KNTT 8. Ôn tập viết

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hương
Ngày gửi: 17h:15' 08-05-2024
Dung lượng: 952.3 KB
Số lượt tải: 140
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hương
Ngày gửi: 17h:15' 08-05-2024
Dung lượng: 952.3 KB
Số lượt tải: 140
Số lượt thích:
0 người
VIẾT BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN PHÂN TÍCH MỘT
TÁC PHẨM (TRUYỆN)
Phần III. ÔN TẬP KĨ NĂNG VIẾT
I. ÔN TẬP LÝ THUYẾT
1. Yêu cầu của kiểu bài
- Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về
tác phẩm.
- Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm.
- Nêu được chủ đề của tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm (như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật,
ngôi kể, ngôn ngữ, …); tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật
nhất của tác phẩm.
- Sử dụng các bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong
bài viết.
- Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện.
2. Dàn ý chung
Mở
bài
- Giới thiệu khái quát ngắn gọn về tác giả và tác phẩm truyện.
- Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm truyện.
++ Cách 1: Giới thiệu khái quát về tác giả (vị trí, đặc điểm sáng tác –
trong trường hợp là một giả mới lạ, dựa vào phần chú thích để giới
thiệu), về tác phẩm (vị trí của truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác;
ý kiến khái quát về tác phẩm truyện: Truyện viết về đề tài gì? Nói
lên chủ đề gì? Ấn tượng về đặc sắc nghệ thuật?)
++ Cách 2: Dẫn dắt một ý kiến lí luận bàn về truyện ngắn rồi dẫn
đến tác phẩm truyện cần phân tích, trích dẫn.
2. Dàn ý chung
- Ý 1: Nêu nội dung chính của tác phẩm.
+ Nội dung của truyện là gì?
+ Nội dung ấy được thể hiện như thế nào qua hệ thống nhân vật,
sự kiện?
- Ý 2: Nêu chủ đề của tác phẩm:
Thân bài (Lưu ý: Một tác phẩm truyện có thể có nhiều chủ đề khác nhau)
- Ý 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật của tác phẩm:
+ Chỉ ra những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện.
+ Chỉ đi sâu khai thác, phân tích một số yếu tố nghệ thuật đặc sắc,
tiêu biểu để bài viết không bị dàn trải, có chiều sâu.
Kết bài Kết bài: Khẳng định vị trí ý nghĩa của tác phẩm.
Bảng kiểm đánh giá kĩ năng viết bài văn phân tích
một tác phẩm truyện
Tiêu chí
MB Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả).
Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
TB Nêu nội dung chính của tác phẩm.
Nêu chủ đề của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề
tác phẩm.
Chỉ ra và phân tích một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm. Tập trung vào một số yếu tố
nghệ thuật nổi bật nhất của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ đặc sắc
vể hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Đạt
Chưa đạt
Bảng kiểm đánh giá kĩ năng viết bài văn phân tích
một tác phẩm truyện
Tiêu chí
Đạt Chưa
đạt
KB
Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Kĩ năng, Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng hợp lí.
trình bày Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
diễn đạt Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn đạt.
Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên kết các ý.
PHIẾU CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Nội dung lỗi cần sửa
Phát hiện lỗi
Thiếu ý
về ý và trình tự Sắp xếp lại ý lộn xộn
triển khai ý
Sửa lại các ý lạc đề
Sửa lại các ý tản mạn
Phát hiện sửa Lỗi dùng từ
lỗi diễn đạt
Lỗi viết câu
Lỗi chính tả
Lỗi chính tả
Sửa lỗi
II. THỰC HÀNH
VIẾT
Đề 1: Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê).
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Lê Minh Khuê là cây bút nữ trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ. Các tác phẩm của bà xoay quanh cuộc sống, chiến đấu của những
cô thanh niên xung phong.
- Những ngôi sao xa xôi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của
bà, kể về cuộc sống chiến đấu của ba cô gái trên tuyến đường Trường
Sơn trong những năm tháng chống Mỹ vô cùng ác liệt.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của truyện ngắn:
Truyện kể về cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu của ba cô gái: Thao, Nho,
Phương Định. Ba cô thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom trên cao
điểm ác liệt. Máy bay ném bom, ba cô gái ra đường phá bom, bom nổ, Nho bị
thương. Phương Định và Thao chăm sóc vết thương cho Nho. Một cơn mưa đá
đột ngột trút xuống cao điểm khiến ba cô gái thích thú. Trong một đêm yên
tĩnh, Phương Định và Nho ngắm nhìn đoàn quân ra trận, tình yêu đồng đội trào
dâng.
2.2. Nêu chủ đề của truyện ngắn
- Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, tính cách dũng cảm, hồn nhiên và cuộc
sống chiến đấu nhiều gian khổ, hi sinh nhưng vẫn lạc quan của những nữ thanh
niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.
- Từ đó, ca ngợi vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ.
2. Thân bài:
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Các đặc sắc nghệ thuật:
- Nghệ thuật kể chuyện sinh động, hấp dẫn: lựa chọn ngôi kể phù hợp; cách kể
chuyện tự nhiên.
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc, chủ yếu khám phá thế giới nội tâm của
nhân vật tinh tế, sắc sảo.
- Ngôn ngữ và giọng điệu: Ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật kể chuyện –
một cô gái thanh niên xung phong trẻ trung người Hà Nội – tạo cho tác phẩm có
giọng điệu và ngôn ngữ tự nhiên, gần với khẩu ngữ, trẻ trung và có chất nữ tính.
- Lời kể rất linh hoạt: Có khi dùng những câu văn ngắn, câu tỉnh lược, câu đặc
biệt, nhịp nhanh phù hợp với không khí căng thẳng, khẩn trương nơi chiến trường.
Những đoạn hồi tưởng nhịp kể chậm rãi, gợi những kỷ niệm của tuổi niên thiếu
hồn nhiên, vô tư và không khí thanh bình trước chiến tranh.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí: Miêu tả tâm lí nhân vật “tôi”
(Phương Định)
+ Nhân vật tự quan sát và đánh giá về mình ở phần đầu truyện: Ở phần đầu
truyện, cô tự quan sát và đánh giá về mình rằng: “Tôi là một cô gái khá. Hai
bím tóc dày…cái nhìn sao mà xa xăm”; được nhiều anh hỏi thăm nhưng chưa
dành tình cảm cho ai.
