Tìm kiếm Bài giảng
Bài 33. Kiểm tra tổng hợp cuối năm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngân
Ngày gửi: 07h:50' 23-03-2024
Dung lượng: 177.1 KB
Số lượt tải: 13
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngân
Ngày gửi: 07h:50' 23-03-2024
Dung lượng: 177.1 KB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ 6.
I. Đọc - hiểu. Đọc ngữ liệu sau đây
và thực hiện các yêu cầu bên dưới.
Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa,
quyết định tặng thận...
[...] Tháng 3- 2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một
quả thận cho một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình.
Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy
thận nhiều năm và cần được ghép thận để tiếp tục
được sống.
[...] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định
hiến tặng đến khi lên bàn mổ, bà Thảo đã phải hơn
10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh
viện Việt Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con
gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm 2016 khi mẹ con
bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của
việc hiến tặng mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau
bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi vội vã trở
về ngay trong đêm... Nếu có ai hỏi về chuyện hiến
thận đã qua, bà chỉ phẩy tay cười:
“Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi,
bây giờ tôi chẳng phải đang rất khỏe là gì...”.
Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo,
giờ đây có thêm hai gia đình được hạnh phúc vì
người thân của họ khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh,
gia đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn
của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng
hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về
quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi
mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kỳ
lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới
thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ chỉ
muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ
hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào
định danh được!
(Trích Hai mẹ con cùng hiến thận, Lan Anh,
Báo Tuổi Trẻ ngày 31/5/2018)
Câu 1: Xác định PTBĐ chính của ngữ liệu.
- Nghị luận.
Câu 2: Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử
dụng trong đoạn trích.
- “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường
với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang rất
khỏe là gì…”
Câu 3: Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua
đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài,
như chúng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về
việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một
phần thân thể của mình.
a. Về cấu trúc, câu trên thuộc kiểu câu gì?
- Câu ghép
b. Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử
dụng trong câu trên.
- Phép tu từ: so sánh “như”
- Tác dụng:
+ Khẳng định giá trị của những vết thương mà hai
mẹ con phải chịu đựng.
+ Hai vết sẹo ấy là bằng chứng sáng rõ nhất của tinh
thần làm việc thiện, sẵn sàng cho đi một phần thân
thể của mình mà không cần đáp lại.
Khẳng định tinh thần hiến dâng, biết sống vì
người khác của hai mẹ con.
Câu 4. Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người
kỳ lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi
mới thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ
chỉ muốn tăng quà một cách vô tư để nhận lại một
thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể
nào định danh được!
a. Xác định thành phần biệt lập có trong câu trên.
- Thành phần biệt lập tình thái: Có lẽ
b. Theo em thứ hạnh phúc tinh thần mà người
viết không thể nào định danh được là gì?
b. Theo em thứ hạnh phúc tinh thần mà người
viết không thể nào định danh được là gì?
- Đó là niềm vui và hạnh phúc của việc cho đi, của
tinh thần sẻ chia, biết sống vì người khác, biết yêu
thương với những số phận bất hạnh trong cuộc
đời.
II. Tạo lập văn bản
Câu 1.
II. Tạo lập văn bản
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần đọc - hiểu,
em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ theo cách
lập luận tổng - phân - hợp, bàn về tâm niệm của
Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời sông cần có một
tấm lòng”. Trong đó, sử dụng ít nhất 2 phép liên
kết. (Gọi tên và xác định từ ngữ liên kết)
Gợi ý tham khảo.
1. Mở đoạn: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn:
a. Giải thích: “Tấm lòng”: Là tình cảm, sự quan
tâm, chia sẻ yêu thương với mọi người xung quanh;
hay đơn giản là biết cảm thông và động lòng trắc ẩn
trước những cảnh ngộ, những mảnh đời.
Tâm niệm của Trịnh Công Sơn nhắn nhủ con
người sống trên đời sống, cần phải biết quan tâm,
chia sẻ, biết giúp đỡ động viên mọi người xung
quanh; có như vậy cuộc sống mới trở nên đáng yêu,
đáng quý, tươi đẹp và giàu ý nghĩa.
b. Bàn luận:
- Sự cần thiết của một tấm lòng trong đời sống:
+ Trong cuộc sống, không phải ai cũng luôn gặp
những điều may mắn, không phải ai cũng thành
công ngay từ lần đầu tiên và...không phải ai sinh
ra cũng đều hạnh phúc.
+ Đó chính là lí do tại sao chúng ta cần “tấm
lòng”, sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống
+ Tấm lòng cũng như tình yêu thương của con
người với con người. Đời sống chỉ có ý nghĩa khi
Đời sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết cho đi
tấm lòng của mình thật trong sáng, vô tư, không
vụ lợi, vẩn đục,không tô vẽ, ghi danh...
