CTST - Bài 2. Châu Âu và nước Mỹ từ năm 1918 đến năm 1945

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nga
Người gửi: Lương Trung Nguyên
Ngày gửi: 17h:46' 20-06-2024
Dung lượng: 9.1 MB
Số lượt tải: 966
Nguồn: Nga
Người gửi: Lương Trung Nguyên
Ngày gửi: 17h:46' 20-06-2024
Dung lượng: 9.1 MB
Số lượt tải: 966
Số lượt thích:
0 người
Quan sát hình
ảnh và cho biết
ý nghĩa của ảnh
Đứng trước cổng nhà máy đã bị khoá, người thợ tuyệt vọng
nhìn vào và tự hỏi: “Khi nào cuộc khủng hoảng sẽ kết thúc?".
Hình ảnh này phản ánh tâm trạng chung của người dân Âu
Mỹ trước một loạt các biến động của lịch sử diễn ra dồn đập
trong thập niên 1930. Vào quãng thời gian giữa hai cuộc chiến
lớn của thế kỉ XX, tình hình chính trị, kinh tế của châu Âu và
nước Mỹ đã phát triển ra sao? Sự phát triển đó gắn với
những biến cố lớn nào của lịch sử? Để biết được những điều
này, lớp chúng ta cùng tìm hiểu qua bài học hôm nay.
Hãy nêu nguyên nhân dẫn đến phong trào cách mạng
ở các nước châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
+ Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga.
+ Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến tình
hình châu Âu có nhiều thay đổi, như: các nước Anh,
Pháp, Đức, ... phải đối mặt với nền kinh tế bị tàn phá, tỉ
lệ thất nghiệp cao, lạm phát tăng vọt, đời sống nhân dân
gặp nhiều khó khăn, mâu thuẫn xã hội căng thẳng
- Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,
dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng
Mười Nga và hậu quả của chiến tranh
Tình hình châu Âu có nhiều thay đổi.
Cho biết sự kiện tiêu biểu của
phong trào cách mạng 1918-1923
+ Tháng 11/1918, quần chúng nổi dậy buộc Hoàng đế
Đức thoái vị, kéo theo sự sụp đổ của chế độ quân chủ.
+ Tháng 12/1918, Đảng Cộng sản thành lập tại Đức.
+ Chính quyền Xô viết được thành lập ở Đức và
Hung-ga-ri nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
- Tháng 11/1918, Hoàng đế Đức thoái vị,
kéo theo sự sụp đổ của chế độ quân chủ.
- Tháng 12/1918, Đảng Cộng sản thành
lập tại Đức.
Phong trào cách mạng trong
thời kì này đã mang đến hệ quả gì?
Sự phát triển của phong trào cách mạng
1918 – 1923 đã đặt ra yêu cầu cần phải
thành lập một tổ chức quốc tế để lãnh
đạo cách mạng thế giới.
Hãy trình bày ý nghĩa của việc thành lập Quốc tế Cộng
sản (1919) đối với phong trào cách mạng trên thế giới
+ Đóng vai trò tổ chức lãnh đạo, thống nhất đường
lối hoạt động của phong trào cộng sản ở châu Âu.
+ Thúc đẩy phong trào cách mạng ở châu Âu tiếp tục
phát triển, dẫn đến đến sự ra đời của các đảng cộng
sản tại Pháp, Anh (1920), I-ta-li-a (1921),…
- Năm 1919, thành lập Quốc tế Cộng sản
ở Mát-xcơ-va.
