Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Chuyên đề Truyện Kiều

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Hoàng Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:32' 29-05-2024
Dung lượng: 11.7 MB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích: 0 người
CHỦ ĐỀ 1: TRUYỆN KIỀU VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ
TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ ĐỀ

Những vấn đề chung về chủ đề.
1

Tác giả Nguyễn Du và Truyện
Kiều.

2 Chị em Thuý Kiều
3 Kiều ở lầu Ngưng Bích
4 Miêu tả trong VBTS

2 tiết
2 tiết
2 tiết
2 tiết

- Cảnh
ngày xuân
- Mã
Giám Sinh
mua Kiều

CHỦ ĐỀ 1: TRUYỆN KIỀU VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU
TẢTRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

Phần I: Tri thức ngữ văn.
A. Những vấn đề chung về chủ đề.

CHỦ ĐỀ 1: TRUYỆN KIỀU VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU
TẢTRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

A. Những vấn đề chung về chủ đề.
1. Ý nghĩa của chủ đề .
Em hiểu như thế nào về chủ đề tích hợp này?
2. Mục đích của chủ đề.
Chủ đề tích hợp này có mục đích gì?
Thực hiện phiếu học tập số 1

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1

Những vấn đề chung về chủ đề
Ý nghĩa của chủ đề
Mục đích của chủ đề

Qua khai thác sự liên
quan, gần gũi ở văn
bản đọc hiểu truyện
Kiều về miêu tả và
miêu tả nội tâm .... Từ
đó vận dụng vào tạo lập
văn bản.

Nhận biết giá trị cuả
truyện Kiều, đặc biệt là
việc sử dụng yếu tố MT
và MT nội tâm tinh tế,
sắc sảo của Nguyễn Du.
Từ đó hiểu về cách đưa
yếu tố MT và MT nội
tâm vào VBTS.

CHỦ ĐỀ 1: TRUYỆN KIỀU VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU
TẢTRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

B. Nghệ thuật.

1. Nghệ thuật ước lệ tượng trưng.
Em hiểu thế nào về nghệ thuật ước lệ tượng trưng?
2. Nghệ thuật miêu tả và miêu tả nội tâm.
Vai trò của yếu tố miêu tả và miêu tả nội tâm trong
Truyện Kiều.
Thực hiện phiếu học tập số 2

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2

Nghệ thuật
NT ước lệ tượng trưng
NT m.tả và m.tả nội tâm
- Sử dụng những quy ước
trong biểu hiện nghệ
thuật như dùng hình
tượng thiên nhiên đẹp để
nói về vẻ đẹp của con
người.
- Nghiêng về nghệ thuật
gợi, chứ không miêu tả
cụ thể, tỉ mỉ.

Làm nổi bật hành
động, sự việc, cảnh
vật, con người và tâm
trạng con người trong
TP Truyện Kiều nói
riêng và trong văn
bản tự sự nói chung.

CHỦ ĐỀ 1: TRUYỆN KIỀU VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU
TẢTRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

Phần II: Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều.
I. Tác giả Nguyễn Du.

Đọc phần I (S/77,78)  Thực hiện phiếu học tập số 3
1. Tiểu sử.
- Thân thế.
- Gia đình.
- Thời đại.

- Cuộc đời.

I. Tác giả Nguyễn Du.
1. Tiểu sử.
Thân thế
Gia đình
Nguyễn Du (1765 –
1820), tên chữ là
Tố Như; hiệu là
Thanh Hiên; quê ở
làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tĩnh.

Gia đình đại
quí tộc, nhiều
đời làm quan,

truyền
thống về văn
học.

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3

Thời đại
Cuộc đời ông gắn bó
sâu sắc với những
biến cố lịch sử của
đất nước cuối thế kỉ
XVIII – đầu thế kỉ
XIX: Sự khủng
hoảng trầm trọng
của xã hội phong
kiến và phong trào
nông dân nổi dậy ở
khắp nơi ( Tây Sơn)

Cuộc đời
Ông sống phiêu
bạt nhiều năm
trên đất Bắc,
làm quan dưới
triều Nguyễn, đi
sứ sang Trung
Quốc...

