CHUYEN DE 2 LICH SU DANG DANG TA THAT LA VI DAI

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Ngày gửi: 10h:14' 13-10-2023
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 263
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Ngày gửi: 10h:14' 13-10-2023
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 263
Số lượt thích:
0 người
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HUYỆN ỦY TÂY HÒA
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ ĐẢNG
Chuyên đề 2
ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Giảng viên chuyên trách: Nguyễn Mạnh Thành
Tây Hòa, ngày 19 tháng 8 nam 2023
Cuốn sách gồm ba chuyên đề:
Chuyên đề 1: Đảng Cộng sản Việt Nam - sự lựa
chọn duy nhất của cách mạng Việt Nam.
Chuyên đề 2: Đường lối lãnh đạo của Đảng soi
sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Chuyên đề 3: Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của
nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác.
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng
Số trang: 187 trang
Giá tiền: 35.000 đ
Xuất bản: Tháng 6/2023
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1- Kiến thức chung
(1) Đảng lãnh đạo khơi dậy, nhân lên sức mạnh của cả dân
tộc, giải phóng nhân dân khỏi kiếp sống nô lệ, lật đổ chế độ
thực dân, phong kiến, thành lập nhà nước dân chủ nhân
dân đầu tiên ở Việt Nam (1930 – 1945) và lãnh đạo nhân
dân thực hiện hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ (1954 – 1975), bảo toàn thành quả
Cách mạng Tháng Tám, thống nhất đất nước
(2) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
2- Về kỹ năng
Học viên, thấy rõ và khẳng định một lần nữa vai trò của
Đảng trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Những
thành tựu đạt được của cách mạng Việt Nam trong hơn
90 năm qua không chỉ khẳng định sức mạnh của toàn
thể dân tộc, khẳng định con đường Việt Nam đang đi là
đúng hướng mà bao trùm tất cả, yếu tố quyết định mọi
thắng lợi, thành tựu chính là bản lĩnh, trí tuệ, năng lực
lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Trong giai
đoạn cách mạng mới hiện nay, Đảng cần không ngừng
nâng cao năng lực, bản lĩnh, trí tuệ để đáp ứng yêu cầu,
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
NỘI DUNG
I- ĐẢNG LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIẢI
PHÓNG DÂN TỘC
VÀ BẢO VỆ TỔ
QUỐC
II- SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
CỦA ĐẢNG ĐẠT THÀNH TỰU TO LỚN,
CÓ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
III- NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO
ĐẢM SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN
CỦA ĐẢNG
IĐẢNG
LÃNH
ĐẠO
SỰ NGHIỆP
GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC VÀ
BẢO VỆ TỔ
QUỐC
1. Đảng lãnh đạo nhân
dân đấu tranh giành
chính quyền (1930 1945)
2. Lãnh đạo xây dựng, bảo vệ
chính quyền cách mạng, kháng
chiến chống thực dân Pháp và
để quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ
độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước (1945 - 1975)
Trong những năm 1929 – 1933, tại các nước
tư bản đã diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế
với quy mô lớn, để lại những hậu quả nặng nề,
ảnh hưởng đến các nước thuộc địa, phụ
thuộc, làm cho hoạt động sản xuất bị đình đốn
1. Đảng
lãnh đạo
nhân dân
đấu tranh
giành
chính
quyền
(1930 1945)
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương
lĩnh chính trị đúng đắn đã nắm ngọn cờ
lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh chống
thực dân Pháp
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra Lời kêu gọi toàn
thể đồng bào đi theo Đảng làm cách mạng
chống đế quốc và tay sai, giành quyền sống,
trong đó chỉ rõ: “Sự áp bức và bóc lột vô nhân
đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta
hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có
cách mạng thì chết”
Các cấp ủy đảng ở cơ sở đã kịp thời lãnh đạo
Ban Chấp hành Nông hội đỏ ở thôn xã đứng ra
đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ của chính
quyền cách mạng
1. Đảng
lãnh đạo
nhân dân
đấu tranh
giành
chính
quyền
(1930 1945)
Về chính trị: phá bỏ luật lệ của chính quyền
cũ, ban bố quyền tự do, dân chủ cho nhân
dân.
Về kinh tế :thi hành tịch thu ruộng đất công
đem chia cho dân nghèo, bãi bỏ các thứ thuế
vô lý, xóa nợ cho người nghèo và thực hiện
giảm tô
Về văn hóa - xã hội: mở trường dạy chữ
Quốc ngữ, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, phổ
biến rộng rãi sách báo tổ chức cứu tế người
nghèo
Tháng
9/1930,
trong
Thông
tri gửi
Xứ ủy
Trung
Kỳ,
Trung
ương
Đảng
nêu rõ:
“bạo động riêng lẻ trong vài địa
phương trong lúc bây giờ là quá
sớm, là manh động”, cần phải
chuyển hướng hoạt động, giữ
vững lực lượng và ảnh hưởng của
Đảng, nên tiến hành một phong
trào đấu tranh rộng lớn “bảo vệ
Nghệ - Tĩnh đỏ”, chặn đứng khủng
bố trắng
Ngày 11/4/1931, Quốc tế Cộng sản ra
Nghị quyết công nhận Đảng Cộng sản
Đông Dương là Chi bộ độc lập
Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra Nghị quyết
công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một
chi bộ độc lập và đề nghị Đại hội VII Quốc tế
Cộng sản thông qua Nghị quyết này
Tháng 6/1932, Ban lãnh đạo Trung ương đã ban hành
Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông
Dương
Chương trình hành động đề ra bốn yêu cầu chung:
1. Đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân lao
động như tự do tổ chức, hội họp, ngôn luận, đi lại...
