Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Ông tổ nghề thêu - Lê Công Hành

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Đào Duy Hùng
Ngày gửi: 11h:39' 18-11-2023
Dung lượng: 20.1 MB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích: 0 người
Lịch sử

Ông tổ nghề
thêu
Lê Công Hành
NOTE TO
SELF

Thuyết trình: Vũ Đào Duy Hùng (lớp 8C)

I, Ông tổ Lê Công
Hành

Theo thần phả của họ Bùi Trần gốc Mạc ở
Quất Động thì Lê Công Hành vốn thuộc dòng dõi
nhà Mạc. Năm 1546, Mạc Hiến Tông băng hà, triều
đình nhà Mạc nổ ra biến loạn. Quân Nam triều nhân
cơ hội nhà Mạc suy yếu, nhiều lần tiến quân ra Bắc
đánh phá. Hoàng thất nhà Mạc tan tác khắp nơi,
Quý phi Bùi Thị Ban đưa Mạc Phúc Đăng (con thứ
của Mạc Hiến Tông) chạy tránh loạn về định cư ở
thôn Quất Động, về sau đổi thành họ Bùi và họ Trần,
lập nên chi họ Bùi Trần ở Quất Động.

Lê Công Hành chính tên là Trần Quốc Khái, sinh
ngày 18 tháng Giêng năm Bính Ngọ(tức ngày 24
tháng 2 năm 1606), tại làng Quất Động, huyện
Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay
là thôn Quất Động, xã Quất Động, huyện
Thường Tín, Hà Nội). Mạc Phúc Đăng là con bà
Bùi Thị Ban về lánh nạn ở làng Quất Động. Tại
đây, Mạc Phúc Đăng sinh con là Mạc Phúc Đồ.
Mạc Phúc Đồ lại là ông nội của Trần Quốc Khái. Vì
ông được cho làm con nuôi của một người họ Bùi
trong làng, nên còn có tên là Bùi Quốc Khái, sau
đổi tên thành Công Hành.

Tương truyền, từ nhỏ ông đã có tiếng ham học và
hay chữ. Lớn lên, ông thi đỗ Tiến sĩ (vào khoảng
triều vua Lê Thần Tông hoặc Lê Chân Tông). Sau
khi ra làm quan, ông được triều đình bổ dụng vào
các chức vụ từ biên quận đến triều đình, thăng
dần lên hàng Thượng thư, từng được cử đi sứ
nhà Minh. Do lập được nhiều công trạng, ông
được triều đình ban cho Kim tử Vinh Lộc Đại phu,
chức Tả thị lang bộ Công, tước Thanh Lương hầu,
được vua ban quốc tính. Do đó mà ông có tên Lê
Công Hành.

Ông mất ngày 12 tháng Sáu năm Tân Sửu
(7/7/1661),thọ 56 tuổi, được triều đình truy
tặng hàm Thượng thư Thái bảo Lương Quận
công. Ngày giỗ hàng năm của ông được xem là
lễ giỗ tổ nghề của những làng sinh sống bằng
nghề thêu tại Việt Nam.

II, Những câu chuyện chuyện lịch sử về
ông
1, Nổi tiếng hay
chữ

Chuyện kể rằng hồi còn nhỏ, cậu bé Khái đã rất ham học. Cậu học cả khi đốn củi, lúc kéo
vó tôm. Tối đến, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng đọc
sách. Khái học đến đâu thuộc đến đấy và nổi tiếng hay chữ một vùng. Năm 18 tuổi, thanh
niên trai tráng trong làng đều bị lý dịch bắt đi phu đắp đê sông Hồng. Vì sức yếu không vác
nổi những hòn đất to, Khái bị phạt, phải chôn chân ở mặt đê từ sáng đến trưa. Giữa lúc đó,
viên quan coi đê đi qua thấy một thanh niên mặt mũi khôi ngô, lấy làm lạ nên dừng chân
hỏi: “Ngươi bị tội gì mà phải chôn chân?”. Khái lễ phép thưa: “Tôi là học trò, không vác nổi
những hòn đất đá to nên bị phạt”.
Viên quan cũng có chút chữ nghĩa, liền cười nói: “Ngươi là học trò à? Ta ra một vế đối, đối
được thì ta tha cho”. Khái gật đầu xin vâng. Viên quan liền đọc: "Ông quan thị, cắm đường
cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy". Vế ra khá oái oăm, có tên bốn thứ quả gồm thị,
chuối tiêu, hồng và quả cậy. Khái ứng khẩu đối lại ngay: "Trai Quất Động, thi đỗ bảng nhãn,
phù quân vương, phỉ chí mới cam". Vế đối lại cũng đủ bốn thứ quả quýt, nhãn, bồ quân và
cam. Nghe xong viên quan gật đầu khen ngợi, cho về. Từ đấy, Khái càng nổi tiếng hay chữ.
Sau đó, Trần Quốc Khái lều chõng đi thi và đỗ tiến sĩ đời vua Lê Chân Tông, giữ chức quan
to trong triều đình nhà Lê.