I. Tác giả Nguyễn Du.
2. Sự nghiệp sáng tác.
Em có nhận xét gì về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du?

Sự nghiệp sáng tác.
- Thơ chữ Hán: 3 tập thơ
+ Thanh Hiên thi tập: 78 bài.
+ Nam trung tạp ngâm: (Ngâm nga lặt vặt
lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở
Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam
Hà Tĩnh.
+ Bắc hành tạp lục: 131 bài thơ, viết trong
thời gian đi sứ sang Trung Quốc.

I. Tác giả Nguyễn Du.
2. Sự nghiệp sáng tác.
- Thơ chữ Nôm: Tiêu biểu nhất là “Truyện Kiều”
Qua tìm hiểu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác, em
có nhận xét gì về tác giả Nguyễn Du?

Khu lưu niệm Nguyễn Du, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

II. TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU

1. Nguồn gốc.
- Dựa theo cốt truyện “Kim
Vân Kiều truyện” …
- Kết cấu theo kiểu truyện
Nôm: Gặp gỡ và đính ước –
Gia biến và lưu lạc – Đoàn tụ.
2. Tóm tắt.

A. KHÁI QUÁT CHỦ ĐỀ
1. Các đơn vị kiến thức trong chủ đề
2. Mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức trong chủ đề
- Nắm tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp văn học.
- Nắm được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều.
- Hiểu được giá trị của các đoạn trích: Chị em Thúy Kiều, Kiều ở lầu
Ngưng Bích.
- Hiểu, cảm nhận được những nét đặc sắc nghệ thuật của truyện và trong
từng trích đoạn: tả cảnh ngụ tình, ước lệ tượng trưng…..
- Biết đọc- hiểu, cảm thụ truyện thơ trung đại theo đặc trưng thể loại
- Nắm được các nội dung chính của truyện.
- Thấy được vai trò, tác dụng của yếu tố miêu tả hành động, sự việc, cảnh
vật và con người trong văn bản tự sự . Hiểu được vai trò của miêu tả nội
tâm và mối quan hệ giữa nội tâm với ngoại hình trong khi kể chuyện.

1. Cuộc đời sự nghiệp của N/Du và giá trị của
Truyện Kiều
2. Chân dung của chị em Thúy Kiều
3. Tâm trạng và hoàn cảnh của Kiều khi ở lầu
Ngưng Bích
4. Nghệ thuật tả cảnh, tả cảnh ngụ tình, tả người
trong Truyện Kiều

TIẾT 20
TIẾT 1: KHÁI QUÁT CHỦ ĐỀ- TRUYỆN KIỀU CỦA
NGUYỄN DU

I. TÁC GIẢ NGUYỄN DU(1765-1820)

1. Gia thế
2. Thời đại
3. Cuộc đời
4. Sự nghiệp sáng tác

I. TÁC GIẢ NGUYỄN DU(1765-1820)

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu
Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

1. Gia thế
- Cha là Nguyễn Nghiễm, từng đỗ Tiến sĩ và giữ chức tể
tướng, vốn là người giỏi văn chương.
- Mẹ là Trần Thị Tần, một người đẹp nổi tiếng ở đất
Kinh Bắc.
- Ông có nhiều anh em cùng cha khác mẹ, trong đó có
Nguyễn Khản từng làm quan to.
- Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình đại quí tộc,
có nhiều đời làm quan và có truyền thống văn chương.

2. Thời đại
Nguyễn Du sống trong một
thời kì mà xã hội có nhiều
biến động, chế độ phong kiến
khủng hoảng, các tập đoàn Lê
-Trịnh - Nguyễn chém giết lẫn
nhau. Phong trào nông dân nổi
dậy khắp nơi.
Cuộc sống trong nhung lụa k
được bao lâu thì rơi vào cảnh
lang thang, phiêu bạt.

3. Cuộc đời
- Lúc nhỏ 9 tuổi mất cha, 12 tuổi mất
mẹ, ông ở với anh trai Nguyễn Khản.
- Khi trưởng thành, thời thế biến loạ
nên phải lưu lạc ở đất Bắc 10 năm
(1786-1796); ông về ở ẩn tại quê nhà
(1796-1802).
- Làm quan bất đắc dĩ cho nhà Nguyễn
(1802-1820).