2. Thả hết tù chính trị, rút bỏ các đồn bốt, bãi bỏ
các toà án binh, hội đồng đề hình, bỏ các bộ luật
riêng cho người bản xứ.
3. Bỏ các loại thuế thân, thuế ngụ cư, thuế phụ và
các khoản thuế khác. Đặt ra thuế luỹ tiến, người
giàu phải nộp, người nghèo được miễn.
4. Bỏ độc quyền muối, rượu, thuốc phiện.
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Tháng 7/1936, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng họp Hội nghị
tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã
quyết định chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược, định ra đường lối,
phương pháp tổ chức và đấu
tranh trong thời kỳ mới
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Tháng 3/1937 và tháng
9/1937 tập trung bàn về công
tác tổ chức của Đảng, tiếp tục
củng cố tổ chức bí mật của
Đảng để giữ vững sự lãnh
đạo.
Tháng
10/1936,
chính quyền
thuộc địa
Đông
Dương phải
đưa ra một
số quy định
về quyền lợi
cho công
nhân và lao
động làm
thuê như
Ngày làm 8 giờ
Nghỉ ngày chủ nhật và hằng
năm nghỉ 10 ngày có lương
Thi hành một phần việc “ân
xá” tù chính trị
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Thông qua đó, cán bộ, đảng viên có
điều kiện tiếp xúc với quần chúng
công khai, hợp pháp, tuyên truyền
chủ nghĩa Mác - Lênin, và qua thực
tiễn đấu tranh hằng ngày, xây dựng
được đội quân chính trị hùng hậu,
hàng triệu người để tiến lên làm cách
mạng giải phóng dân tộc
Các tướng
lĩnh Pháp
bị bắt
trong
ngày Nhật
đảo chính
Pháp, ngà
y 9/3/1945.
Phát xít Nhật thay Pháp chi phối Đông Dương
Trước nguy cơ Chiến tranh thế giới thứ hai đến
gần, phát xít Nhật chuẩn bị chiếm Đông
Dương, Chính phủ Pháp ngả dần về phía cánh
hữu, chính quyền thuộc địa ra sức đàn áp
phong trào cách mạng ở Đông Dương
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Hội ở nghị Ban Chấp hành Trung ương
tháng 3/1938 đã xác định nhiệm vụ trung
tâm là thành lập Mặt trận dân chủ Đông
Dương, đề ra những chủ trương cụ thể
về vận động các tầng lớp nhân dân;
đồng thời, quyết định củng cố và phát
triển cơ sở Đảng, củng cố cơ quan lãnh
đạo của Đảng từ Trung ương đến địa
phương
Từ cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc từ
Liên Xô về Trung Quốc để chuẩn bị về
nước chỉ đạo phong trào đấu tranh
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ,
chính quyền Pháp ở Đông Dương thẳng tay khủng
bố đảng viên cộng sản và người liên quan
Toàn quyền Đông Dương Đờ Cu đón tướng Nhật
sau ngày Nhật đảo chính Pháp
Ngày 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu
hàng Nhật. Trong Thông cáo ngày 29/9/1939,
Trung ương Đảng nêu rõ: “tình hình đã thay đổi
nhiều. Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến
vấn đề dân tộc giải phóng”, cách mạng Đông
Dương sẽ tiến đến mục tiêu giải phóng dân tộc,
đồng thời chỉ thị cho toàn Đảng kịp thời rút vào bí
mật và chuyển hướng hoạt động.
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp vào
tháng 11/1939, tháng 11/1940 và tháng 5/1941, đã
nhận định tình hình, đề ra chủ trương chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược cách mạng. Về nhiệm vụ cách
mạng, Đảng xác định đặt nhiệm vụ chống đế quốc,
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vì “nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng
những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp
ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến
vạn năm cũng không đòi lại được”
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Về tập hợp lực lượng cách mạng, Hội nghị Trung
ương tháng 5/1941 chủ trương giải quyết vấn đề dân
tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương,
thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi
tắt là Việt Minh) “là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế
quốc Pháp”
Mọi chương trình, hoạt động của Việt Minh đều
nhằm mục đích giành độc lập dân tộc, giải phóng
nhân dân
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Về phương pháp, hình thức tiến hành cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc, Đảng xác định rõ là khởi
nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng
khởi nghĩa
công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ
trung tâm của cách mạng Đông Dương, cuộc đấu
tranh giành độc lập “phải kết liễu bằng một cuộc
khởi nghĩa võ trang”
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Về chính thể nhà nước sau khi cách mạng thành
công, Đảng ta xác định là Nhà nước dân chủ nhân
dân, quyền làm chủ là của mọi người dân Việt Nam
Về xây dựng Đảng, Đảng quan tâm đến việc “đủ
năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi
đến toàn thắng”, coi đây là nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng giải phóng dân tộc
Những chủ trương đúng đắn trên là nhân tố quan
trọng, quyết định góp phần vào thắng lợi của Tổng
khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Đây là con
đường cách mạng giải phóng dân tộc mà Cương
lĩnh chính trị đầu tiên đã chỉ ra (02/1930)
Ngày
25/10/1941,
Mặt trận Việt
Minh công bố
Tuyên ngôn,
Chương trình,
Điều lệ, nói rõ
tôn chỉ, mục
đích của Mặt
trận, đã tạo
sức thu hút to
lớn trong
quần chúng
nhân dân
Thông qua Mặt trận Việt Minh,
Đảng mở rộng các tổ chức quần
chúng và lãnh đạo nhiều cuộc đấu
tranh của công nhân, nông dân,
học sinh, tiểu thương ở nhiều địa
phương Bắc Kỳ và Trung Kỳ
hội Công nhân cứu quốc, Nông
dân cứu quốc, Phụ nữ cứu
quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự
vệ cứu quốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng, Võ Nguyên Giáp tại Chiến khu Việt Bắc