- Tấm lòng trong cuộc sống hôm nay?
+ Ngày nay con người luôn ý thức về sự cần thiết
của tấm lòng. Các tổ chức nhân đạo ra đời và liên
tục mở rộng quy mô góp phần giảm bớt những
tổn thất, xoa dịu những nỗi đau, hàn gắn rạn nứt
trong quan hệ xã hội, đặc biệt trong tâm hồn con
người.
+ Bên cạnh đó, cuộc sống vẫn còn quá nhiều
bất ổn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, hiểm họa từ
thiên nhiên, từ chính lòng tham và sự đố kị,
ích kỉ, thói nhẫn tâm của con người vẫn tồn
tại trong cuộc sống.
+ Phê phán lối sống ích kỉ, vô cảm, thờ ơ...
3. Kết đoạn: Khái quát lại vấn đề nghị luận.
- Tâm niệm của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không
chỉ nêu lên sự cần thiết của một tấm lòng trong
đời sống, mà còn nói lên cách ứng xử đầy nhân
văn của con người.
- Phải biết cho cuộc đời này những gì tốt đẹp
nhất: sự yêu thương, trân trọng, cảm thông giúp
đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần mà không
vì mục đích vụ lợi, hi vọng được báo đáp, trả ơn…
Câu 2. Phân tích tình cảm của ông Sáu dành cho
con gái qua đoạn trích dưới đây
[...] Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu,
anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên
khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được
quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mĩ, đập
mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà
thành từng miếng nhỏ. Những lúc rồi, anh cưa
từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công
như người thợ bạc... Một ngày anh chưa được một
vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn
thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba
phân rưỡi... cây lược chỉ có một hàng răng thưa.
Trên sống lưng có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh
đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng
Thu con của ba”... Những đêm nhớ con, .... anh lấy
cây lược ra ngắm nghía, rồi mài lên tóc cho cây
lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng
mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không
may xảy ra... Anh bị viên đạn của máy bay Mỹ bắn
vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ
sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con
là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây
lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không
đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến
bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu. Tôi cúi xuống
gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi
xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng)
Hướng dẫn học tập
- Đọc lại tài liệu gợi ý câu 2.II (Đề 6)
- Làm hoàn chỉnh phần II: Tạo lập văn bản.
- Tìm hiểu phần gợi ý của đề 7.
I. Đọc - hiểu. Đọc ngữ liệu sau đây
và thực hiện các yêu cầu bên dưới.
Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa,
quyết định tặng thận...
[...] Tháng 3- 2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một
quả thận cho một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình.
Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy
thận nhiều năm và cần được ghép thận để tiếp tục
được sống.
[...] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định
hiến tặng đến khi lên bàn mổ, bà Thảo đã phải hơn
10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh
viện Việt Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con
gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm 2016 khi mẹ con
bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của
việc hiến tặng mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau
bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi vội vã trở
về ngay trong đêm... Nếu có ai hỏi về chuyện hiến
thận đã qua, bà chỉ phẩy tay cười:
“Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi,
bây giờ tôi chẳng phải đang rất khỏe là gì...”.
Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo,
giờ đây có thêm hai gia đình được hạnh phúc vì
người thân của họ khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh,
gia đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn
của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng
hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về
quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi
mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kỳ
lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới
thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ chỉ
muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ
hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào
định danh được!
(Trích Hai mẹ con cùng hiến thận, Lan Anh,
Báo Tuổi Trẻ ngày 31/5/2018)
Câu 1: Xác định PTBĐ chính của ngữ liệu.
- Nghị luận.
Câu 2: Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử
dụng trong đoạn trích.
- “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường
với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang rất
khỏe là gì…”
Câu 3: Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua
đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài,
như chúng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về
việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một
phần thân thể của mình.
a. Về cấu trúc, câu trên thuộc kiểu câu gì?
- Câu ghép
b. Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử
dụng trong câu trên.
- Phép tu từ: so sánh “như”
- Tác dụng:
+ Khẳng định giá trị của những vết thương mà hai
mẹ con phải chịu đựng.
+ Hai vết sẹo ấy là bằng chứng sáng rõ nhất của tinh
thần làm việc thiện, sẵn sàng cho đi một phần thân
thể của mình mà không cần đáp lại.
Khẳng định tinh thần hiến dâng, biết sống vì
người khác của hai mẹ con.
Câu 4. Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người
kỳ lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi
mới thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ
chỉ muốn tăng quà một cách vô tư để nhận lại một
thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể
nào định danh được!
a. Xác định thành phần biệt lập có trong câu trên.