Long thành cầm giả ca là một trong những bộ phim nhựa được xây dựng
nhân sự kiện kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Bộ phim dựa
theo ý tưởng của bài thơ Long thành cầm giả ca của thi hào Nguyễn Du.
Kịch bản phim của Văn Lê được trao giải nhất trong cuộc thi viết về một
nghìn năm Thăng Long. Đạo diễn là Đào Bá Sơn. Các diễn viên chính là 
Quách Ngọc Ngoan (vai Tố Như - Nguyễn Du) và Nhật Kim Anh (vai
Cầm).[1] Ngoài ra còn có các diễn viên nổi tiếng khác tham gia như 
Trần Lực, Bùi Bài Bình.[2

Phim mở đầu với cảnh một cô bé tên Gái soi bóng dưới cái giếng làng. Cô bé sinh ra tại một
vùng quê yên bình, có người mẹ từng là ca kỹ nên cô bé phải nối nghiệp mẹ mình. Sau này
Gái được một người quen đưa lên kinh thành Thăng Long để học đàn, cô bé trở thành học trò
của thầy Nguyễn và được đổi tên Cầm. Ngay lần đầu gặp Cầm, thầy Nguyễn đã thấy ở cô có
tài năng đặc biệt, tiếng đàn của cô mang nhiều cảm xúc hơn những người ca kỹ khác.
Cầm lớn lên với sắc đẹp chim sa cá lặn làm say đắm lòng người cũng như khả năng đàn điêu
luyện. Một hôm binh lính trong kinh thành nổi loạn, chúng tàn phá giết chóc khắp nơi, buộc
người dân phải bỏ chạy khỏi kinh thành. Trong thời gian đi lánh nạn, Tố Như và Cầm gặp
nhau, từ đó họ đem lòng yêu nhau. Tố Như yêu Cầm dù đã có vợ hiền ở quê nhà. Cầm về quê
sống với dì, Tố Như đi phiêu bạt suốt nhiều năm rồi cũng về quê.
Chiến tranh diễn ra, nhà Thanh kéo quân sang xâm lược Đại Việt. Một tên quan nhà Thanh
bắt giữ Cầm để ép buộc cô về phủ riêng đàn cho hắn nghe, đúng lúc đó quân Tây Sơn tấn
công vào, nhờ vậy mà Cầm thoát nạn. Trong thời gian này Tố Như bắt đầu làm thơ, còn Cầm
trở thành ca kỹ nổi tiếng trong vùng. Hai người gặp lại nhau tại nhà một người phú hộ trong
làng. Cầm muốn trao thân xác trong trắng của mình cho Tố Như, nhưng anh từ chối và bỏ đi
xa.
Nhiều năm sau, Tố Như trở thành quan chánh sứ được vua cử đi sứ sang Trung Hoa. Ông gặp
lại Cầm tại thành Thăng Long, hai người giờ đây đều đã già nua. Thấy nhan sắc của người
phụ nữ mình yêu bị tàn phai theo thời gian, Tố Như đã ngẫu hứng làm bài thơ 
Long thành cầm giả ca ngay trong đêm đó. Đây cũng là lần cuối cùng hai người ở bên nhau.

4. Sự nghiệp sáng tác

- Tác phẩm chữ Hán: 249 bài thơ in trong 3 tập
“Thanh hiên thi tập”,
“Nam trung tạp ngâm”,
“Bắc hành tạp lục”...
- Tác phẩm chữ Nôm: “Truyện Kiều”, “ Văn chiêu hồn”…
Truyện Kiều với 3254 câu lục bát, cụ Nguyễn Du đưa thơ ca dân
tộc lên đỉnh cao của thi ca nghệ thuật.