Để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, cuối tháng
02/1943 Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở
Võng La (Đông Anh, Phúc Yên) vạch kế hoạch cụ
thể xây dựng lực lượng cách mạng, chuẩn bị khởi
nghĩa vũ trang: phổ biến kinh nghiệm khởi nghĩa và
chiến thuật du kích; tổ chức và huấn luyện các đội
tự vệ, các tiểu tổ du kích; công tác vận động công
nhân tham gia khởi nghĩa
Năm 1943
Đến ngày
25/02/1944
Trong hai
năm 1943 1944
Đầu tháng
5/1944
Đảng ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam,
vũ trang cho toàn Đảng và những người hoạt
động văn hóa yêu nước phương hướng chống
lại văn hóa phát xít, phong kiến, chuẩn bị nền
tảng văn hóa của xã hội mới
Trung đội Cứu quốc quân III được thành lập gồm
30 người và trở thành lực lượng vũ trang nòng
cốt của trung tâm căn cứ địa Đại Từ - Định Hóa Sơn Dương
Phong trào cách mạng ở hai miền Bắc, Trung có
bước phát triển mới. Tổ chức của Việt Minh mở
rộng ở các thành thị và nông thôn. Cùng với việc
xây dựng lực lượng chính trị, Trung ương Đảng
lãnh đạo từng bước xây dựng lực lượng vũ trang
Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị Sửa soạn
khởi nghĩa
Ngày
22/12/1944
Tháng
4/1945
ngày
09/3/1945
Vào 23 giờ
ngày 13/8/1945
Tại núi Dền Sinh (Nguyên Bình, Cao Bằng), Đội Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Đồng chí Võ
Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí
Minh ủy nhiệm tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy đã đọc tuyên bố
thành lập và nêu rõ nhiệm vụ của Đội. Đây là tổ chức vũ
trang tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam
Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội
nghị quân sự Bắc Kỳ ở Hiệp Hòa (Bắc Giang),
quyết định thành lập 7 chiến khu
phát xít Nhật tiến hành đảo chính, lật đổ
thực dân Pháp ở Đông Dương
Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân
lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa
trong toàn quốc
từ ngày 14
đến ngày
15/8/1945
Hội nghị toàn quốc của Đảng diễn ra
tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên
Quang)
Ngày
16/8/1945
Đại hội Quốc dân diễn ra tại Tân Trào, đã tán
thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của
Đảng; thông qua Mười chính sách của Việt
Minh; thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng; định
Quốc kỳ, Quốc ca của nước Việt Nam mới
Ngày
28/8/1945
Ngày
02/9/1945
chính quyền hai tỉnh cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai
Thượng (thuộc tỉnh Lâm Đồng ngày nay) về tay nhân dân,
đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của Tổng khởi nghĩa trên
phạm vi cả nước
Tại cuộc míttinh lớn ở Hà Nội, thay mặt Chính phủ
lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn
độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ
nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
năm 1945
Đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam,
đưa người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở
thành người làm chủ đất nước. Đây cũng là thắng
lợi vĩ đại đầu tiên sau 15 năm cách mạng Việt Nam
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, “lần đầu tiên trong
lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa
thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách
mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”,
lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở
Đông Nam Á
Trong
cuộc vận
động giải
phóng
dân tộc
1939 –
1945, vai
trò lãnh
đạo quyết
định của
Đảng thể
hiện qua
những
nội dung
sau
Một là, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với
thắng lợi thuộc về phe Đồng minh, phát xít
Nhật bị thất bại nặng nề, các nước đế quốc tư
bản cũng bị suy yếu là điều kiện thuận lợi cho
tất cả các nước thuộc địa, phụ thuộc đứng lên
giành độc lập, nhưng chỉ có nhân dân Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương, đã đưa Việt Nam trở thành một
trong những quốc gia ở Đông Nam Á giành
được độc lập dân tộc
Hai là, cơ hội đó cũng trao cho tất cả các
đảng phái, lực lượng, tổ chức chính trị ở Việt
Nam lúc bấy giờ, nhưng cũng chỉ có Đảng
Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân
Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa giành
thắng lợi
Trong
cuộc vận
động giải
phóng
dân tộc
1939 –
1945, vai
trò lãnh
đạo quyết
định của
Đảng thể
hiện qua
những
nội dung
sau
Ba là, trên thực tế, không phải lực lượng
phát xít Nhật ở Việt Nam đã hoàn toàn
đầu hàng và sẵn sàng trao trả độc lập cho
nhân dân Việt Nam, thừa nhận Mặt trận
Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông
Dương
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết
quả của sự hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên
thời, địa lợi, nhân hòa”, thể hiện bản lĩnh,
trí tuệ của Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh, Mặt
trận Việt Minh cùng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc
2. Lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền cách
mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc
Mỹ xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước (1945 - 1975)
a) Từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”, giữ vững chính quyền
cách mạng trong những năm 1945 - 1946
03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra sáu
nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa nhằm giải quyết nạn đói, nạn dốt,
củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân
dân, tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng và ban
hành hiến pháp...