- Nhiều đảng cộng sản ra đời tại Pháp,
Anh (1920), I-ta-li-a (1921)
Năm 1923, nước Đức trải qua
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923 thời kỳ siêu lạm phát trầm
trọng khi tỷ lệ lạm phát lên tới
29.500%. Vụ lạm phát tồi tệ
này đã ảnh hưởng lớn đến
cuộc sống của người dân, thậm
chí người ta còn đốt tiền thay
cho củi và than.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Nước Đức trải qua thời kỳ
siêu lạm phát kể từ năm
1921. Đến năm 1923, Đức
rơi vào lạm phát trầm trọng
nhất vào hồi tháng 10/1923
khi tỉ lệ lạm phát lên tới
29.500%
Kinh hoàng thời kỳ siêu Vào thời điểm 12/1923, người
lạm phát ở Đức năm 1923 Đức phải bỏ ra 4.200 tỷ mác
(papiermark) để đổi lấy 1
USD. Điều này cho thấy vụ
lạm phát phi mã tồi tệ này ảnh
hưởng nghiêm trọng đến cuộc
sống của người dân ra sao.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Do đồng mác bị mất giá
lạm phát ở Đức năm 1923
thảm hại do lạm phát nên
người dân Đức không dùng
đến củi và than mà thay cho
đồng tiền đang lưu hành vào
những năm 1920.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Thậm chí, có người còn
dung tiền để đốt vì chúng
còn rẻ hơn so với việc bỏ
tiền ra mua củi và than.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Nguyên nhân đẩy nước
Đức vào tình trạng lạm
phát trên là do chính phủ
Đức quyết định vay mượn
để chi trả chiến tranh sau
khi bại trận trong Chiến
tranh thế giới thứ nhất.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Khi Chiến tranh thế giới thứ
lạm phát ở Đức năm 1923
nhất kết thúc, khoản tiền bồi
thường sau chiến tranh được
quy định trong Hiệp ước
Versailles buộc Đức phải trả
bằng vàng hay ngoại tệ tương
ứng thay về đồng mác.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Do vậy, để mua ngoại tệ trả
lạm phát ở Đức năm 1923 khoản bồi thường chiến tranh,
chính phủ Đức sử dụng đồng
papiermark được đảm bảo
bằng nợ chính phủ. Chính điều
này đã làm tăng tốc độ phá giá
đồng tiền đang lưu thông.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Trẻ em Đức sử dụng tiền
để xếp mô hình trò chơi.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Tình hình nước Pháp
càng trở nên tồi tệ hơn
khi Đức không thể trả
được các khoản nợ khiến
tình trạng lạm phát ngày
càng trở nên tồi tệ.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Sau một thời gian dài lâm vào tình
lạm phát ở Đức năm 1923 trạng lạm phát, chính phủ Đức lập
một ngân hàng trung ương đặc biệt
và cho phát hành loại tiền tệ mới là
rentenmark
với
tỷ
giá
4,2
rentenmark/USD và giảm bớt 12 số
0 trên tờ papiermark. Nhờ giải
pháp này, kinh tế Đức đã dần ổ
định và đi vào quỹ đạo.
Hãy nêu các biểu hiện của cuộc khủng
hoảng kinh tế những năm 30 của thế kỉ XX
+ Hàng chục triệu người thất nghiệp.
+ Nhiều nhà máy, nông trại bị phá sản,…
+ Hoài nghi sự tồn tại của chế độ cộng hòa
- Kinh tế của nước Mỹ và
châu Âu bị khủng hoảng
nghiêm trọng (1929 – 1933)
Tại sao có thể xem cuộc khủng hoảng
này có phạm vi ảnh hưởng toàn thế giới?
Vì cuộc khủng hoảng bùng nổ đầu tiên ở
Mĩ sau đó nhanh chóng lan rộng sang châu
Âu và các châu lục khác.
- Cuộc khủng hoảng bùng nổ
đầu tiên ở Mỹ sau đó nhanh
chóng lan rộng sang châu Âu
và các châu lục khác.
Tư liệu 2.3, 2.4 thể hiện những khía
cạnh nào của cuộc khủng hoảng?
Tư liệu 2.3, 2.4 thể hiện những khía
cạnh của cuộc khủng hoảng là: thể
hiện hậu quả của cuộc đại suy thoái.
+ Hình 2.3:
Thị
trường
chứng
khoán phố Uôn (Wall)
sụp đổ
6
triệu
người
thất
nghiệp ở Đức
Khủng hoảng chính trị
ở Pháp.
+ Hình 2.4:
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Pháp năm 1929 là 100% nhưng đến
năm 1932 còn 78%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Vương quốc Anh năm 1929 là 100%
nhưng đến năm 1932 còn 85%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Thế giới năm 1929 là 100%
nhưng đến năm 1932 còn 65%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Đức năm 1929 là 100% nhưng
đến năm 1932 còn 58%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Hoa Kỳ năm 1929 là 100% nhưng
đến năm 1932 còn 55%
Hoạt động sản xuất công
nghiệp của Thế giới và một số
nước châu Âu từ năm 1929 đến
năm 1932 liên tục giảm mạnh.