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc. Năm 1965 cụ
được vinh danh làdanh nhân văn hoá thế giới, thiên tài
văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

Traile Long Thành cầm giả
ca

TIẾT 21: CHỦ ĐỀ I
TIẾT 2: TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU- TÁC PHẨM

TiÕng th¬ ai ®éng ®Êt trêi
Nghe như­non nư­íc väng lêi ngµn thu.
Nghìn năm sau nhí NguyÔn Du
TiÕng thư­¬ng như­tiÕng mÑ ru những ngµy.

1. Nguồn gốc và

Hoàn cảnh sáng tác

 Truyện Kiều – tên gốc là Đoạn trường tân thanh, là truyện thơ chữ Nôm theo thể lục
bátcủa Nguyễn Du, gồm 3254 câu lục bát, dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc).
 Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm ra đời khoảng đầu thế kỉ 19,
 Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Lại
có thuyết nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng
Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn. Ngay sau khi ra
đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất
hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở
thời vua Tự Đức.
 Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha
của Thúy Kiều-nhân vật chính trong truyện, một cô gái “sắc nước hương trời” và có tài
“ cầm ký thi họa” nhưng cuộc đời lại gặp lắm truân chuyên.

Mối quan hệ giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện
Như chúng ta đã biết Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nói cho đúng hơn
thì Truyện Kiều có nguồn gốc từ Kim Vân Kiều truyện đời Thanh. Thế nhưng hai tác
phẩm này lại có hai số phận hoàn toàn khác nhau. Nếu nhưTruyện Kiều của Nguyễn
Du được nhiều người ưa chuộng và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau(khoảng
30 bản dịch ra 20 tiếng nước ngoài. Ngoài ra đã có những công trình nghiên cứu so
sánh Truyện Kiều với một số tác phẩm của một số nền văn học dân tộc khác như văn
học Nga, văn học Đức, văn học Hàn Quốc, …). Thì Kim Vân Kiều truyện lại phải
chịu một số phận bất hạnh. Cuốn sách của Thanh Tâm Tài Nhân bị vùi lấp hàng mấy
thế kỉ trong văn học sử Trung Quốc. Nó thất truyền và gần như không tồn tại trong
lịch sử văn học Trung Quốc.

2. Bố cục:

Theo kết cấu truyện Nôm

2. Bố cục: Theo kết cấu truyện Nôm
Gặp gỡ- Chia li- Đoàn tụ

 Truyện thơ Nôm hay Truyện Nôm thể thơ tiếng Việt viết bằng 
chữ Nôm (thường là thơ lục bát) để kể chuyện (trần thuật). Ðây là một
loại hình tự sự có khả năng phản ánh về hiện thực của xã hội và con
người với một phạm vi tương đối rộng, vì vậy có người gọi truyện thơ
Nôm là trung thiên tiểu thuyết (tiểu thuyết vừa). Nội dung của truyện thơ
Nôm thường phản ánh đời sống xã hội cũng như thể hiện quan niệm, lí
tưởng nhân sinh của tác giả thông qua việc miêu tả và thường là miêu tả
chi tiết, tường thuật lại một cách tương đối trọn vẹn cuộc đời, tính cách
nhân vật bằng một cốt truyện với chuỗi các biến cố, sự kiện nổi bật.
Truyện thơ Nôm tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối
thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt dùng chữ Nôm nên
được gọi là truyện Nôm.

2. Bố cục: Theo kết cấu truyện Nôm
Gặp gỡ- Chia li- Đoàn tụ

Phần một: Gặp gỡ và đính ước
- Gia thế và tài sắc chị em Thúy
Kiều
- Gặp gỡ Kim Trọng
- Đính ước thề nguyền

Phần hai: Gia biến và lưu lạc
- Thúy Kiều bán mình cứu cha
- Thúy Kiều rơi vào tay họ Mã
- Thúy Kiều mắc mưu Sở Khanh,
vào lầu xanh lần 1
- Thúy Kiều gặp gỡ làm vợ Thúc
Sinh bị Hoạn Thư đầy đoạ.
- Thúy Kiều vào lầu xanh lần 2,
gặp gỡ Từ Hải.
- Thúy Kiều mắc lừa Hồ Tôn Hiến.
- Thúy Kiều nương nhờ cửa phật.