ngày
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến
kiến quốc
25/
11/
1945
Chỉ thị phân tích tình hình quốc tế, tình
thế trong nước, nhận định những khó
khăn, thuận lợi của cách mạng và xác
định: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc
này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải
phóng” với tinh thần “Dân tộc trên hết. Tổ
quốc trên hết”
Chỉ thị
xác định
kẻ thù
chính
của
nhân
dân
Đông
Dương
lúc này
là
“thực dân Pháp xâm lược phải tập trung
ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Chỉ thị
cũng
xác
định
các
nhiệm
vụ nội
chính
Quân sự
Chủ trương về ngoại giao
Chỉ thị
còn đề
ra các
biện
pháp
thực
hiện
Về chính quyền
Về kháng chiến ở Nam Bộ,
về phòng, phòng nạn đói
26/9/1945
Qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư
cho nhân dân Nam Bộ, khẳng định
quyết tâm kháng chiến của Trung
ương Đảng, Chính phủ và nhân dân
cả nước với niềm tin tưởng: “Chúng
ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh
đấu của chúng ta là chính đáng”
Ngày 06/01/1946
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội
trong cả nước
Chính phủ nước Việt Nam DCCH do
Quốc hội thành lập sau Tổng tuyển
cử, ngày 6/1/1946.
Toàn thể kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội
khóa I nước Việt Nam DCCH, ngày
6/1/1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố
Hàng Vôi, Hà Nội. Ảnh tư liệu
Ngày 09/11/1946
Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I đã thông qua
bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1946 1954)
Ngày 19/10/1946, Trung
ương Đảng triệu tập Hội
nghị quân sự toàn quốc,
xác định: “Pháp sẽ đánh
mình và mình cũng nhất
định phải đánh Pháp”.
Ngày 05/11/1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết văn
kiện: Công việc khẩn cấp
bây giờ, xác định tư
tưởng, chủ trương kháng
chiến, kiến quốc trong
tình hình mới
Chiều
ngày
19/12/1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh
đã thay mặt Trung
ương Đảng, Chính
phủ soạn Lời kêu
gọi toàn quốc
kháng chiến
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1946 1954)
Sự tài tình, sáng suốt của
Đảng được thể hiện ở
chỗ, mặc dù đối diện với
bối cảnh quốc tế và trong
nước không thuận lợi
nhưng Đảng đã chủ động,
sớm hoạch định đường
lối kháng chiến đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn đất
nước, yêu cầu của cuộc
kháng chiến
Đường lối kháng
chiến của Đảng
được
bổ sung,
hoàn chỉnh trong
thực tiễn cuộc
kháng chiến. Đảng
kế thừa, phát triển
truyền thống dân
tộc,
từ
truyền
thống dựng nước
gắn liền với giữ
nước
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Một là, phát huy tinh
thần, sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, bằng
sức mạnh nội lực, từng
bước đưa đất nước thoát
khỏi thế “ngàn cân treo
sợi tóc”; chủ động bước
vào cuộc kháng chiến
toàn quốc trường kỳ vừa
đánh vừa xây dựng
chuyển hóa lực lượng để
dần đưa kháng chiến
phát triển
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Hai là, thắng lợi của chiến
dịch phản công Việt Bắc
thu đông năm 1947 đã làm
thất bại hoàn toàn chiến
lược “đánh nhanh, thắng
nhanh” của thực dân Pháp,
chuyển cuộc kháng chiến
từ thế phòng ngự sang thế
cầm cự, giằng co.
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Ba là, thắng lợi trên mặt
trận ngoại giao đầu năm
1950 qua chuyến thăm bí
mật của Chủ tịch Hồ Chí
Minh tới Trung Quốc,
Liên Xô, dẫn đến việc
Trung Quốc, Liên Xô, các
nước xã hội chủ nghĩa
công nhận và chính thức
đặt quan hệ ngoại giao
với nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Bốn là, chiến năm 1950
đã khai thông cả về ngoại
giao, quân sự, hoàn toàn
phá thế bị bao vây, nối
cuộc kháng chiến chính
nghĩa của Việt Nam với
nhân dân tiến bộ thế giới
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Năm là, chiến thắng Điện Biên Phủ
(1954) tạo lợi thế cho Việt Nam tại bàn
đàm phán Hội nghị Giơnevơ với kết quả
là Hiệp định đình chỉ chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Đông Dương được ký kết
(7/1954), cam kết tôn trọng độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của các nước trên bán đảo Đông
Dương. Cuộc kháng chiến trường kỳ
chống thực dân Pháp xâm lược đã kết
thúc thắng lợi vẻ vang của chiến dịch
Biên mới thu đông
c) Lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Sau Hiệp định
Giơnevơ năm
1954 về Đông
Dương,
đất
nước
Việt
Nam tạm thời
chia làm hai
miền
Nam
Bắc với hai
chế độ chính
trị - xã hội
khác nhau
Miền Bắc được giải phóng, về
cơ bản hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, tạo
điều kiện bước vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên
chính quyền Việt Nam Cộng hòa,
nhằm biến miền Nam thành thuộc
địa kiểu mới và căn cứ quân sự
của Mỹ, xóa bỏ phong trào cách
mạng, ngăn chặn “làn sóng đỏ”,
chống lại phong trào giải phóng dân
tộc ở khu vực Đông Nam Á
HUYỆN ỦY TÂY HÒA
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ ĐẢNG
Chuyên đề 2
ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Giảng viên chuyên trách: Nguyễn Mạnh Thành
Tây Hòa, ngày 19 tháng 8 nam 2023
Cuốn sách gồm ba chuyên đề:
Chuyên đề 1: Đảng Cộng sản Việt Nam - sự lựa
chọn duy nhất của cách mạng Việt Nam.