Đó là những nét tâm lí rất tự nhiên và phù hợp với nhân vật bởi Phương
Định chỉ vừa mới bước qua tuổi học trò hồn nhiên, vô tư.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí: Miêu tả tâm lí nhân vật “tôi”
(Phương Định)
+ Tâm trạng của Phương Định trong một lần phá bom: Tâm trạng “tôi” ở
đoạn này được miêu tả hết sức chi tiết và chân thực. Khi đến gần quả bom cô
cũng sợ nhưng “cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình”, lòng dũng
cảm, lòng tự trọng trong cô được kích thích nên cô “không sợ nữa”. Và khi
đã ở bên quả bom, kề sát với cái chết có thể đến tức khắc, từng cảm giác của
cô như cũng trở nên sắc nhọn hơn và căng như dây đàn. Cô có nghĩ đến cái
chết nhưng là cái chết rất mờ nhạt, không cụ thể. Khi bom nổ, dù ngực đau
nhói, “mắt cay mãi mới mở ra được” nhưng cô vẫn chạy ngay tới chỗ bom
nổ.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí: Miêu tả tâm lí nhân vật “tôi”
(Phương Định)
+ Cảm xúc trước trận mưa đá ở cuối truyện: Khi cơn mưa đá ập đến, cô vui
thích cuống cuồng chạy ra nhặt đá, say sưa tận hưởng cơn mưa hồn nhiên
như một đứa trẻ. Một dòng kí ức cùng nỗi nhớ da diết về gia đình, về thành
phố thân thương trào dâng trong trí nhớ cô.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Nghệ thuật sử dụng ngôi kể:
Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất và những người kể chuyện cũng
là nhân vật chính. Sự lựa chọn ngôi kể như vậy phù hợp với nội dung tác
phẩm và tạo thuận lợi để tác phẩm miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn,
những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật. Để cho nhân vật là người trong
cuộc kể lại thì câu chuyện sẽ thật hơn, cụ thể và sinh động hơn, tạo cho
người đọc cảm giác tin vào câu chuyện hơn. Và ở đây, truyện viết về chiến
tranh, tất nhiên phải có bom đạn, chiến đấu, hy sinh, nhưng trong truyện này,
hiện lên khá rõ là thế giới nội tâm của các cô gái thanh niên xung phong với
vẻ đẹp tâm hồn của một thế hệ thời kháng chiến chống Mỹ. Đó cũng là do
cách lựa chọn và
kể của tác giả – nhất là vai kể ở đây lại là một cô gái trẻ Hà Nội có cá tính
nhiều mộng mơ với những kỉ niệm đẹp của thời thiếu nữ. Ngôi kể này cũng
tạo ra một điểm nhìn phù hợp để miêu tả hiện thực của cuộc chiến đấu ở một
trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn, làm cho câu chuyện chân thực
hơn. Ngôi thứ nhất, người kể là Phương Đinh, nhân vật chính trong tác phẩm
thuận lợi trong việc biểu hiện thế giới tâm hồn cảm xúc; suy nghĩ của nhân
vật, đồng thời phù hợp với nội dung tác phẩm tăng tính chân thực cho câu
chuyện.
Đề 1: Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê).
Gợi ý lập dàn ý
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa và giá trị của truyện ngắn.
- Truyện ngắn đã làm sống lại trong lòng người đọc một thời kì chiến
tranh gian khó, khốc liệt, làm nổi bật lên hình ảnh những nữ thanh niên
xung phong trẻ trung, nhiệt huyết, gan dạ, kiên cường.
- Hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường
Trường Sơn đã đem đến cho thế hệ trẻ hôm nay bài học về lòng dũng
cảm, anh dũng chiến đấu, sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho quê hương,
đất nước.
Đề 2: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật
của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Văn bản truyện: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Tiếng trống thu không1 trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa
để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh
hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt
trên nền trời.
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran
ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt
đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng
tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn
ngây thơ của chị: Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác
trước cái giờ khắc của ngày tàn.
- Em thắp đèn lên chị Liên nhé?
Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả lời:
- Hẵng thong thả một lát nữa cũng được. Em ra ngồi đây với chị kẻo muỗi.
An bỏ bao diêm xuống bàn cùng chị ra ngoài chỏng ngồi; chiếc chỏng nan lún
xuống và kêu cót két.
- Cái chỏng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
- Ừ để rồi chị bảo mẹ mua cái khác thay vào.
Hai chị em gượng nhẹ ngồi yên nhìn ra phố. Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo
trong nhà bác phở Mĩ, đèn Hoa Kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh
trong hiệu khách... Những nguồn ánh sáng đều chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh
từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối.
Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ
còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng
của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng
của đất, của quê hương này. Một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng
hóa, đòn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa.
Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm
tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng
được của các người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương
nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.
Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu
đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra; chị Tí, mẹ nó, theo
sau, đội cái chõng trên đầu và tay mang không biết bao nhiêu là đồ đạc: tất
cả cái cửa hàng của chị.
- Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?
Chị Tí để chõng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chép
miệng trả lời Liên:
- Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì.
[...] Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng,
từ chập tối cho đến đêm.
Ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên tạt ra thăm hàng một lần, và bà dặn hễ cứ
trống thu không là phải đóng cửa hàng lại. Thế mà Liên mải ngồi nhìn phố
quên mất! Bây giờ Liên vội vàng vào thắp đèn, xếp những quả sơn đen lại,
trong lúc An đi tìm then để cài cửa cho chắc chắn. Cái cửa hàng hai chị em
trông coi - là một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà
bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc. Một gian hàng bé thuê lại của bà
lão móm ngăn ra bằng một tấm phên nứa dán giấy nhật trình. Mẹ Liên giao
cho Liên trông coi - bà còn bận làm hàng xáo - và buổi tối thì hai chị em
cùng ngủ đây để trông hàng.
Liên đếm lại những phong thuốc lào, xếp vào hòm các bánh xà phòng còn
lại, vừa lẩm nhẩm tính tiền hàng. Hôm nay ngày phiên mà bán cũng chẳng
ăn thua gì.
- Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không?
An ngẫm nghĩ rồi đáp:
- Vâng, bà ta mua hai bánh, còn cụ Chi lấy chịu nửa bánh nữa.
Liên với cái bàn tính để cộng số tiền. Nhưng trong hàng nóng và muỗi quá, chị
ngần ngại rồi xếp hết cả tiền vào tráp không tính nữa:
- Thôi, để mai tính một thể.
An nhìn chị, chỉ đợi lúc ấy. Hai chị em cùng vội muốn đóng cửa hàng để lại ra
ngoài kia, ngồi trên chỏng ngắm nhìn phong cảnh ngoài phố. [...]
- A, cô bé làm gì thế?
Nghe câu nói tiếp theo một tiếng cười khanh khách, chị em Liên không cần
ngoảnh mặt ra cũng biết là ai đã vào hàng. Đó là cụ Thi, một bà già hơi điên, vẫn
mua rượu ở hàng Liên. Liên đã biết tính bà, chị lẳng lặng rót một cút rượu ti đầy
đưa cho cụ; chị không dám nhìn mặt cụ, và trong lòng hơi run sợ, chị mong cho cụ
chóng đi. Cụ cầm cút rượu soi lên rồi cười gịn giã nói:
- A, em Liên thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây.
