên
200 000 giếng khai thác nước ngầm, chiếm 56,61% tổng lượng nước khai thác
dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt.
Mật độ giếng khoan tập trung quá
dày ở nhiều khu vực nội và ngoại thành
đã tạo thành các phễu nước dày đặc,
khai thác nước quá mức, gây mất cân
đối trong việc bổ sung trữ lượng nước
ngầm, làm hạ thấp mực nước ngầm và
nhất là gây ra tình trạng các tầng nuớc
ngầm bị thấm và nhiễm bẩn, nhiễm
mặn ngày càng nhanh hơn.

Hình 7. Nước giếng khoan bị nhiễm phèn

47

b. Biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên nước
Để sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo cân bằng và phòng chống ô nhiễm tài
nguyên nước của Thành phố Hồ Chí Minh, cần thực hiện một số biện pháp sau:
– Thành phố Hồ Chí Minh cần sớm hoàn thành quy hoạch phát triển không gian
đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch các ngành nhằm đưa công tác phát
triển Thành phố hài hoà, thân thiện với môi trường (cơ chế phát triển xanh).
– Tăng cường các biện pháp bảo vệ chất lượng nước, chống ô nhiễm từ các
nguồn chất thải công nghiệp và sinh hoạt, bảo đảm các nguồn nước thải phải
được xử lí đạt quy chuẩn trước khi đổ vào các nguồn tiếp nhận.
– Đặc biệt, cần tăng cường nhận thức của cộng đồng về sử dụng nguồn nước
một cách khoa học, tiết kiệm và hợp lí, có hiệu quả, đảm bảo an toàn cung cấp đủ
nước cho mọi nhu cầu.
Ngoài ra để giải quyết nguy cơ thiếu nước sinh hoạt tại Thành phố Hồ Chí
Minh, có thể triển khai các biện pháp:
– Thay thế nước sinh hoạt từ sông Sài Gòn bằng nước của hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An.

– Xây dựng các hồ nhân tạo ở các vùng đất rãnh thấp để tích nước mưa.
– Tập trung xây dựng quy hoạch về quản lí chất thải rắn đô thị, triển khai
chương trình phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn,…
– Tiếp tục phát huy hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí chất thải.
?

CÂU HỎI
Phân tích nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước ở Thành phố Hồ Chí Minh.

III. TÀI NGUYÊN RỪNG
1. Đặc điểm tài nguyên rừng của Thành phố Hồ Chí Minh
Diện tích rừng và đất rừng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các huyện
ngoại thành như Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn. Thành phố Hồ Chí Minh
bao gồm 3 hệ sinh thái rừng: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh,
hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng úng phèn.
– Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh vốn có ở huyện Củ Chi và
thành phố Thủ Ðức. Những năm qua, cùng với việc khoanh nuôi bảo vệ những mảnh
rừng thứ sinh còn sót lại, chủ yếu là rừng chồi quanh các khu địa đạo Bến Dược, Bến
Ðình, Hố Bò ở huyện Củ Chi, đã bước đầu tiến hành nghiên cứu phục chế kiểu rừng
kín ẩm thường xanh, trồng rừng gỗ lớn, gỗ quý và gần đây đang mở ra dự án vườn
sưu tập thảo mộc, kết hợp với xây dựng hoàn chỉnh khu rừng lịch sử.

48

– Hệ sinh thái rừng ngập mặn tập trung ở huyện Cần Giờ vốn là rừng nguyên sinh,
xuất hiện đã lâu năm theo lịch sử của quá trình hình thành bãi bồi cửa sông ven biển;
sau các đợt khai quang rải chất độc hoá học của Mỹ trong chiến tranh, có tới 80%
diện tích rừng vùng này bị huỷ diệt, khiến đại bộ phận đất đai trở thành những trảng
cỏ cây bụi thứ sinh. Từ năm 1978, Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư trồng phục hồi
hàng chục ngàn ha rừng đước, chủ yếu tập trung vào khoảng thời gian 1978 – 1986.