Chuyên đề 2: Đường lối lãnh đạo của Đảng soi
sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Chuyên đề 3: Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của
nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác.
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng
Số trang: 187 trang
Giá tiền: 35.000 đ
Xuất bản: Tháng 6/2023
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1- Kiến thức chung
(1) Đảng lãnh đạo khơi dậy, nhân lên sức mạnh của cả dân
tộc, giải phóng nhân dân khỏi kiếp sống nô lệ, lật đổ chế độ
thực dân, phong kiến, thành lập nhà nước dân chủ nhân
dân đầu tiên ở Việt Nam (1930 – 1945) và lãnh đạo nhân
dân thực hiện hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ (1954 – 1975), bảo toàn thành quả
Cách mạng Tháng Tám, thống nhất đất nước
(2) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
2- Về kỹ năng
Học viên, thấy rõ và khẳng định một lần nữa vai trò của
Đảng trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Những
thành tựu đạt được của cách mạng Việt Nam trong hơn
90 năm qua không chỉ khẳng định sức mạnh của toàn
thể dân tộc, khẳng định con đường Việt Nam đang đi là
đúng hướng mà bao trùm tất cả, yếu tố quyết định mọi
thắng lợi, thành tựu chính là bản lĩnh, trí tuệ, năng lực
lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Trong giai
đoạn cách mạng mới hiện nay, Đảng cần không ngừng
nâng cao năng lực, bản lĩnh, trí tuệ để đáp ứng yêu cầu,
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
NỘI DUNG
I- ĐẢNG LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIẢI
PHÓNG DÂN TỘC
VÀ BẢO VỆ TỔ
QUỐC
II- SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
CỦA ĐẢNG ĐẠT THÀNH TỰU TO LỚN,
CÓ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
III- NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO
ĐẢM SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN
CỦA ĐẢNG
IĐẢNG
LÃNH
ĐẠO
SỰ NGHIỆP
GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC VÀ
BẢO VỆ TỔ
QUỐC
1. Đảng lãnh đạo nhân
dân đấu tranh giành
chính quyền (1930 1945)
2. Lãnh đạo xây dựng, bảo vệ
chính quyền cách mạng, kháng
chiến chống thực dân Pháp và
để quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ
độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước (1945 - 1975)
Trong những năm 1929 – 1933, tại các nước
tư bản đã diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế
với quy mô lớn, để lại những hậu quả nặng nề,
ảnh hưởng đến các nước thuộc địa, phụ
thuộc, làm cho hoạt động sản xuất bị đình đốn
1. Đảng
lãnh đạo
nhân dân
đấu tranh
giành
chính
quyền
(1930 1945)
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương
lĩnh chính trị đúng đắn đã nắm ngọn cờ
lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh chống
thực dân Pháp
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra Lời kêu gọi toàn
thể đồng bào đi theo Đảng làm cách mạng
chống đế quốc và tay sai, giành quyền sống,
trong đó chỉ rõ: “Sự áp bức và bóc lột vô nhân
đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta
hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có
cách mạng thì chết”
Các cấp ủy đảng ở cơ sở đã kịp thời lãnh đạo
Ban Chấp hành Nông hội đỏ ở thôn xã đứng ra
đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ của chính
quyền cách mạng
1. Đảng
lãnh đạo
nhân dân
đấu tranh
giành
chính
quyền
(1930 1945)
Về chính trị: phá bỏ luật lệ của chính quyền
cũ, ban bố quyền tự do, dân chủ cho nhân
dân.
Về kinh tế :thi hành tịch thu ruộng đất công
đem chia cho dân nghèo, bãi bỏ các thứ thuế
vô lý, xóa nợ cho người nghèo và thực hiện
giảm tô
Về văn hóa - xã hội: mở trường dạy chữ
Quốc ngữ, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, phổ
biến rộng rãi sách báo tổ chức cứu tế người
nghèo
Tháng
9/1930,
trong
Thông
tri gửi
Xứ ủy
Trung
Kỳ,
Trung
ương
Đảng
nêu rõ:
“bạo động riêng lẻ trong vài địa
phương trong lúc bây giờ là quá
sớm, là manh động”, cần phải
chuyển hướng hoạt động, giữ
vững lực lượng và ảnh hưởng của
Đảng, nên tiến hành một phong
trào đấu tranh rộng lớn “bảo vệ
Nghệ - Tĩnh đỏ”, chặn đứng khủng
bố trắng
Ngày 11/4/1931, Quốc tế Cộng sản ra
Nghị quyết công nhận Đảng Cộng sản
Đông Dương là Chi bộ độc lập
Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra Nghị quyết
công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một
chi bộ độc lập và đề nghị Đại hội VII Quốc tế
Cộng sản thông qua Nghị quyết này
Tháng 6/1932, Ban lãnh đạo Trung ương đã ban hành
Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông
Dương
Chương trình hành động đề ra bốn yêu cầu chung:
1. Đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân lao
động như tự do tổ chức, hội họp, ngôn luận, đi lại...