Cụ ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch, rồi vừa chép miệng vừa lần ruột
tượng trả tiền - Cụ để ba đồng xu vào tay Liên, xoa đầu chị một cái rồi lảo đảo
bước ra ngoài. Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ đi lần vào bóng tối, tiếng
cười khanh khách nhỏ dần về phía làng.
***
Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát.
Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng im
ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng.
Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn
nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai
chị em đành ngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về
muộn, từ từ đi trong đêm. [...] An trỏ tay bảo chị:
- Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.
Tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rơ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em: bác
Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống, nhóm lại lửa, thổi
vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài
đến tận hàng rào hai bên ngơ. An là Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở
cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị
em không bao giờ mua được. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng
những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi bờ hồ
uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỷ niệm nhớ lại không rõ rệt, chỉ
là một vùng sáng rực và lấp lánh. Hà Nội nhiều đèn quá! Từ khi nhà Liên dọn
về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên
chiếc chõng tre dưới gốc bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh.
Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa. Tối hết cả, con đường
thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngơ vào làng lại sẫm đen
hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu
sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ,
thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu
nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên
manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có
khách nghe.[...]. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng
cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.
***
An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để
thức khuya chút nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải
thức đến khi tàu xuống - đường sắt đi ngang qua ngay trước mặt phố - để bán
hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi đêm, Liên
không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm hay
gói thuốc là cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn
chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt
động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người
Liên; chị ngồi yên không động đậy.[...].
Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên tiếng:
- Đèn ghi đã ra kia rồi.
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe
lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
- Dậy đi, An. Tàu đến rồi.
An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập,
tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng
hành khách ồn ào khe khẽ. Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có
khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón
khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng
tối đen như ngoài phố.
Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em
đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống
đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những
người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để
lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm
đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi,
thưa vắng người và hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng
theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu
như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên,
khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối
vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh
mang và yên lặng.
- Thôi đi ngủ đi chị.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chõng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai
Liên. Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai
cũng không nghe thấy nữa. Sao trên trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới
thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn.
Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc
và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên
manh chiếu tự bao giờ.
Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo chị và đầu
vẫn dựa vào vai. [...]. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không
biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Nhưng
Liên không nghĩ được lâu; mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ
yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối.
(Theo Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988)
Chú thích:
1
Trống thu không: Ở kinh thành hoặc tình thành ngày xưa, đến gần tối có
quân lính đi tuần tra, nếu không thấy có điều gì bất thường thì báo (thường
bằng tiếng trống) để đóng cửa thành, gọi là thu không, ý là trong thành an
toàn, không có gì đáng lo ngại (nghĩa trong bài: hồi trống báo trời sắp tối.
2
Quả thuốc sơn đen: (quả: đồ để đựng thường được làm bằng gỗ hoặc đan
bằng tre, hình hộp tròn, bên trong chia thành nhiều ngăn, có nắp đậy, sơn
màu đen, nâu hoặc đỏ): quả đựng thuốc lào, sơn màu đen.
Đề 2: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
thuật của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về Thạch Lam: nhà văn lãng mạn, nhưng các
truyện giàu yếu tố hiện thực và thấm đượm tấm lòng nhân ái cùng niềm
xót thương cho những con người nhỏ bé, bất hạnh.
- Giới thiệu chung về tác phẩm “Hai đứa trẻ”: Là một trong những
truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam viết về những kiếp người nhỏ nhoi
trong xã hội cũ trước Cách mạng, từ đó bày tỏ tấm lòng nhân đạo sâu
sắc của nhà văn.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của truyện ngắn
Truyện kể về cuộc sống ở một phố huyện nghèo trước cách mạng từ buổi
chiều tàn đến đêm khuya khi chuyến tàu cuối cùng trong ngày đi qua. Xoay
quanh không gian phố huyện tăm tối với những nguồn ánh sáng nhỏ nhoi, leo
lét, dần dần lần lượt những kiếp người tàn xuất hiện: từ những đứa trẻ nơi
xóm chợ, cho đến mẹ con chị Tý, cụ Thi điên, bác phở Siêu, vợ chồng bác
xẩm và chị em Liên, An. Mỗi nhân vật một công việc, một số phận nhưng đều
chung nhau ở cánh sống nhàm chán, quẩn quanh, đơn điệu không lối thoát.
Tất cả những người dân trong phố huyện mỗi ngày đều chờ đợi chuyến tàu
đêm đi qua – đó là hoạt động sống cuối cùng trong ngày.
2.2. Nêu chủ đề của truyện ngắn
- Phản ánh cuộc sống tù túng, bế tắc, quẩn quanh, tăm tối của người dân trước
cách mạng tháng Tám: Cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của những kiếp người
ngheo khổ như chị em Liên và An, của mẹ con chị Tí, của bác phở Siêu, của bà
cụ Thi điên,...nơi phố huyện buồn tẻ. Cuộc sống của họ quanh đi quẩn lại cũng
chỉ có bằng ấy con người, bằng ấy câu chuyện. Bóng tối bao trùm lên tất cả
khiến cho chính họ cũng không biết cuộc sống, ánh sáng của họ đang ở đâu.
- Thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tấm lòng xót thương của nhà văn
đối với những số phận, những cá nhân có cuộc sống cơ cực quẩn quanh, tăm
tối ở phố huyện nghèo những ngày trước Cách mạng.
- Từ sự đồng cảm ấy, Thạch Lam bộc lộ sự trân trọng những ước mơ vươn ra
ánh sáng, ước vọng đổi đời mơ hồ trong họ qua hành động đợi chuyến tàu đêm.
Họ chờ đợi một ánh sáng rực rỡ, ánh sáng trưng của con tàu từ Hà Nội chứ
không phải là thứ ánh sáng le lói, nhạt nhòa nơi phố huyện này.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
*Các đặc sắc nghệ thuật:
- Thuộc dòng văn học lãng mạn, truyện không có cốt truyện mà chỉ là xoay
quanh những cảm xúc mơ hồ, mong manh của nhân vật. Chính vì thế, truyện cứ
nhẹ nhàng, không có diễn biến, không có cao trào nhưng lại lôi cuốn người đọc.
- Điểm nhìn trần thuật được đặt vào nhân vật Liên - một cô bé mới lớn, giàu lòng
trắc ẩn và rất tinh tế. Việc đặt điểm nhìn trần thuật vào nhân vật ấy khiến cho tác
giả có thể đi sâu khai thác tâm trạng và cảm xúc, sự biến đổi tinh tế trong suy
nghĩ của nhân vật.