- Trong thời kì đại suy thoái này,
hàng chục triệu người thất nghiệp,
nhiều nhà máy, nông trại bị phá sản,
hoài nghi sự tồn tại của chế độ cộng
hòa.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 là
một trong những sự kiện lịch sử quan trọng
nhất của thế kỷ 20, đã gây ra những hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế và xã hội của
nhiều quốc gia trên thế giới.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933,
thường được gọi là “Đại suy thoái,” là một
trong những sự kiện kinh tế quan trọng và
khủng bố nhất trong lịch sử kinh tế của Hoa
Kỳ và thế giới.
Nó bắt đầu vào ngày 29 tháng 10 năm 1929,
được gọi là “Ngày Thứ Tư Đen,” khi thị
trường chứng khoán Wall Street của New
York trải qua một sụp đổ toàn diện. Khủng
hoảng này lan rộng ra toàn cầu và kéo dài
đến cuối những năm 1930.
Bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929
– 1933 là vì các nước tư bản cố gắng đuổi
theo lợi nhuận, sản xuất quá nhiều và dồn
dập, nhưng sức mua của người dân không
thể đáp ứng được vì họ quá nghèo.
Cuộc khủng hoảng này thể hiện sự tham
lam, tàn độc của đế quốc và thực dân, gây
ra cảnh người dân khốn cùng, điêu đứng
và buộc phải nổi dậy đấu tranh giành lại
cuộc sống.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 bắt
đầu từ Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới, gây
ra những hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế,
xã hội và chính trị. Có thể chia diễn biến của
cuộc khủng hoảng thành ba giai đoạn chính:
Giai đoạn 1
Từ tháng 9/1929 đến tháng 10/1929, là giai đoạn bùng
nổ của cuộc khủng hoảng. Vào ngày 29/10/1929, còn
gọi là Thứ Ba Đen Tối, thị trường chứng khoán Mỹ
sụp đổ, gây ra sự hoảng loạn và mất niềm tin của các
nhà đầu tư. Hàng triệu cổ phiếu bị bán tháo, giá cổ
phiếu giảm sâu, nhiều ngân hàng và công ty phá sản.
Giai đoạn 2
Từ tháng 11/1929 đến năm 1932, là giai đoạn lan rộng và
sâu sắc của cuộc khủng hoảng. Do sự thu hẹp của thị
trường Mỹ, các nước xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ bị
ảnh hưởng nặng nề. Do sự áp dụng của Luật Thuế Hải
Quan Smoot-Hawley, các nước khác cũng đáp trả bằng
cách tăng thuế nhập khẩu, dẫn đến sự suy giảm của
thương mại quốc tế.
Do sự ràng buộc của tiêu chuẩn vàng, các
nước không thể tăng cường lượng tiền lưu
thông để kích thích kinh tế, mà phải duy trì
tỷ giá hối đoái cố định. Do đó, kinh tế các
nước liên tục suy thoái, sản xuất giảm sút,
giá cả giảm phát, thất nghiệp tăng cao, người
dân khốn khổ.
Giai đoạn 3
Từ năm 1933 đến năm 1939, là giai đoạn phục hồi và thoát
khỏi cuộc khủng hoảng. Các nước đã áp dụng các biện pháp
khác nhau để vượt qua khủng hoảng. Mỹ đã thực
hiện Chương Trình Cải Cách New Deal của Tổng Thống
Franklin D. Roosevelt, nhằm can thiệp vào kinh tế bằng cách
tăng chi tiêu công, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, điều tiết
thị trường chứng khoán và ngân hàng, rời bỏ tiêu chuẩn vàng.
Các nước châu Âu đã theo hướng Chủ Nghĩa
Phổ Cập Xã Hội, nhằm xây dựng một nền
kinh tế hỗn hợp giữa tư bản và xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ quyền lợi của người lao động,
cải thiện phúc lợi xã hội, thúc đẩy hợp tác
quốc tế.