2. Thả hết tù chính trị, rút bỏ các đồn bốt, bãi bỏ
các toà án binh, hội đồng đề hình, bỏ các bộ luật
riêng cho người bản xứ.
3. Bỏ các loại thuế thân, thuế ngụ cư, thuế phụ và
các khoản thuế khác. Đặt ra thuế luỹ tiến, người
giàu phải nộp, người nghèo được miễn.
4. Bỏ độc quyền muối, rượu, thuốc phiện.
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Tháng 7/1936, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng họp Hội nghị
tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã
quyết định chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược, định ra đường lối,
phương pháp tổ chức và đấu
tranh trong thời kỳ mới
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Tháng 3/1937 và tháng
9/1937 tập trung bàn về công
tác tổ chức của Đảng, tiếp tục
củng cố tổ chức bí mật của
Đảng để giữ vững sự lãnh
đạo.
Tháng
10/1936,
chính quyền
thuộc địa
Đông
Dương phải
đưa ra một
số quy định
về quyền lợi
cho công
nhân và lao
động làm
thuê như
Ngày làm 8 giờ
Nghỉ ngày chủ nhật và hằng
năm nghỉ 10 ngày có lương
Thi hành một phần việc “ân
xá” tù chính trị
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Thông qua đó, cán bộ, đảng viên có
điều kiện tiếp xúc với quần chúng
công khai, hợp pháp, tuyên truyền
chủ nghĩa Mác - Lênin, và qua thực
tiễn đấu tranh hằng ngày, xây dựng
được đội quân chính trị hùng hậu,
hàng triệu người để tiến lên làm cách
mạng giải phóng dân tộc
Các tướng
lĩnh Pháp
bị bắt
trong
ngày Nhật
đảo chính
Pháp, ngà
y 9/3/1945.
Phát xít Nhật thay Pháp chi phối Đông Dương
Trước nguy cơ Chiến tranh thế giới thứ hai đến
gần, phát xít Nhật chuẩn bị chiếm Đông
Dương, Chính phủ Pháp ngả dần về phía cánh
hữu, chính quyền thuộc địa ra sức đàn áp
phong trào cách mạng ở Đông Dương
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Hội ở nghị Ban Chấp hành Trung ương
tháng 3/1938 đã xác định nhiệm vụ trung
tâm là thành lập Mặt trận dân chủ Đông
Dương, đề ra những chủ trương cụ thể
về vận động các tầng lớp nhân dân;
đồng thời, quyết định củng cố và phát
triển cơ sở Đảng, củng cố cơ quan lãnh
đạo của Đảng từ Trung ương đến địa
phương
Từ cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc từ
Liên Xô về Trung Quốc để chuẩn bị về
nước chỉ đạo phong trào đấu tranh
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ,
chính quyền Pháp ở Đông Dương thẳng tay khủng
bố đảng viên cộng sản và người liên quan
Toàn quyền Đông Dương Đờ Cu đón tướng Nhật
sau ngày Nhật đảo chính Pháp
Ngày 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu
hàng Nhật. Trong Thông cáo ngày 29/9/1939,
Trung ương Đảng nêu rõ: “tình hình đã thay đổi
nhiều. Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến
vấn đề dân tộc giải phóng”, cách mạng Đông
Dương sẽ tiến đến mục tiêu giải phóng dân tộc,
đồng thời chỉ thị cho toàn Đảng kịp thời rút vào bí
mật và chuyển hướng hoạt động.
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp vào
tháng 11/1939, tháng 11/1940 và tháng 5/1941, đã
nhận định tình hình, đề ra chủ trương chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược cách mạng. Về nhiệm vụ cách
mạng, Đảng xác định đặt nhiệm vụ chống đế quốc,
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vì “nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng
những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp
ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến
vạn năm cũng không đòi lại được”
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Về tập hợp lực lượng cách mạng, Hội nghị Trung
ương tháng 5/1941 chủ trương giải quyết vấn đề dân
tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương,
thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi
tắt là Việt Minh) “là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế
quốc Pháp”
Mọi chương trình, hoạt động của Việt Minh đều
nhằm mục đích giành độc lập dân tộc, giải phóng
nhân dân
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Về phương pháp, hình thức tiến hành cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc, Đảng xác định rõ là khởi
nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng
khởi nghĩa
công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ
trung tâm của cách mạng Đông Dương, cuộc đấu
tranh giành độc lập “phải kết liễu bằng một cuộc
khởi nghĩa võ trang”
1. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
(1930 - 1945)
Về chính thể nhà nước sau khi cách mạng thành
công, Đảng ta xác định là Nhà nước dân chủ nhân
dân, quyền làm chủ là của mọi người dân Việt Nam
Về xây dựng Đảng, Đảng quan tâm đến việc “đủ
năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi
đến toàn thắng”, coi đây là nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng giải phóng dân tộc
Những chủ trương đúng đắn trên là nhân tố quan
trọng, quyết định góp phần vào thắng lợi của Tổng
khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Đây là con
đường cách mạng giải phóng dân tộc mà Cương
lĩnh chính trị đầu tiên đã chỉ ra (02/1930)
Ngày
25/10/1941,
Mặt trận Việt
Minh công bố
Tuyên ngôn,
Chương trình,
Điều lệ, nói rõ
tôn chỉ, mục
đích của Mặt
trận, đã tạo
sức thu hút to
lớn trong
quần chúng
nhân dân
Thông qua Mặt trận Việt Minh,
Đảng mở rộng các tổ chức quần
chúng và lãnh đạo nhiều cuộc đấu
tranh của công nhân, nông dân,
học sinh, tiểu thương ở nhiều địa
phương Bắc Kỳ và Trung Kỳ
hội Công nhân cứu quốc, Nông
dân cứu quốc, Phụ nữ cứu
quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự
vệ cứu quốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng, Võ Nguyên Giáp tại Chiến khu Việt Bắc