- Xây dựng thành công sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối: số phận, sự quẩn
quanh bế tắc của những kiếp người nơi phố huyện và khao khát có được một cuộc
sống hạnh phúc hơn trong tương lai.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
*Các đặc sắc nghệ thuật:
- Ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu chất thơ, tinh tế, mang đậm phong cách của
Thạch Lam.
- Cốt truyện đơn giản, nổi bật những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc,
cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.
- Bút pháp tương phản đối lập.
- Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con
người.
- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng.
- Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí:
Truyện “Hai đứa trẻ” là truyện không có cốt truyện. Truyện kết cấu theo dòng
tâm trạng của nhân vật Liên. Liên là một cô gái mới lớn luôn mang trong mình
một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật xung quanh và những con người nghèo
khó. Trong truyện, tác giả đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm nhân vật, được
thể hiện rõ nét qua diễn biến tâm trạng của Liên ở nhiều giai đoạn, từ lúc ngắm
cảnh chiều tàn cho đến đêm tối và khi chuyến tàu đêm đi qua.
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí:
+ Đó là tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của Liên khi ngắm cảnh chiều tà và ngày tàn
buông xuống. Với một cô gái trẻ đầy suy tư những đường nét, âm thanh và
màu sắc của chiều xuống càng khiến cho tâm trạng cô thêm lâng lâng khó tả.
Cô thấy “lòng buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn”, cảm nhận được
mùi riêng của đất quê hương, thấy động lòng thương đối với những đứa trẻ
nhặt rác nơi xóm chợ... Liên xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép,
tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu.
+ Nỗi buồn của Liên không chỉ dừng lại ở đó mà còn nhân lên gấp bội lần khi
bóng đen bao phủ không gian trong đêm tối bao la, đặc quánh. Liên thu vào
trong tầm mắt của mình tất cả cảnh vật nơi đây để rồi cô nhận ra những đốm
sáng leo lét, yếu ớt không những không làm cho bầu trời thêm sáng mà càng
trở nên tăm tối hơn cũng giống như những kiếp người sống lay lắt của cư dân
nơi phố huyện.
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí:
+ Tâm trạng của Liên được thay đổi trở nên tươi mới hơn khi đoàn tàu đến.
Đoàn tàu mang một thế giới khác, một trạng thái cảm xúc khác cho chị em
Liên và những cư dân phố huyện. Liên và An đợi tàu trong tâm trạng háo hức,
chờ đợi mòn mỏi đêm nào cũng để ngắm nhìn đoàn tàu đi qua rồi mới ngủ.
Liên cũng như bao người dân vui mừng và hạnh phúc, hi vọng cũng đưa cô
mơ về một Hà Nội xa xăm, hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi gia đình cô còn
dư giả ở thị thành nhộn nhịp. Chuyến tàu cho cô và những con người nơi đây
một ước mơ, một niềm vui, một khát vọng ở tương lai tốt đẹp hơn.
=> Như vậy, diễn biến tâm trạng nhân vật Liên được nhà văn đi sâu lột tả,
khám phá thật sâu sắc tỉ mỉ qua từng thời điểm khi buồn man mác, khi ngậm
ngùi chua xót, khi háo hức mong chờ, khi hạnh phúc và hy vọng. Thạch Lam tả
nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế với văn phong lãng mạn, giàu chất
thơ những câu văn mềm mại, êm dịu mà không thoát li hiện thực.
- Thủ pháp tương phản đối lập:
+ Tương phản giữa bóng tối và ánh sáng: Bóng tối là gam màu chủ yếu trong
truyện ngắn. Bóng tối dày đặc mênh mang khắp một vùng còn ánh sáng thì
mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối: “Đường phố và các
ngõ chứa đầy bóng tối”, “ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con
đường qua chợ về nhà, các ngõ vài làng lại càng sậm đen hơn nữa. Đêm ở
phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những
khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như
nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh
đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối.
Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên
nứa… Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ
chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện bảy lần trong tác phẩm, tạo nên sức
ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm
đen, trong bóng tối cuộc đời.
- Thủ pháp tương phản đối lập:
+ Tương phản giữa quá khứ và hiện tại: Quá khứ đẹp đẽ, sung túc của chị em
Liên và An – đối lập với cuộc sống đơn điệu, nghèo nàn, quẩn quanh của hai
chị em và của người dân nơi phố huyện.
+ Nghệ thuật tương phản thể hiện tập trung nhất ở phần cuối câu chuyện: khi
đoàn tàu chạy qua phố huyện: bóng tối - ánh sáng, quá khứ - hiện tại, hiện tại tương lai, âm thầm, lặng lẽ - ồn ào, náo nhiệt,...
=> Tác dụng của nghệ thuật tương phản: Tất cả nhằm tô đậm cuộc sống quẩn
quanh, bế tắc, tẻ nhạt, tăm tối của những con người nơi phố huyện đang héo
mòn vì bóng tối cuộc đời và niềm khao khát một cuộc sống tươi sáng tốt đẹp
hơn, từ đó thấy được tấm lòng chan chứa yêu thương của tác giả với những
cuộc đời bé nhỏ nơi phố huyện.
Đề 2: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
thuật của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Gợi ý lập dàn ý
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa và giá trị của truyện ngắn.
- Tác phẩm “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc với những câu chuyện
không có cốt truyện, với những cảm xúc mong manh, mơ hồ mà bất cứ
ai trong chúng ta cũng đã từng gặp, ít nhất một lần trong đời.
- Tác phẩm gửi gắm đến người đọc thông điệp ý nghĩa: Đừng để cuộc
sống chìm trong cái “ao đời phẳng lặng” (Xuân Diệu). Con người phải
sống cho ra sống, phải không ngừng khao khát và xây dựng cuộc sống
có ý nghĩa. Những ai phải sống trong một cuộc sống tối tăm, mòn mỏi,
tù túng, hãy cố vươn ra ánh sáng, hướng tới một cuộc sống tươi sáng
Đề 3: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật
của truyện ngắn “Quê mẹ” (Thanh Tịnh).
Văn bản: Truyện ngắn Quê mẹ (Thanh Tịnh)
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
(Ca dao)
Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm hương thơ
ở làng Mỹ Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai
năm thi yếu lược(1) không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong
xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh cũng đi nhà
này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư
đem lên huyện.
Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng
lương năm – của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng
và năm đồng bạc để làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ
anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng
sưu này thuế khác gần hết.
Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho
là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người
quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng
việc nước.
Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết.
Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống
năm này tháng khác.
(Gần đến ngày giỗ ông, Cô Thảo muốn xin chồng về làng. Nhưng mãi đến
chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh
trà(2) để nhắc xa xôi cho chồng nhớ. Anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng
ăn giỗ. Mẹ chồng bảo cô mang buồng chuối mật về giỗ ông. Anh Vận cũng
chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.)
Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng
xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới
đem được buồng chuối ...
LUẬN PHÂN TÍCH MỘT
TÁC PHẨM (TRUYỆN)
Phần III. ÔN TẬP KĨ NĂNG VIẾT
I. ÔN TẬP LÝ THUYẾT
1. Yêu cầu của kiểu bài
- Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về
tác phẩm.
- Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm.
- Nêu được chủ đề của tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm (như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật,
ngôi kể, ngôn ngữ, …); tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật
nhất của tác phẩm.
- Sử dụng các bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong
bài viết.
- Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện.
2. Dàn ý chung
Mở
bài
- Giới thiệu khái quát ngắn gọn về tác giả và tác phẩm truyện.
- Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm truyện.
++ Cách 1: Giới thiệu khái quát về tác giả (vị trí, đặc điểm sáng tác –
trong trường hợp là một giả mới lạ, dựa vào phần chú thích để giới
thiệu), về tác phẩm (vị trí của truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác;
ý kiến khái quát về tác phẩm truyện: Truyện viết về đề tài gì? Nói
lên chủ đề gì? Ấn tượng về đặc sắc nghệ thuật?)
++ Cách 2: Dẫn dắt một ý kiến lí luận bàn về truyện ngắn rồi dẫn
đến tác phẩm truyện cần phân tích, trích dẫn.
2. Dàn ý chung
- Ý 1: Nêu nội dung chính của tác phẩm.
+ Nội dung của truyện là gì?
+ Nội dung ấy được thể hiện như thế nào qua hệ thống nhân vật,
sự kiện?
- Ý 2: Nêu chủ đề của tác phẩm:
Thân bài (Lưu ý: Một tác phẩm truyện có thể có nhiều chủ đề khác nhau)
- Ý 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật của tác phẩm:
+ Chỉ ra những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện.
+ Chỉ đi sâu khai thác, phân tích một số yếu tố nghệ thuật đặc sắc,
tiêu biểu để bài viết không bị dàn trải, có chiều sâu.
Kết bài Kết bài: Khẳng định vị trí ý nghĩa của tác phẩm.
Bảng kiểm đánh giá kĩ năng viết bài văn phân tích
một tác phẩm truyện
Tiêu chí
MB Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả).
Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
TB Nêu nội dung chính của tác phẩm.
Nêu chủ đề của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề
tác phẩm.
Chỉ ra và phân tích một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm. Tập trung vào một số yếu tố
nghệ thuật nổi bật nhất của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ đặc sắc
vể hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Đạt
Chưa đạt
Bảng kiểm đánh giá kĩ năng viết bài văn phân tích
một tác phẩm truyện
Tiêu chí
Đạt Chưa
đạt
KB
Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Kĩ năng, Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng hợp lí.
trình bày Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
diễn đạt Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn đạt.
Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên kết các ý.
PHIẾU CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Nội dung lỗi cần sửa
Phát hiện lỗi
Thiếu ý
về ý và trình tự Sắp xếp lại ý lộn xộn
triển khai ý
Sửa lại các ý lạc đề
Sửa lại các ý tản mạn
Phát hiện sửa Lỗi dùng từ
lỗi diễn đạt
Lỗi viết câu
Lỗi chính tả
Lỗi chính tả
Sửa lỗi
II. THỰC HÀNH
VIẾT
Đề 1: Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê).
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Lê Minh Khuê là cây bút nữ trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ. Các tác phẩm của bà xoay quanh cuộc sống, chiến đấu của những
cô thanh niên xung phong.
- Những ngôi sao xa xôi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của
bà, kể về cuộc sống chiến đấu của ba cô gái trên tuyến đường Trường
Sơn trong những năm tháng chống Mỹ vô cùng ác liệt.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của truyện ngắn:
Truyện kể về cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu của ba cô gái: Thao, Nho,
Phương Định. Ba cô thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom trên cao
điểm ác liệt. Máy bay ném bom, ba cô gái ra đường phá bom, bom nổ, Nho bị
thương. Phương Định và Thao chăm sóc vết thương cho Nho. Một cơn mưa đá
đột ngột trút xuống cao điểm khiến ba cô gái thích thú. Trong một đêm yên
tĩnh, Phương Định và Nho ngắm nhìn đoàn quân ra trận, tình yêu đồng đội trào
dâng.
2.2. Nêu chủ đề của truyện ngắn
- Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, tính cách dũng cảm, hồn nhiên và cuộc
sống chiến đấu nhiều gian khổ, hi sinh nhưng vẫn lạc quan của những nữ thanh
niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.
- Từ đó, ca ngợi vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ.
2. Thân bài:
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Các đặc sắc nghệ thuật:
- Nghệ thuật kể chuyện sinh động, hấp dẫn: lựa chọn ngôi kể phù hợp; cách kể
chuyện tự nhiên.
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc, chủ yếu khám phá thế giới nội tâm của
nhân vật tinh tế, sắc sảo.
- Ngôn ngữ và giọng điệu: Ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật kể chuyện –
một cô gái thanh niên xung phong trẻ trung người Hà Nội – tạo cho tác phẩm có
giọng điệu và ngôn ngữ tự nhiên, gần với khẩu ngữ, trẻ trung và có chất nữ tính.
- Lời kể rất linh hoạt: Có khi dùng những câu văn ngắn, câu tỉnh lược, câu đặc
biệt, nhịp nhanh phù hợp với không khí căng thẳng, khẩn trương nơi chiến trường.
Những đoạn hồi tưởng nhịp kể chậm rãi, gợi những kỷ niệm của tuổi niên thiếu
hồn nhiên, vô tư và không khí thanh bình trước chiến tranh.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí: Miêu tả tâm lí nhân vật “tôi”
(Phương Định)
+ Nhân vật tự quan sát và đánh giá về mình ở phần đầu truyện: Ở phần đầu
truyện, cô tự quan sát và đánh giá về mình rằng: “Tôi là một cô gái khá. Hai
bím tóc dày…cái nhìn sao mà xa xăm”; được nhiều anh hỏi thăm nhưng chưa
dành tình cảm cho ai.