Phần ba: Đoàn tụ

TÓM TẮT
Thúy Kiều, nhân vật chính trong Truyện Kiều, một cô gái tài sắc vẹn toàn, có
tâm hồn cao thượng. Nhận dịp du xuân, nàng gặp Kim Trọng, một thanh niên hào hoa
phong nhã. Hai người yêu nhau và cùng nhau thề nguyền thủy chung. Nhưng tai họa
bất ngờ ập đến với Kiều. Gia đình bị nạn. Kiều tự nguyện bán mình chuộc cha. Bị bọn
Mã Giám Sinh và Tú Bà đưa vào lầu xanh. Kiều định tự tử để thoát khỏi cảnh ô nhục
nhưng không được. Sau lần mắc mưu Sở Khanh đi trốn bị bắt lại, bị đánh đập tàn
nhẫn, nàng đành chịu tiếp khách. Ít lâu sau, Kiều được Thúc Sinh – một kẻ giàu có say
mê nàng, chuộc nàng về làm vợ lẽ. Nhưng chưa được một năm Kiều lại bị Hoạn Thư,
vợ cả của Thúc Sinh, bày mưu bắt về hành hạ. Nàng bị bắt làm con ở hầu rượu gãy
đàn mua vui cho vợ chồng ả. Khổ nhục quá, Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư nhưng
lại lọt vào một lầu xanh khác.

Ở đây, nàng gặp Từ Hải và trở thành vợ người anh hùng này. Phất cờ
khởi nghĩa, hùng cứ một phương, Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán. Nhưng
cũng chẳng bao lâu, Kiều bị mắc lừa Hồ Tôn Hiến, nàng khuyên Từ Hải ra hàng
phục triều đình, Từ Hải bị phản bội và chết đứng. Kiều bị làm nhục và bị ép gả
cho một viên thổ quan. Đau xót và tủi nhục, nàng đã tự tử ở sông Tiền Đường
nhưng lại được   sư Giác Duyên cứu sống. Kim Trọng và gia đình Thúy Kiều đi
tìm. Sau mười lăm năm trời lưu lạc, Kiều trở lại sum họp với gia đình. Nàng từ
chối không chắp nối mối duyên xưa cùng Kim Trọng mà họ trở thành bạn bè để
giữ tình cảm cho được trong sáng và đẹp đẽ. 
 

Truyện Kiều là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của thiên tài văn
học Nguyễn Du. Là viên ngọc sáng của nền thi ca Trung đại

1. Từ một tiểu thuyết chương hồi ít tiếng tăm, Nguyễn Du đã sang tạo lại
bằng thể truyện thơ chữ nôm với thể thơ lục bát dân tộc kêt hợ hài hoà giữa
yếu tố tự sự với trữ tình từ đó tạo ra một kiệt tác thi ca nổi tiếng giàu tính
nghệ thuật
 2. Cái nhìn của Nguyễn Du với tác phẩm có sự sáng tạo lớn. Tất cả các
nhân vật được bao bọc bởi cái nhìn nhân đạo của ông nên có sự thay đổi về
tính cách, số phận, cách đánh giá các giá trị của nguời đời đối với nhân vật
3. Từ một câu chuyện “tình cổ” xoay quanh ba nhân vật Kim- Vân- Kiều,
Nguyễn Du đã sáng tạo thành một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh
với nhân vật trung tâm lý tưởng là nàng Kiều. Đồng thời Tố Như thể hiện
quan niệm nhân sinh đối với những điều trông thấy:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Cuộc xử oán trong Kim Vân Kiều Truyện:  
... Bấy giờ trong dinh bắt đầu nổi lên một tiếng trống hiệu, bọn lính tay cầm cờ
mầu lam hô to lên rằng: Đem bọn phạm nhân lớp một vào hầu. Hạ Báo (một
viên tướng của Từ Hải - ghi chú của Ngày Nay) liền dẫn Hoạn thị, Kế thị (tức
mẹ của Hoạn Thư), Bạc Bà, Bạc Hãnh vào quỳ dưới sân.
Phu nhân bắt đầu tuyên bố tội trạng: Mụ Bạc Bà kia đẩy người vào trong cạm
bẫy, còn tên Bạc Hãnh, bán người lương thiện vào nhà xướng ca. Vậy theo
đúng lời thề trước của mi, lấy dao vằm nát thân thể, rồi cho ngựa ăn. Còn mụ
Bạc thì đem chặt đầu bêu lên ngọn cây phía trước.
Bọn đao phủ được lệnh dạ lên một tiếng, tức thì lôi mụ Bạc Bà đem ra chặt
đầu. Còn Bạc Hãnh thì dùng chiếu bó như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật
chặt, rồi hai người giữ, một người cầm cưa, cắt từ dưới chân lên đầu thành hơn
100 đoạn. Ghê thay một cái thân hình như vậy mà trong giây phút thịt nát như
bùn, người coi ai cũng hoảng hồn chết ngất. Bọn đao phủ vào bẩm đã thi hành
xong, phu nhân truyền đem đống thịt trộn lẫn với cỏ để cho ngựa ăn.