Hình 5. Rừng ngập mặn Cần Giờ nhìn từ trên cao
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP. HCM)

Rừng ngập mặn Cần Giờ có tổng diện tích gần 76 nghìn ha, trong đó vùng lõi hơn 4,7
nghìn ha, vùng đệm 41 nghìn ha và vùng chuyển tiếp gần 30 nghìn ha. Với hệ động thực
vật đa dạng, độc đáo, đặc trưng. Rừng ngập mặn Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong
phòng chống thiên tai, là lá phổi xanh điều hoà thời tiết cho Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ
vị trí và tiềm năng đặc biệt, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là Khu dự
trữ sinh quyển thế giới đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2000.

– Hệ sinh thái rừng úng phèn khá nghèo nàn. Do khai thác và canh tác của con
người, rừng úng phèn hiện nay hầu như không còn nữa, chỉ sót lại số ít rặng cây ở
dạng chồi bụi. Từ sau năm 1975, phong trào trồng rừng và trồng cây phân tán của
nhân dân đã phát triển rất mạnh, nhờ vậy, môi trường sinh thái vùng ngập phèn ngoại
thành đã nhanh chóng được cải thiện và đang từng bước trở nên trù phú.

49

2. Bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên
rừng a. Hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng đối với khí quyển, đất đai, mùa màng,
cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm cùng nhiều lợi ích khác như điều
hoà nhiệt độ, nguồn nước, không khí; con người có thể sử dụng tài nguyên rừng
để khai thác, sử dụng hoặc chế biến những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời
sống. Tài nguyên rừng là loại tài nguyên có thể tái tạo, nhưng nếu sử dụng không
hợp lí thì tài nguyên rừng có thể bị suy thoái và không thể tái tạo.
ha
%

Hình 6. Biến động diện tích và độ che phủ rừng ở Thành phố Hồ Chí Minh,
giai đoạn 2014 – 2020

b. Biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên rừng
Trong thời gian qua, để bảo vệ, sử dụng hợp lí tài nguyên rừng, Thành phố đã
ban hành các chủ trương, chính sách quản lí rừng và đất lâm nghiệp như:
– Giao đất, giao rừng cho các đơn vị quốc doanh, tập thể, hộ nhân dân trồng
cây gây rừng và chăm sóc rừng.
– Quy định về cơ chế quản lí và vận dụng chính sách khuyến khích phát triển
sản xuất đối với nông – lâm – ngư nghiệp tại Cần Giờ.
– Ban hành quy chế tổ chức hoạt động của Ban Quản lí rừng phòng hộ môi
trường Thành phố.
– Quy định về khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng và trồng rừng
thuộc rừng phòng hộ môi trường, rừng đặc dụng Thành phố.
Sự quản lí Nhà nước về quy hoạch, bảo vệ và phát triển rừng của Thành phố
Hồ Chí Minh còn được thể hiện qua những nguyên tắc quản lí, sử dụng và phát
triển đối với 3 loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.

50

– Đối với rừng đặc dụng: Bảo tồn nguyên trạng, tạo ra môi trường tốt nhất để
bảo tồn và phát triển các loài động thực vật đặc hữu, các hệ sinh thái đặc thù
nhằm nâng cao chất lượng rừng và giá trị đa dạng sinh học.
– Đối với rừng phòng hộ: Phải xây dựng thành rừng tập trung, liền vùng và nhiều
tầng, chủ yếu thông qua tái sinh tự nhiên. Đối với rừng phòng hộ là rừng trồng, phải
có các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng để nâng cao chất lượng rừng và khả
năng phòng hộ của rừng. Quản lí rừng phòng hộ, cần kết hợp với sản xuất nông –
ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường,…

– Đối với rừng sản xuất: Chủ yếu theo hướng thâm canh, chú trọng đến năng
suất và chất lượng, đồng thời với việc kết hợp sản xuất nông – ngư nghiệp, du
lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và các dịch vụ môi trường khác.
?