Đó là những nét tâm lí rất tự nhiên và phù hợp với nhân vật bởi Phương
Định chỉ vừa mới bước qua tuổi học trò hồn nhiên, vô tư.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí: Miêu tả tâm lí nhân vật “tôi”
(Phương Định)
+ Tâm trạng của Phương Định trong một lần phá bom: Tâm trạng “tôi” ở
đoạn này được miêu tả hết sức chi tiết và chân thực. Khi đến gần quả bom cô
cũng sợ nhưng “cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình”, lòng dũng
cảm, lòng tự trọng trong cô được kích thích nên cô “không sợ nữa”. Và khi
đã ở bên quả bom, kề sát với cái chết có thể đến tức khắc, từng cảm giác của
cô như cũng trở nên sắc nhọn hơn và căng như dây đàn. Cô có nghĩ đến cái
chết nhưng là cái chết rất mờ nhạt, không cụ thể. Khi bom nổ, dù ngực đau
nhói, “mắt cay mãi mới mở ra được” nhưng cô vẫn chạy ngay tới chỗ bom
nổ.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí: Miêu tả tâm lí nhân vật “tôi”
(Phương Định)
+ Cảm xúc trước trận mưa đá ở cuối truyện: Khi cơn mưa đá ập đến, cô vui
thích cuống cuồng chạy ra nhặt đá, say sưa tận hưởng cơn mưa hồn nhiên
như một đứa trẻ. Một dòng kí ức cùng nỗi nhớ da diết về gia đình, về thành
phố thân thương trào dâng trong trí nhớ cô.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm:
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Nghệ thuật sử dụng ngôi kể:
Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất và những người kể chuyện cũng
là nhân vật chính. Sự lựa chọn ngôi kể như vậy phù hợp với nội dung tác
phẩm và tạo thuận lợi để tác phẩm miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn,
những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật. Để cho nhân vật là người trong
cuộc kể lại thì câu chuyện sẽ thật hơn, cụ thể và sinh động hơn, tạo cho
người đọc cảm giác tin vào câu chuyện hơn. Và ở đây, truyện viết về chiến
tranh, tất nhiên phải có bom đạn, chiến đấu, hy sinh, nhưng trong truyện này,
hiện lên khá rõ là thế giới nội tâm của các cô gái thanh niên xung phong với
vẻ đẹp tâm hồn của một thế hệ thời kháng chiến chống Mỹ. Đó cũng là do
cách lựa chọn và
kể của tác giả – nhất là vai kể ở đây lại là một cô gái trẻ Hà Nội có cá tính
nhiều mộng mơ với những kỉ niệm đẹp của thời thiếu nữ. Ngôi kể này cũng
tạo ra một điểm nhìn phù hợp để miêu tả hiện thực của cuộc chiến đấu ở một
trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn, làm cho câu chuyện chân thực
hơn. Ngôi thứ nhất, người kể là Phương Đinh, nhân vật chính trong tác phẩm
thuận lợi trong việc biểu hiện thế giới tâm hồn cảm xúc; suy nghĩ của nhân
vật, đồng thời phù hợp với nội dung tác phẩm tăng tính chân thực cho câu
chuyện.
Đề 1: Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê).
Gợi ý lập dàn ý
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa và giá trị của truyện ngắn.
- Truyện ngắn đã làm sống lại trong lòng người đọc một thời kì chiến
tranh gian khó, khốc liệt, làm nổi bật lên hình ảnh những nữ thanh niên
xung phong trẻ trung, nhiệt huyết, gan dạ, kiên cường.
- Hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường
Trường Sơn đã đem đến cho thế hệ trẻ hôm nay bài học về lòng dũng
cảm, anh dũng chiến đấu, sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho quê hương,
đất nước.
Đề 2: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật
của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Văn bản truyện: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Tiếng trống thu không1 trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa
để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh
hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt
trên nền trời.
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran
ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt
đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng
tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn
ngây thơ của chị: Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác
trước cái giờ khắc của ngày tàn.
- Em thắp đèn lên chị Liên nhé?
Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả lời:
- Hẵng thong thả một lát nữa cũng được. Em ra ngồi đây với chị kẻo muỗi.
An bỏ bao diêm xuống bàn cùng chị ra ngoài chỏng ngồi; chiếc chỏng nan lún
xuống và kêu cót két.
- Cái chỏng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
- Ừ để rồi chị bảo mẹ mua cái khác thay vào.
Hai chị em gượng nhẹ ngồi yên nhìn ra phố. Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo
trong nhà bác phở Mĩ, đèn Hoa Kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh
trong hiệu khách... Những nguồn ánh sáng đều chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh
từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối.
Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ
còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng
của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng
của đất, của quê hương này. Một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng
hóa, đòn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa.
Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm
tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng
được của các người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương
nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.
Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu
đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra; chị Tí, mẹ nó, theo
sau, đội cái chõng trên đầu và tay mang không biết bao nhiêu là đồ đạc: tất
cả cái cửa hàng của chị.
- Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?
Chị Tí để chõng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chép
miệng trả lời Liên:
- Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì.
[...] Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng,
từ chập tối cho đến đêm.
Ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên tạt ra thăm hàng một lần, và bà dặn hễ cứ
trống thu không là phải đóng cửa hàng lại. Thế mà Liên mải ngồi nhìn phố
quên mất! Bây giờ Liên vội vàng vào thắp đèn, xếp những quả sơn đen lại,
trong lúc An đi tìm then để cài cửa cho chắc chắn. Cái cửa hàng hai chị em
trông coi - là một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà
bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc. Một gian hàng bé thuê lại của bà
lão móm ngăn ra bằng một tấm phên nứa dán giấy nhật trình. Mẹ Liên giao
cho Liên trông coi - bà còn bận làm hàng xáo - và buổi tối thì hai chị em
cùng ngủ đây để trông hàng.
Liên đếm lại những phong thuốc lào, xếp vào hòm các bánh xà phòng còn
lại, vừa lẩm nhẩm tính tiền hàng. Hôm nay ngày phiên mà bán cũng chẳng
ăn thua gì.
- Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không?
An ngẫm nghĩ rồi đáp:
- Vâng, bà ta mua hai bánh, còn cụ Chi lấy chịu nửa bánh nữa.
Liên với cái bàn tính để cộng số tiền. Nhưng trong hàng nóng và muỗi quá, chị
ngần ngại rồi xếp hết cả tiền vào tráp không tính nữa:
- Thôi, để mai tính một thể.
An nhìn chị, chỉ đợi lúc ấy. Hai chị em cùng vội muốn đóng cửa hàng để lại ra
ngoài kia, ngồi trên chỏng ngắm nhìn phong cảnh ngoài phố. [...]
- A, cô bé làm gì thế?
Nghe câu nói tiếp theo một tiếng cười khanh khách, chị em Liên không cần
ngoảnh mặt ra cũng biết là ai đã vào hàng. Đó là cụ Thi, một bà già hơi điên, vẫn
mua rượu ở hàng Liên. Liên đã biết tính bà, chị lẳng lặng rót một cút rượu ti đầy
đưa cho cụ; chị không dám nhìn mặt cụ, và trong lòng hơi run sợ, chị mong cho cụ
chóng đi. Cụ cầm cút rượu soi lên rồi cười gịn giã nói:
- A, em Liên thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây.