Kế đó, gọi đến phạm nhân họ Hoạn. Họan Thư chẳng còn hồn vía, kêu xin phu
nhân tha thứ tính mạng kẻ hèn này.
Vương phu nhân rằng: Hoạn tiểu thư, nhà ngươi có nhiều mưu chước hay và cũng
có gan nhẫn nại đó. Nhưng mà bất cứ việc gì cũng nên để lại chút tình, thì sau gặp
gỡ khỏi ngượng. Vậy nay ngươi gặp lại ta, nhất định không thể sống được.
Hoạn Thư khấu đầu lia lịa thưa rằng: Tội của tiện thiếp thực đáng muôn chết,
nhưng xin phu nhân nhớ lại trước kia phu nhân viết tờ cung trạng, làm thiếp tôi
động mối tình thương, nên đã để phu nhân viết kinh trên Quan Âm Các. Rồi khi
phu nhân bước ra khỏi cửa, thiếp chẳng hề đuổi theo. Cái đó đủ biết lòng riêng
riêng vẫn kính yêu, chỉ vì thế bất lưỡng cập (tình thế không cho phép đứng đôi),
nghĩa là không thể cắt sợi tơ tình chia lòng sủng ái, mà nó xui nên tội lỗi oan gia,
dám xin phu nhân xét lại.
Vương phu nhân tỏ vẻ nghĩ ngợi một lát rồi nói tiếp: Ta đây chỉ muốn ăn thịt và lột
da ngươi, để tiêu mối hận ngày trước. Nhưng giờ đây, sở dĩ ngươi được thoát chết
là lúc ta đi ngươi chẳng đuổi theo, tỏ ý hé mở cửa lồng cho chim bay bổng. Nhưng
còn tội sống thì ngươi không thể chối cãi được đâu. Vậy ta hỏi: Bọn sang Lâm
Truy bắt ta là những tên nào? Cứ việc khai đúng sự thực, để chúng gánh bớt một
phần tội lỗi cho ngươi.

Hoạn Thư cúi đầu thưa rằng: Những kẻ thi hành mưu kế dẫu là
Hoạn Khuyển, Hoạn Ưng, nhưng người bầy ra mưu đó chính là tiện
thiếp. Bọn chúng chẳng qua chỉ biết theo lệnh mà thôi. Nếu đem
chúng ra gánh tội thay thì thiếp không nỡ.
Phu nhân rằng: Thế ra ngươi chính là phụ nữ dám nhận cả phần oan
cừu vào mình đó chăng? Rồi nàng gọi quân đao phủ đem bọn Ưng
Khuyển ra chém đầu để cảnh cáo những kẻ hào nô (nô bộc của phú
hào) khác. Đao phủ dạ ran, lôi tuột hai tên ra chém đầu.
Phu nhân lại truyền tả hữu đem Kế thị ra nọc đánh 30 roi. Quân
lính đương sắp ra tay thì Hoạn Thư ôm chầm lấy mẹ xin chịu đòn
thay, và mụ quản gia (quản gia nhà mẹ Hoạn Thư, đã giúp đỡ Kiều
khi nàng bị bắt về Vô Tích, và được Kiều tặng 100 lạng vàng, 2000
lạng bạc trong buổi báo ân xử oán - ghi chú của Ngày Nay) cũng
vội quỳ xuống thưa rằng: Tội trạng của bà chủ tôi quả thực không
thể tha thứ, vậy kẻ tớ già này xin tình nguyện thay chết cho chủ
mẫu.