Một số nước đã theo hướng Chủ Nghĩa Quốc Xã, nhằm
khôi phục kinh tế bằng cách tăng cường quân sự hóa,
xây dựng chế độ độc tài, thực hiện chính sách bành
trướng và xâm lược . Những biện pháp này đã có những
kết quả khác nhau, nhưng đều không thể giải quyết triệt
để nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng, mà chỉ
dẫn đến những mâu thuẫn mới và cuối cùng là Chiến
Tranh Thế Giới Thứ Hai.
ảnh và cho biết
ý nghĩa của ảnh
Đứng trước cổng nhà máy đã bị khoá, người thợ tuyệt vọng
nhìn vào và tự hỏi: “Khi nào cuộc khủng hoảng sẽ kết thúc?".
Hình ảnh này phản ánh tâm trạng chung của người dân Âu
Mỹ trước một loạt các biến động của lịch sử diễn ra dồn đập
trong thập niên 1930. Vào quãng thời gian giữa hai cuộc chiến
lớn của thế kỉ XX, tình hình chính trị, kinh tế của châu Âu và
nước Mỹ đã phát triển ra sao? Sự phát triển đó gắn với
những biến cố lớn nào của lịch sử? Để biết được những điều
này, lớp chúng ta cùng tìm hiểu qua bài học hôm nay.
Hãy nêu nguyên nhân dẫn đến phong trào cách mạng
ở các nước châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
+ Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga.
+ Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến tình
hình châu Âu có nhiều thay đổi, như: các nước Anh,
Pháp, Đức, ... phải đối mặt với nền kinh tế bị tàn phá, tỉ
lệ thất nghiệp cao, lạm phát tăng vọt, đời sống nhân dân
gặp nhiều khó khăn, mâu thuẫn xã hội căng thẳng
- Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,
dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng
Mười Nga và hậu quả của chiến tranh
Tình hình châu Âu có nhiều thay đổi.
Cho biết sự kiện tiêu biểu của
phong trào cách mạng 1918-1923
+ Tháng 11/1918, quần chúng nổi dậy buộc Hoàng đế
Đức thoái vị, kéo theo sự sụp đổ của chế độ quân chủ.
+ Tháng 12/1918, Đảng Cộng sản thành lập tại Đức.
+ Chính quyền Xô viết được thành lập ở Đức và
Hung-ga-ri nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
- Tháng 11/1918, Hoàng đế Đức thoái vị,
kéo theo sự sụp đổ của chế độ quân chủ.
- Tháng 12/1918, Đảng Cộng sản thành
lập tại Đức.
Phong trào cách mạng trong
thời kì này đã mang đến hệ quả gì?
Sự phát triển của phong trào cách mạng
1918 – 1923 đã đặt ra yêu cầu cần phải
thành lập một tổ chức quốc tế để lãnh
đạo cách mạng thế giới.
Hãy trình bày ý nghĩa của việc thành lập Quốc tế Cộng
sản (1919) đối với phong trào cách mạng trên thế giới
+ Đóng vai trò tổ chức lãnh đạo, thống nhất đường
lối hoạt động của phong trào cộng sản ở châu Âu.
+ Thúc đẩy phong trào cách mạng ở châu Âu tiếp tục
phát triển, dẫn đến đến sự ra đời của các đảng cộng
sản tại Pháp, Anh (1920), I-ta-li-a (1921),…
- Năm 1919, thành lập Quốc tế Cộng sản
ở Mát-xcơ-va.