Cụ ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch, rồi vừa chép miệng vừa lần ruột
tượng trả tiền - Cụ để ba đồng xu vào tay Liên, xoa đầu chị một cái rồi lảo đảo
bước ra ngoài. Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ đi lần vào bóng tối, tiếng
cười khanh khách nhỏ dần về phía làng.
***
Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát.
Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng im
ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng.
Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn
nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai
chị em đành ngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về
muộn, từ từ đi trong đêm. [...] An trỏ tay bảo chị:
- Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.
Tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rơ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em: bác
Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống, nhóm lại lửa, thổi
vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài
đến tận hàng rào hai bên ngơ. An là Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở
cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị
em không bao giờ mua được. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng
những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi bờ hồ
uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỷ niệm nhớ lại không rõ rệt, chỉ
là một vùng sáng rực và lấp lánh. Hà Nội nhiều đèn quá! Từ khi nhà Liên dọn
về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên
chiếc chõng tre dưới gốc bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh.
Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa. Tối hết cả, con đường
thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngơ vào làng lại sẫm đen
hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu
sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ,
thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu
nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên
manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có
khách nghe.[...]. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng
cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.
***
An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để
thức khuya chút nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải
thức đến khi tàu xuống - đường sắt đi ngang qua ngay trước mặt phố - để bán
hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi đêm, Liên
không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm hay
gói thuốc là cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn
chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt
động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người
Liên; chị ngồi yên không động đậy.[...].
Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên tiếng:
- Đèn ghi đã ra kia rồi.
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe
lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
- Dậy đi, An. Tàu đến rồi.
An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập,
tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng
hành khách ồn ào khe khẽ. Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có
khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón
khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng
tối đen như ngoài phố.
Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em
đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống
đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những
người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để
lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm
đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi,
thưa vắng người và hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng
theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu
như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên,
khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối
vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh
mang và yên lặng.
- Thôi đi ngủ đi chị.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chõng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai
Liên. Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai
cũng không nghe thấy nữa. Sao trên trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới
thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn.
Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc
và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên
manh chiếu tự bao giờ.
Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo chị và đầu
vẫn dựa vào vai. [...]. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không
biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Nhưng
Liên không nghĩ được lâu; mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ
yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối.
(Theo Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988)
Chú thích:
1
Trống thu không: Ở kinh thành hoặc tình thành ngày xưa, đến gần tối có
quân lính đi tuần tra, nếu không thấy có điều gì bất thường thì báo (thường
bằng tiếng trống) để đóng cửa thành, gọi là thu không, ý là trong thành an
toàn, không có gì đáng lo ngại (nghĩa trong bài: hồi trống báo trời sắp tối.
2
Quả thuốc sơn đen: (quả: đồ để đựng thường được làm bằng gỗ hoặc đan
bằng tre, hình hộp tròn, bên trong chia thành nhiều ngăn, có nắp đậy, sơn
màu đen, nâu hoặc đỏ): quả đựng thuốc lào, sơn màu đen.
Đề 2: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
thuật của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về Thạch Lam: nhà văn lãng mạn, nhưng các
truyện giàu yếu tố hiện thực và thấm đượm tấm lòng nhân ái cùng niềm
xót thương cho những con người nhỏ bé, bất hạnh.
- Giới thiệu chung về tác phẩm “Hai đứa trẻ”: Là một trong những
truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam viết về những kiếp người nhỏ nhoi
trong xã hội cũ trước Cách mạng, từ đó bày tỏ tấm lòng nhân đạo sâu
sắc của nhà văn.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của truyện ngắn
Truyện kể về cuộc sống ở một phố huyện nghèo trước cách mạng từ buổi
chiều tàn đến đêm khuya khi chuyến tàu cuối cùng trong ngày đi qua. Xoay
quanh không gian phố huyện tăm tối với những nguồn ánh sáng nhỏ nhoi, leo
lét, dần dần lần lượt những kiếp người tàn xuất hiện: từ những đứa trẻ nơi
xóm chợ, cho đến mẹ con chị Tý, cụ Thi điên, bác phở Siêu, vợ chồng bác
xẩm và chị em Liên, An. Mỗi nhân vật một công việc, một số phận nhưng đều
chung nhau ở cánh sống nhàm chán, quẩn quanh, đơn điệu không lối thoát.
Tất cả những người dân trong phố huyện mỗi ngày đều chờ đợi chuyến tàu
đêm đi qua – đó là hoạt động sống cuối cùng trong ngày.
2.2. Nêu chủ đề của truyện ngắn
- Phản ánh cuộc sống tù túng, bế tắc, quẩn quanh, tăm tối của người dân trước
cách mạng tháng Tám: Cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của những kiếp người
ngheo khổ như chị em Liên và An, của mẹ con chị Tí, của bác phở Siêu, của bà
cụ Thi điên,...nơi phố huyện buồn tẻ. Cuộc sống của họ quanh đi quẩn lại cũng
chỉ có bằng ấy con người, bằng ấy câu chuyện. Bóng tối bao trùm lên tất cả
khiến cho chính họ cũng không biết cuộc sống, ánh sáng của họ đang ở đâu.
- Thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tấm lòng xót thương của nhà văn
đối với những số phận, những cá nhân có cuộc sống cơ cực quẩn quanh, tăm
tối ở phố huyện nghèo những ngày trước Cách mạng.
- Từ sự đồng cảm ấy, Thạch Lam bộc lộ sự trân trọng những ước mơ vươn ra
ánh sáng, ước vọng đổi đời mơ hồ trong họ qua hành động đợi chuyến tàu đêm.
Họ chờ đợi một ánh sáng rực rỡ, ánh sáng trưng của con tàu từ Hà Nội chứ
không phải là thứ ánh sáng le lói, nhạt nhòa nơi phố huyện này.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
*Các đặc sắc nghệ thuật:
- Thuộc dòng văn học lãng mạn, truyện không có cốt truyện mà chỉ là xoay
quanh những cảm xúc mơ hồ, mong manh của nhân vật. Chính vì thế, truyện cứ
nhẹ nhàng, không có diễn biến, không có cao trào nhưng lại lôi cuốn người đọc.
- Điểm nhìn trần thuật được đặt vào nhân vật Liên - một cô bé mới lớn, giàu lòng
trắc ẩn và rất tinh tế. Việc đặt điểm nhìn trần thuật vào nhân vật ấy khiến cho tác
giả có thể đi sâu khai thác tâm trạng và cảm xúc, sự biến đổi tinh tế trong suy
nghĩ của nhân vật.
- Xây dựng thành công sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối: số phận, sự quẩn
quanh bế tắc của những kiếp người nơi phố huyện và khao khát có được một cuộc
sống hạnh phúc hơn trong tương lai.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
*Các đặc sắc nghệ thuật:
- Ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu chất thơ, tinh tế, mang đậm phong cách của
Thạch Lam.