Mụ quản gia tạ ơn rồi đỡ Kế thị ra ngoài dinh trại. Nhưng Kế thị năm ấy tuổi ngoài
sáu mươi, lại là một vị nhất phẩm phu nhân, chưa từng gặp cảnh khổ nhục bao giờ mà
nay bị bắt từ huyện Vô Tích giải đến, khổ sở biết bao, lại thấy ba quân giết người như
rạ, trong khi tuổi nhiều sức yếu, mụ đã khiếp đảm chết ngay tức thì. Mụ quản gia
đành ngồi một bên để trông nom thi thể.
Vương phu nhân thấy mụ quản gia đem Kế thị đi rồi, bèn truyền lệnh cho cung nữ
đem Hoạn Thư ra, lột trần áo xiêm rồi treo lên đánh 100 trượng.
Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để chừa một cái khố,
tóc bị buộc lên xà nhà. Hai tên cung nữ mỗi tên túm một tay để lôi giăng ra, hai tên
khác thì cầm vọt ngựa đứng trước và sau, một tên đánh từ trên đánh xuống, một tên
đánh từ dưới đánh lên, đánh như con đỉa bỏ trong thùng vôi, con lươn trong vạc nước
nóng, luôn luôn dẫy dụa kêu trời. Toàn thân chẳng còn miếng da nào lành lặn. Sau khi
cung nữ báo cáo đủ 100 roi, phu nhân truyền lệnh lôi ra cho Thúc Sinh nhận lãnh.
Cung nữ vâng lệnh, cởi tóc đem Hoạn Thư xuống, lôi ra phía ngoài gọi Thúc Sinh vào
nhận. Thúc Sinh tạ ơn xong nhìn đến Hoạn Thư, thấy nàng chỉ còn thoi thóp thì chàng
than rằng: Em ơi, chỉ vì cái khiếu thông minh của em đó mà phải rước lấy tai vạ, cầm
dao cắt thịt của mình. Rồi một mặt thu nhận thi thể Kế thị, một mặt đỡ Hoạn Thư về
chạy chữa đến nửa năm trời mới khỏi.

Xử Tú Bà, Mã giám sinh và Sở Khanh
Quân sĩ dạ ran, túm tóc mụ kéo lật về phía sau. Bấy giờ mụ mới nhận rõ là Vương Thúy
Kiều, thì luôn miệng kêu rằng: Tội của kẻ hèn mọn này thật đáng muôn lần bị chết chém.
Chỉ xin phu nhân thương cho phần nào.
Phu nhân cười bảo: Lúc này mà mi còn mơ tưởng đến sự sống sao? Lời thề trước ngọn đèn
trời ngày xưa hỏi đã tiêu tan thế nào được hử? Quân sĩ đâu, lôi con Tú Bà này ra, lấy dầu
vông đun sôi để tẩm vào người, rồi dựng ngược cho đầu xuống đất, chân chổng lên trời,
châm lửa đốt như ngọn đèn trời để làm tròn lời thề ngày trước. Mau lên!
Còn tên Mã Bất Tiến (tên thật của Mã Giám Sinh) thì kẹp chân tay vào mảnh gỗ cho căng
thẳng ra, rồi rạch da và moi gân khiến cho tứ chi rời rạc, để ứng lời thề của nó. Ngoài ra, lại
nấu một nồi dầu thông trộn lẫn với vỏ cây gai, đun thật sôi và lấy thùng nước lã lớn để bên,
rồi đem Sở Khanh ra, lột hết áo xiêm, một người thì múc dầu thông đun sôi rưới vào mình
hắn, một người thì lấy nước lạnh dội theo.
Quân sĩ được lệnh lôi ba phạm nhân ra ngoài. Tú Bà thì cuốn thành một cây sáp lớn. Phía
dưới chỉ lộ cái đầu. Mã Giám Sinh thì bị căng xác. Sở Khanh bị quấn thành một thỏi sắt
nguội.
Đoạn rồi phu nhân hô to: “Đốt sáp”, quân sĩ bèn châm lửa vào chân Tú Bà. Mụ mới bị châm
một mồi lửa đã kêu đau ầm ĩ. Phu nhân mắng rằng: Mi cũng biết đau ư? Cớ sao ngày trước
mi nỡ lòng hủy hoại da thịt người khác? Tú Bà chết ngất, không trả lời được nữa.