Để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, cuối tháng
02/1943 Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở
Võng La (Đông Anh, Phúc Yên) vạch kế hoạch cụ
thể xây dựng lực lượng cách mạng, chuẩn bị khởi
nghĩa vũ trang: phổ biến kinh nghiệm khởi nghĩa và
chiến thuật du kích; tổ chức và huấn luyện các đội
tự vệ, các tiểu tổ du kích; công tác vận động công
nhân tham gia khởi nghĩa
Năm 1943
Đến ngày
25/02/1944
Trong hai
năm 1943 1944
Đầu tháng
5/1944
Đảng ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam,
vũ trang cho toàn Đảng và những người hoạt
động văn hóa yêu nước phương hướng chống
lại văn hóa phát xít, phong kiến, chuẩn bị nền
tảng văn hóa của xã hội mới
Trung đội Cứu quốc quân III được thành lập gồm
30 người và trở thành lực lượng vũ trang nòng
cốt của trung tâm căn cứ địa Đại Từ - Định Hóa Sơn Dương
Phong trào cách mạng ở hai miền Bắc, Trung có
bước phát triển mới. Tổ chức của Việt Minh mở
rộng ở các thành thị và nông thôn. Cùng với việc
xây dựng lực lượng chính trị, Trung ương Đảng
lãnh đạo từng bước xây dựng lực lượng vũ trang
Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị Sửa soạn
khởi nghĩa
Ngày
22/12/1944
Tháng
4/1945
ngày
09/3/1945
Vào 23 giờ
ngày 13/8/1945
Tại núi Dền Sinh (Nguyên Bình, Cao Bằng), Đội Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Đồng chí Võ
Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí
Minh ủy nhiệm tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy đã đọc tuyên bố
thành lập và nêu rõ nhiệm vụ của Đội. Đây là tổ chức vũ
trang tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam
Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội
nghị quân sự Bắc Kỳ ở Hiệp Hòa (Bắc Giang),
quyết định thành lập 7 chiến khu
phát xít Nhật tiến hành đảo chính, lật đổ
thực dân Pháp ở Đông Dương
Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân
lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa
trong toàn quốc
từ ngày 14
đến ngày
15/8/1945
Hội nghị toàn quốc của Đảng diễn ra
tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên
Quang)
Ngày
16/8/1945
Đại hội Quốc dân diễn ra tại Tân Trào, đã tán
thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của
Đảng; thông qua Mười chính sách của Việt
Minh; thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng; định
Quốc kỳ, Quốc ca của nước Việt Nam mới
Ngày
28/8/1945
Ngày
02/9/1945
chính quyền hai tỉnh cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai
Thượng (thuộc tỉnh Lâm Đồng ngày nay) về tay nhân dân,
đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của Tổng khởi nghĩa trên
phạm vi cả nước
Tại cuộc míttinh lớn ở Hà Nội, thay mặt Chính phủ
lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn
độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ
nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
năm 1945
Đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam,
đưa người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở
thành người làm chủ đất nước. Đây cũng là thắng
lợi vĩ đại đầu tiên sau 15 năm cách mạng Việt Nam
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, “lần đầu tiên trong
lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa
thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách
mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”,
lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở
Đông Nam Á
Trong
cuộc vận
động giải
phóng
dân tộc
1939 –
1945, vai
trò lãnh
đạo quyết
định của
Đảng thể
hiện qua
những
nội dung
sau
Một là, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với
thắng lợi thuộc về phe Đồng minh, phát xít
Nhật bị thất bại nặng nề, các nước đế quốc tư
bản cũng bị suy yếu là điều kiện thuận lợi cho
tất cả các nước thuộc địa, phụ thuộc đứng lên
giành độc lập, nhưng chỉ có nhân dân Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương, đã đưa Việt Nam trở thành một
trong những quốc gia ở Đông Nam Á giành
được độc lập dân tộc
Hai là, cơ hội đó cũng trao cho tất cả các
đảng phái, lực lượng, tổ chức chính trị ở Việt
Nam lúc bấy giờ, nhưng cũng chỉ có Đảng
Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân
Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa giành
thắng lợi
Trong
cuộc vận
động giải
phóng
dân tộc
1939 –
1945, vai
trò lãnh
đạo quyết
định của
Đảng thể
hiện qua
những
nội dung
sau
Ba là, trên thực tế, không phải lực lượng
phát xít Nhật ở Việt Nam đã hoàn toàn
đầu hàng và sẵn sàng trao trả độc lập cho
nhân dân Việt Nam, thừa nhận Mặt trận
Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông
Dương
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết
quả của sự hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên
thời, địa lợi, nhân hòa”, thể hiện bản lĩnh,
trí tuệ của Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh, Mặt
trận Việt Minh cùng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc
2. Lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền cách
mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp và để quốc
Mỹ xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước (1945 - 1975)
a) Từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”, giữ vững chính quyền
cách mạng trong những năm 1945 - 1946
03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra sáu
nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa nhằm giải quyết nạn đói, nạn dốt,
củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân
dân, tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng và ban
hành hiến pháp...