CÂU HỎI

– Nhận xét sự biến động diện tích, độ che phủ rừng ở Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2014 – 2020.
– Tại sao vấn đề sử dụng hợp hợp lí và bảo vệ tài nguyên rừng lại có vai trò
rất quan trọng ở Thành phố Hồ Chí Minh?
IV. TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
1. Đặc điểm tài nguyên khoáng sản của Thành phố Hồ Chí Minh
Các tài liệu nghiên cứu địa chất từ trước đến nay đã khẳng định khoáng sản của
Thành phố Hồ Chí Minh khá đa dạng và phong phú, phổ biến và có ý nghĩa hơn cả là
khoáng sản vật liệu xây dựng, nguyên liệu gốm sứ và than bùn, tập trung ở các khu
vực như khu Long Bình (thành phố Thủ Đức), khu vực phía bắc Củ Chi,…

Khoáng sản ở thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành 3 nhóm chính:
Nhóm khoáng sản nhiên liệu gồm than bùn và than nâu. Than bùn phân bố rải
rác dọc các thung lũng sông và bãi lầy cửa sông, chiều dày nhỏ, chất lượng thấp.
Than nâu phân bố chủ yếu ở độ sâu từ 68,6 đến 236 m.
Nhóm khoáng sản kim loại rất ít triển vọng. Hiện nay, mới chỉ phát hiện một vài biểu
hiện khoáng hoá kim loại trong đá gốc nhưng phân bố ở độ sâu lớn khó khai thác.

Nhóm khoáng sản phi kim loại là nguyên liệu khoáng phổ biến và có ý nghĩa nhất
bao gồm nguyên liệu gốm sứ thuỷ tinh, vật liệu xây dựng và một số khoáng sản khác.
Ví dụ như: Sét cao lanh phân bố chủ yếu ở Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn. Sét gạch ngói
có ở mỏ Long Bình (thành phố Thủ Đức) là loại khoáng sản có nhiều triển vọng nhất.
2. Bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên khoáng
sản a. Hiện trạng sử dụng tài nguyên khoáng sản
Tuy nghiên cứu cho thấy Thành phố Hồ Chí Minh có tài nguyên khoáng sản khá đa
dạng và phong phú, nhưng các loại khoáng sản này chỉ có thể đáp ứng được một phần

51

nhỏ nhu cầu của thành phố. Hiện nay, việc khai thác sử dụng tài nguyên khoáng
sản
ở một số khu vực của thành phố còn tuỳ tiện không những gây lãng phí mà còn gây
“tàn phá” tài nguyên một cách nghiêm trọng. Hơn nữa, việc nghiên cứu các tài
nguyên khoáng sản chưa được coi trọng đúng mức, không được định hướng đúng
đắn dẫn đến việc thiếu đồng bộ giữa công tác điều tra và quy hoạch vùng kinh tế,
thiết kế công trình.

b. Biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên khoáng sản

Để đánh giá đầy đủ và khai thác sử dụng hợp lí có hiệu quả tài nguyên
khoáng sản tại chỗ của thành phố cần:
Quan tâm để tiếp tục đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản tổng hợp phục vụ
cho quy hoạch phân vùng kinh tế, xây dựng phương hướng phát triển lâu dài
của thành phố và tìm kiếm thăm dò đánh giá trữ lượng các mỏ khoáng sản đã
được phát hiện.

Nghiên cứu quy trình công nghệ khai thác chế biến sử dụng khoáng sản
trong lĩnh vực khác nhau của sản xuất và đời sống.
Rà soát quy hoạch các vùng cấm hoạt động khai thác khoáng sản và các
khu vực dự trữ khoáng sản trên toàn thành phố.
Các sở, ngành và Uỷ ban nhân dân quận, huyện tăng cường quản lí hoạt
động khoáng sản trên địa bàn; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; chấp
hành nghiêm quy định quản lí hoạt động khoáng sản nhất là khoáng sản làm
vật liệu xây dựng.
?

CÂU HỎI
Dựa vào thông tin mục IV, em hãy:
− Kể tên một số khoáng sản tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh và

cho biết đặc điểm phân bố của chúng.
− Nêu các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên khoáng sản
ở Thành phố Hồ Chí Minh.

LUYỆN TẬP
Em hãy vẽ sơ đồ tư duy thể hiện đặc điểm tài nguyên thiên nhiên ở Thành
phố Hồ Chí Minh.

VẬN DỤNG
Em hãy thiết kế một tấm poster kêu gọi bảo vệ và sử dụng hợp lí một
trong những tài nguyên thiên nhiên Thành phố Hồ Chí Minh mà em đã được
468x90
 
Gửi ý kiến