- Thành phần biệt lập tình thái: Có lẽ
b. Theo em thứ hạnh phúc tinh thần mà người
viết không thể nào định danh được là gì?
b. Theo em thứ hạnh phúc tinh thần mà người
viết không thể nào định danh được là gì?
- Đó là niềm vui và hạnh phúc của việc cho đi, của
tinh thần sẻ chia, biết sống vì người khác, biết yêu
thương với những số phận bất hạnh trong cuộc
đời.
II. Tạo lập văn bản
Câu 1.
II. Tạo lập văn bản
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần đọc - hiểu,
em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ theo cách
lập luận tổng - phân - hợp, bàn về tâm niệm của
Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời sông cần có một
tấm lòng”. Trong đó, sử dụng ít nhất 2 phép liên
kết. (Gọi tên và xác định từ ngữ liên kết)
Gợi ý tham khảo.
1. Mở đoạn: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn:
a. Giải thích: “Tấm lòng”: Là tình cảm, sự quan
tâm, chia sẻ yêu thương với mọi người xung quanh;
hay đơn giản là biết cảm thông và động lòng trắc ẩn
trước những cảnh ngộ, những mảnh đời.
Tâm niệm của Trịnh Công Sơn nhắn nhủ con
người sống trên đời sống, cần phải biết quan tâm,
chia sẻ, biết giúp đỡ động viên mọi người xung
quanh; có như vậy cuộc sống mới trở nên đáng yêu,
đáng quý, tươi đẹp và giàu ý nghĩa.
b. Bàn luận:
- Sự cần thiết của một tấm lòng trong đời sống:
+ Trong cuộc sống, không phải ai cũng luôn gặp
những điều may mắn, không phải ai cũng thành
công ngay từ lần đầu tiên và...không phải ai sinh
ra cũng đều hạnh phúc.
+ Đó chính là lí do tại sao chúng ta cần “tấm
lòng”, sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống
+ Tấm lòng cũng như tình yêu thương của con
người với con người. Đời sống chỉ có ý nghĩa khi
Đời sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết cho đi
tấm lòng của mình thật trong sáng, vô tư, không
vụ lợi, vẩn đục,không tô vẽ, ghi danh...
- Tấm lòng trong cuộc sống hôm nay?
+ Ngày nay con người luôn ý thức về sự cần thiết
của tấm lòng. Các tổ chức nhân đạo ra đời và liên
tục mở rộng quy mô góp phần giảm bớt những
tổn thất, xoa dịu những nỗi đau, hàn gắn rạn nứt
trong quan hệ xã hội, đặc biệt trong tâm hồn con
người.
+ Bên cạnh đó, cuộc sống vẫn còn quá nhiều
bất ổn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, hiểm họa từ
thiên nhiên, từ chính lòng tham và sự đố kị,
ích kỉ, thói nhẫn tâm của con người vẫn tồn
tại trong cuộc sống.
+ Phê phán lối sống ích kỉ, vô cảm, thờ ơ...
3. Kết đoạn: Khái quát lại vấn đề nghị luận.
- Tâm niệm của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không
chỉ nêu lên sự cần thiết của một tấm lòng trong
đời sống, mà còn nói lên cách ứng xử đầy nhân
văn của con người.
- Phải biết cho cuộc đời này những gì tốt đẹp
nhất: sự yêu thương, trân trọng, cảm thông giúp
đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần mà không
vì mục đích vụ lợi, hi vọng được báo đáp, trả ơn…
Câu 2. Phân tích tình cảm của ông Sáu dành cho
con gái qua đoạn trích dưới đây
[...] Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu,
anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên
khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được
quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mĩ, đập
mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà
thành từng miếng nhỏ. Những lúc rồi, anh cưa
từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công
như người thợ bạc... Một ngày anh chưa được một
vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn
thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba
phân rưỡi... cây lược chỉ có một hàng răng thưa.
Trên sống lưng có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh
đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng
Thu con của ba”... Những đêm nhớ con, .... anh lấy
cây lược ra ngắm nghía, rồi mài lên tóc cho cây
lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng
mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không
may xảy ra... Anh bị viên đạn của máy bay Mỹ bắn
vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ
sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con
là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây
lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không
đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến
bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu. Tôi cúi xuống
gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi
xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng)
Hướng dẫn học tập
- Đọc lại tài liệu gợi ý câu 2.II (Đề 6)
- Làm hoàn chỉnh phần II: Tạo lập văn bản.
- Tìm hiểu phần gợi ý của đề 7.
 








Các ý kiến mới nhất