Kế đến Mã Giám Sinh, quân sĩ tìm chỗ chùm gân, lấy mũi dao
nhọn khoét da, rồi dùng lưỡi câu móc vào đầu gân, dùng sức lôi
mạnh một cái. Giám Sinh lập tức chết tươi. Quân sĩ rút thêm ba bốn
cái gân nữa làm cho thi thể Giám Sinh rời ra từng mảnh. Phu nhân
bèn sai quẳng ra ngoài bể cho cá nóc ăn để báo lại tội bạc tình.
Còn Sở Khanh bị tẩm dầu thông và keo vỏ gai, bên trong tuy vẫn
còn sống nhưng bên ngoài không cựa quậy được. Quân sĩ chạy đến
bóc lột miếng vỏ gai nơi đầu ra, thì ngoài da đã bị dầu thông ăn
loẽn, chẳng cần dùng sức, chỉ tuốt một cái thì lột hết da. Độ nửa giờ
sau, thân thể Sở Khanh chỉ còn trơ lại một cục máu đỏ lòm nhưng
vẫn còn thoi thóp. Phu nhân lại sai đem nước vôi rưới vào, tức thì
toàn thân Sở Khanh nổi lên những cái mụn như là bọt nước. Rồi
sau ít phút trở thành mủ, rã thịt lòi xương mà chết thê thảm...

  Cuộc xử oán trong Đoạn Trường Tân Thanh:
Cuộc xử oán dông dài và man rợ trong Kim Vân Kiều Truyện được cụ Nguyễn
Du tóm tắt qua 42 câu thơ:
Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều tha tội hoàn toàn cho Hoạn Thư.
Trong Kim Vân Kiều Truyện, Kiều tha tội chết nhưng ra lệnh đánh Hoạn Thư
một cách dã man.
- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều không sai quân sĩ bắt mẹ Hoạn
Thư đem về trị tội như trong Kim Vân Kiều Truyện.
- Cụ Nguyễn Du chỉ tả cảnh xử tội Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hãnh,
Bạc Bà, và Ưng, Khuyển một cách vắn tắt chứ không chi tiết và tàn nhẫn như
trong Kim Vân Kiều Truyện. Qua ngòi bút của cụ Nguyễn Du, chúng ta cảm
thấy đồng tình với Kiều khi nàng tha bổng Hoạn Thư nên không phê phán nàng
nặng nề khi nàng trả thù những nhân vật khác. Trái lại, khi đọc Kim Vân Kiều
Truyện, có lẽ người đọc phải chau mày và có ý niệm chán ghét Kiều trước cách
trừng trị dã man, tàn bạo, thiếu nhân tính nàng áp dụng đối với kẻ thù.

NHỮNG CÂU THƠ HAY MIÊU TẢ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU

Thúy Kiều:
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Kim Trọng:
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

Thúc Sinh
Khách du bỗng có một người
          Kì Tâm họ Thúc, cũng nòi thư hương.
          Vốn người huyện Tích, châu Thường
          Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.
Từ Hải
  “Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đông
Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.”
Râu hùm, hàm én, mày ngài.
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”

NHÂN VẬT PHẢN DIỆN

Mã Giám Sinh:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,

Tú Bà:
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoắt trông lờn lợt mầu da,
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?
Sở Khanh:
Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng;
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.

TIẾT 22
TIẾT 3: TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU- TÁC PHẨM
 
Gửi ý kiến