2, Học nghề từ lần đi sứ phương
Bắc

Năm Bính Tuất (1646), ông được cử đi sứ nhà Minh. Để thử tài sứ thần nước Nam, quan quân nhà Minh không dẫn
ông đi đường chính mà lại dẫn theo đường tắt. Đến một vùng rừng núi và thung lũng thì hết lương ăn, ông bèn
cho chặt tre, đan thành những cái dậm, sai quân lính xuống suối kiếm cá và lên rừng tìm trái cây. Nhờ vậy, đoàn
sứ bộ của ta vượt qua quãng đường rừng núi mà vẫn khỏe mạnh như thường. Sau khi hoàn thành công việc ngoại
giao, vua Minh muốn thử tài trí của sứ thần một lần nữa, bèn sai dựng một cái lầu cao chót vót rồi mời ông lên
chơi. Trần Quốc Khái vừa lên tới nơi, quân Minh dưới đất cất thang đi. Ở trên lầu suốt một ngày, ông chẳng thấy ai
đem cơm nước đến. Đưa mắt nhìn quanh, ông chỉ thấy có cái bàn thờ. Trước bàn thờ, hai cái lọng xanh, đỏ trông
rất đẹp; trên cao treo bức nghi môn diềm màn thêu rồng phượng và nổi 3 chữ “Phật tại tâm” (Phật ở trong lòng).
Ông Phật Di lặc, bụng to, sơn đen được đặt giữa bệ bàn thờ. Dưới chân bệ, một cái chum to đựng nước cúng và
trong góc dựng hai cây tre, một con dao, hoàn toàn không có thức ăn. Một ngày trôi qua, bụng đói mà không có
cơm ăn, chỉ có chum nước, ông nghĩ có nước uống tất phải có cái ăn. Quay ra ngắm bức tượng, tò mò xem thử
xem nó làm bằng gì, ông lấy móng tay cậy vào lưng Phật thì thấy bật ra một mảng con, lấy tay bóp vụn ra được
như bột. Ông đưa lên miệng nhấm thử thì thấy ngọt, hóa ra tượng làm từ bột bánh khảo (có tài liệu nói rằng
tượng nặn bằng bột chè lam). Từ đó ngày hai bữa, ông cứ bẻ dần tượng Phật mà ăn. Ngồi không buồn quá, Trần
Quốc Khái bèn chẻ tre, vót nan, quan sát kỹ cách làm lọng và nhập tâm các chi tiết. Khi đã biết cách làm lọng rồi,
ông lại hạ bức trướng xuống, tháo các đường chỉ kim tuyến xem cách thêu, rồi lại dùng chỉ đó thêu vào. Lúc hoàn
tất, ông ngắm nghía thấy nét chữ thêu giống hệt như cũ. Ăn hết pho tượng và uống gần hết chum nước, Trần
Quốc Khái tìm cách xuống. Buổi chiều ngồi ngắm trời mây, thấy những con dơi xòe cánh chao đi chao lại như
chiếc lá, ông nghĩ đến hai cái lọng cắm trên lầu, rồi ôm lọng nhảy xuống đất bình an vô sự. Trước tài trí ứng xử
linh hoạt của sứ thần Đại Việt, triều đình nhà Minh vô cùng kính phục, bày tiệc lớn tiễn đưa đoàn sứ về nước.
Bằng sự tài trí và ứng xử ngoại giao không ngoan, sau khi về nước, Trần Quốc Khái được phong tước, thăng lên
chức Công bộ thượng thư thái bảo, được đổi họ Lê nên mới có tên khác nữa là Lê Công Hành.

3, Ghi nhớ công đức
Ông được cho là đã dạy cho người làng Quất Động những kỹ thuật thêu và
làm lọng tân tiến hơn mà ông đã tiếp thu được trong chuyến đi sứ sang
Trung Quốc. Từ đó, nghề thêu và làm lọng trở nên phát triển hơn, lan dần
ra nhiều làng nghề trên khắp cả nước. Để ghi nhớ công đức của ông,
người dân làng nghề tại Thường Tín lập nên Đền Ngũ Xã (do dân 5 xã lập).
Trong đền có tấm bia Vũ Du Tiên sư bi ký ghi lại sự tích của tổ nghề thêu.
Ngoài ra còn còn có một số đền thờ khác như như đình Tú Thị ở số 4 phố
Yên Thái, quận Hoàn Kiếm, hoặc đền thờ ở phố Hàng Lọng (nay thuộc khu
vực đường Nam Bộ) nay không còn, đình làng Nhị Khê thờ Tổ nghề tiện Lê
Công Hành...

Cảm ơn mọi người
đã lắng bài thuyết
trình của mình
 
Gửi ý kiến