ngày
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến
kiến quốc
25/
11/
1945
Chỉ thị phân tích tình hình quốc tế, tình
thế trong nước, nhận định những khó
khăn, thuận lợi của cách mạng và xác
định: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc
này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải
phóng” với tinh thần “Dân tộc trên hết. Tổ
quốc trên hết”
Chỉ thị
xác định
kẻ thù
chính
của
nhân
dân
Đông
Dương
lúc này
là
“thực dân Pháp xâm lược phải tập trung
ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Chỉ thị
cũng
xác
định
các
nhiệm
vụ nội
chính
Quân sự
Chủ trương về ngoại giao
Chỉ thị
còn đề
ra các
biện
pháp
thực
hiện
Về chính quyền
Về kháng chiến ở Nam Bộ,
về phòng, phòng nạn đói
26/9/1945
Qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư
cho nhân dân Nam Bộ, khẳng định
quyết tâm kháng chiến của Trung
ương Đảng, Chính phủ và nhân dân
cả nước với niềm tin tưởng: “Chúng
ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh
đấu của chúng ta là chính đáng”
Ngày 06/01/1946
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội
trong cả nước
Chính phủ nước Việt Nam DCCH do
Quốc hội thành lập sau Tổng tuyển
cử, ngày 6/1/1946.
Toàn thể kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội
khóa I nước Việt Nam DCCH, ngày
6/1/1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố
Hàng Vôi, Hà Nội. Ảnh tư liệu
Ngày 09/11/1946
Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I đã thông qua
bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1946 1954)
Ngày 19/10/1946, Trung
ương Đảng triệu tập Hội
nghị quân sự toàn quốc,
xác định: “Pháp sẽ đánh
mình và mình cũng nhất
định phải đánh Pháp”.
Ngày 05/11/1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết văn
kiện: Công việc khẩn cấp
bây giờ, xác định tư
tưởng, chủ trương kháng
chiến, kiến quốc trong
tình hình mới
Chiều
ngày
19/12/1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh
đã thay mặt Trung
ương Đảng, Chính
phủ soạn Lời kêu
gọi toàn quốc
kháng chiến
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1946 1954)
Sự tài tình, sáng suốt của
Đảng được thể hiện ở
chỗ, mặc dù đối diện với
bối cảnh quốc tế và trong
nước không thuận lợi
nhưng Đảng đã chủ động,
sớm hoạch định đường
lối kháng chiến đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn đất
nước, yêu cầu của cuộc
kháng chiến
Đường lối kháng
chiến của Đảng
được
bổ sung,
hoàn chỉnh trong
thực tiễn cuộc
kháng chiến. Đảng
kế thừa, phát triển
truyền thống dân
tộc,
từ
truyền
thống dựng nước
gắn liền với giữ
nước
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Một là, phát huy tinh
thần, sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, bằng
sức mạnh nội lực, từng
bước đưa đất nước thoát
khỏi thế “ngàn cân treo
sợi tóc”; chủ động bước
vào cuộc kháng chiến
toàn quốc trường kỳ vừa
đánh vừa xây dựng
chuyển hóa lực lượng để
dần đưa kháng chiến
phát triển
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Hai là, thắng lợi của chiến
dịch phản công Việt Bắc
thu đông năm 1947 đã làm
thất bại hoàn toàn chiến
lược “đánh nhanh, thắng
nhanh” của thực dân Pháp,
chuyển cuộc kháng chiến
từ thế phòng ngự sang thế
cầm cự, giằng co.
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Ba là, thắng lợi trên mặt
trận ngoại giao đầu năm
1950 qua chuyến thăm bí
mật của Chủ tịch Hồ Chí
Minh tới Trung Quốc,
Liên Xô, dẫn đến việc
Trung Quốc, Liên Xô, các
nước xã hội chủ nghĩa
công nhận và chính thức
đặt quan hệ ngoại giao
với nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Bốn là, chiến năm 1950
đã khai thông cả về ngoại
giao, quân sự, hoàn toàn
phá thế bị bao vây, nối
cuộc kháng chiến chính
nghĩa của Việt Nam với
nhân dân tiến bộ thế giới
b) Lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)
Từ đường lối
đúng
đắn,
Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo
cuộc
kháng
chiến
từng
bước
giành
được
những
thắng lợi quyết
định
Năm là, chiến thắng Điện Biên Phủ
(1954) tạo lợi thế cho Việt Nam tại bàn
đàm phán Hội nghị Giơnevơ với kết quả
là Hiệp định đình chỉ chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Đông Dương được ký kết
(7/1954), cam kết tôn trọng độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của các nước trên bán đảo Đông
Dương. Cuộc kháng chiến trường kỳ
chống thực dân Pháp xâm lược đã kết
thúc thắng lợi vẻ vang của chiến dịch
Biên mới thu đông
c) Lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Sau Hiệp định
Giơnevơ năm
1954 về Đông
Dương,
đất
nước
Việt
Nam tạm thời
chia làm hai
miền
Nam
Bắc với hai
chế độ chính
trị - xã hội
khác nhau
Miền Bắc được giải phóng, về
cơ bản hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, tạo
điều kiện bước vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên
chính quyền Việt Nam Cộng hòa,
nhằm biến miền Nam thành thuộc
địa kiểu mới và căn cứ quân sự
của Mỹ, xóa bỏ phong trào cách
mạng, ngăn chặn “làn sóng đỏ”,
chống lại phong trào giải phóng dân
tộc ở khu vực Đông Nam Á







SAO TẢI VỀ MÀ KHÔNG CHO SỬA NHỈ