- Cốt truyện đơn giản, nổi bật những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc,
cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.
- Bút pháp tương phản đối lập.
- Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con
người.
- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng.
- Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
*Tập trung phân tích kĩ lưỡng những nghệ thuật tiêu biểu:
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí:
Truyện “Hai đứa trẻ” là truyện không có cốt truyện. Truyện kết cấu theo dòng
tâm trạng của nhân vật Liên. Liên là một cô gái mới lớn luôn mang trong mình
một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật xung quanh và những con người nghèo
khó. Trong truyện, tác giả đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm nhân vật, được
thể hiện rõ nét qua diễn biến tâm trạng của Liên ở nhiều giai đoạn, từ lúc ngắm
cảnh chiều tàn cho đến đêm tối và khi chuyến tàu đêm đi qua.
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí:
+ Đó là tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của Liên khi ngắm cảnh chiều tà và ngày tàn
buông xuống. Với một cô gái trẻ đầy suy tư những đường nét, âm thanh và
màu sắc của chiều xuống càng khiến cho tâm trạng cô thêm lâng lâng khó tả.
Cô thấy “lòng buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn”, cảm nhận được
mùi riêng của đất quê hương, thấy động lòng thương đối với những đứa trẻ
nhặt rác nơi xóm chợ... Liên xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép,
tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu.
+ Nỗi buồn của Liên không chỉ dừng lại ở đó mà còn nhân lên gấp bội lần khi
bóng đen bao phủ không gian trong đêm tối bao la, đặc quánh. Liên thu vào
trong tầm mắt của mình tất cả cảnh vật nơi đây để rồi cô nhận ra những đốm
sáng leo lét, yếu ớt không những không làm cho bầu trời thêm sáng mà càng
trở nên tăm tối hơn cũng giống như những kiếp người sống lay lắt của cư dân
nơi phố huyện.
- Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí:
+ Tâm trạng của Liên được thay đổi trở nên tươi mới hơn khi đoàn tàu đến.
Đoàn tàu mang một thế giới khác, một trạng thái cảm xúc khác cho chị em
Liên và những cư dân phố huyện. Liên và An đợi tàu trong tâm trạng háo hức,
chờ đợi mòn mỏi đêm nào cũng để ngắm nhìn đoàn tàu đi qua rồi mới ngủ.
Liên cũng như bao người dân vui mừng và hạnh phúc, hi vọng cũng đưa cô
mơ về một Hà Nội xa xăm, hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi gia đình cô còn
dư giả ở thị thành nhộn nhịp. Chuyến tàu cho cô và những con người nơi đây
một ước mơ, một niềm vui, một khát vọng ở tương lai tốt đẹp hơn.
=> Như vậy, diễn biến tâm trạng nhân vật Liên được nhà văn đi sâu lột tả,
khám phá thật sâu sắc tỉ mỉ qua từng thời điểm khi buồn man mác, khi ngậm
ngùi chua xót, khi háo hức mong chờ, khi hạnh phúc và hy vọng. Thạch Lam tả
nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế với văn phong lãng mạn, giàu chất
thơ những câu văn mềm mại, êm dịu mà không thoát li hiện thực.
- Thủ pháp tương phản đối lập:
+ Tương phản giữa bóng tối và ánh sáng: Bóng tối là gam màu chủ yếu trong
truyện ngắn. Bóng tối dày đặc mênh mang khắp một vùng còn ánh sáng thì
mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối: “Đường phố và các
ngõ chứa đầy bóng tối”, “ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con
đường qua chợ về nhà, các ngõ vài làng lại càng sậm đen hơn nữa. Đêm ở
phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những
khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như
nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh
đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối.
Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên
nứa… Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ
chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện bảy lần trong tác phẩm, tạo nên sức
ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm
đen, trong bóng tối cuộc đời.
- Thủ pháp tương phản đối lập:
+ Tương phản giữa quá khứ và hiện tại: Quá khứ đẹp đẽ, sung túc của chị em
Liên và An – đối lập với cuộc sống đơn điệu, nghèo nàn, quẩn quanh của hai
chị em và của người dân nơi phố huyện.
+ Nghệ thuật tương phản thể hiện tập trung nhất ở phần cuối câu chuyện: khi
đoàn tàu chạy qua phố huyện: bóng tối - ánh sáng, quá khứ - hiện tại, hiện tại tương lai, âm thầm, lặng lẽ - ồn ào, náo nhiệt,...
=> Tác dụng của nghệ thuật tương phản: Tất cả nhằm tô đậm cuộc sống quẩn
quanh, bế tắc, tẻ nhạt, tăm tối của những con người nơi phố huyện đang héo
mòn vì bóng tối cuộc đời và niềm khao khát một cuộc sống tươi sáng tốt đẹp
hơn, từ đó thấy được tấm lòng chan chứa yêu thương của tác giả với những
cuộc đời bé nhỏ nơi phố huyện.
Đề 2: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
thuật của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Gợi ý lập dàn ý
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa và giá trị của truyện ngắn.
- Tác phẩm “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc với những câu chuyện
không có cốt truyện, với những cảm xúc mong manh, mơ hồ mà bất cứ
ai trong chúng ta cũng đã từng gặp, ít nhất một lần trong đời.
- Tác phẩm gửi gắm đến người đọc thông điệp ý nghĩa: Đừng để cuộc
sống chìm trong cái “ao đời phẳng lặng” (Xuân Diệu). Con người phải
sống cho ra sống, phải không ngừng khao khát và xây dựng cuộc sống
có ý nghĩa. Những ai phải sống trong một cuộc sống tối tăm, mòn mỏi,
tù túng, hãy cố vươn ra ánh sáng, hướng tới một cuộc sống tươi sáng
Đề 3: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật
của truyện ngắn “Quê mẹ” (Thanh Tịnh).
Văn bản: Truyện ngắn Quê mẹ (Thanh Tịnh)
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
(Ca dao)
Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm hương thơ
ở làng Mỹ Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai
năm thi yếu lược(1) không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong
xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh cũng đi nhà
này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư
đem lên huyện.
Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng
lương năm – của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng
và năm đồng bạc để làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ
anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng
sưu này thuế khác gần hết.
Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho
là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người
quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng
việc nước.
Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết.
Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống
năm này tháng khác.
(Gần đến ngày giỗ ông, Cô Thảo muốn xin chồng về làng. Nhưng mãi đến
chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh
trà(2) để nhắc xa xôi cho chồng nhớ. Anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng
ăn giỗ. Mẹ chồng bảo cô mang buồng chuối mật về giỗ ông. Anh Vận cũng
chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.)
Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng
xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới
đem được buồng chuối ...
 







Các ý kiến mới nhất