- Nhiều đảng cộng sản ra đời tại Pháp,
Anh (1920), I-ta-li-a (1921)
Năm 1923, nước Đức trải qua
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923 thời kỳ siêu lạm phát trầm
trọng khi tỷ lệ lạm phát lên tới
29.500%. Vụ lạm phát tồi tệ
này đã ảnh hưởng lớn đến
cuộc sống của người dân, thậm
chí người ta còn đốt tiền thay
cho củi và than.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Nước Đức trải qua thời kỳ
siêu lạm phát kể từ năm
1921. Đến năm 1923, Đức
rơi vào lạm phát trầm trọng
nhất vào hồi tháng 10/1923
khi tỉ lệ lạm phát lên tới
29.500%
Kinh hoàng thời kỳ siêu Vào thời điểm 12/1923, người
lạm phát ở Đức năm 1923 Đức phải bỏ ra 4.200 tỷ mác
(papiermark) để đổi lấy 1
USD. Điều này cho thấy vụ
lạm phát phi mã tồi tệ này ảnh
hưởng nghiêm trọng đến cuộc
sống của người dân ra sao.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Do đồng mác bị mất giá
lạm phát ở Đức năm 1923
thảm hại do lạm phát nên
người dân Đức không dùng
đến củi và than mà thay cho
đồng tiền đang lưu hành vào
những năm 1920.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Thậm chí, có người còn
dung tiền để đốt vì chúng
còn rẻ hơn so với việc bỏ
tiền ra mua củi và than.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Nguyên nhân đẩy nước
Đức vào tình trạng lạm
phát trên là do chính phủ
Đức quyết định vay mượn
để chi trả chiến tranh sau
khi bại trận trong Chiến
tranh thế giới thứ nhất.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Khi Chiến tranh thế giới thứ
lạm phát ở Đức năm 1923
nhất kết thúc, khoản tiền bồi
thường sau chiến tranh được
quy định trong Hiệp ước
Versailles buộc Đức phải trả
bằng vàng hay ngoại tệ tương
ứng thay về đồng mác.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Do vậy, để mua ngoại tệ trả
lạm phát ở Đức năm 1923 khoản bồi thường chiến tranh,
chính phủ Đức sử dụng đồng
papiermark được đảm bảo
bằng nợ chính phủ. Chính điều
này đã làm tăng tốc độ phá giá
đồng tiền đang lưu thông.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Trẻ em Đức sử dụng tiền
để xếp mô hình trò chơi.
Kinh hoàng thời kỳ siêu
lạm phát ở Đức năm 1923
Tình hình nước Pháp
càng trở nên tồi tệ hơn
khi Đức không thể trả
được các khoản nợ khiến
tình trạng lạm phát ngày
càng trở nên tồi tệ.
Kinh hoàng thời kỳ siêu Sau một thời gian dài lâm vào tình
lạm phát ở Đức năm 1923 trạng lạm phát, chính phủ Đức lập
một ngân hàng trung ương đặc biệt
và cho phát hành loại tiền tệ mới là
rentenmark
với
tỷ
giá
4,2
rentenmark/USD và giảm bớt 12 số
0 trên tờ papiermark. Nhờ giải
pháp này, kinh tế Đức đã dần ổ
định và đi vào quỹ đạo.
Hãy nêu các biểu hiện của cuộc khủng
hoảng kinh tế những năm 30 của thế kỉ XX
+ Hàng chục triệu người thất nghiệp.
+ Nhiều nhà máy, nông trại bị phá sản,…
+ Hoài nghi sự tồn tại của chế độ cộng hòa
- Kinh tế của nước Mỹ và
châu Âu bị khủng hoảng
nghiêm trọng (1929 – 1933)
Tại sao có thể xem cuộc khủng hoảng
này có phạm vi ảnh hưởng toàn thế giới?
Vì cuộc khủng hoảng bùng nổ đầu tiên ở
Mĩ sau đó nhanh chóng lan rộng sang châu
Âu và các châu lục khác.
- Cuộc khủng hoảng bùng nổ
đầu tiên ở Mỹ sau đó nhanh
chóng lan rộng sang châu Âu
và các châu lục khác.
Tư liệu 2.3, 2.4 thể hiện những khía
cạnh nào của cuộc khủng hoảng?
Tư liệu 2.3, 2.4 thể hiện những khía
cạnh của cuộc khủng hoảng là: thể
hiện hậu quả của cuộc đại suy thoái.
+ Hình 2.3:
Thị
trường
chứng
khoán phố Uôn (Wall)
sụp đổ
6
triệu
người
thất
nghiệp ở Đức
Khủng hoảng chính trị
ở Pháp.
+ Hình 2.4:
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Pháp năm 1929 là 100% nhưng đến
năm 1932 còn 78%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Vương quốc Anh năm 1929 là 100%
nhưng đến năm 1932 còn 85%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Thế giới năm 1929 là 100%
nhưng đến năm 1932 còn 65%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Đức năm 1929 là 100% nhưng
đến năm 1932 còn 58%
Chỉ số sản xuất công nghiệp của
Hoa Kỳ năm 1929 là 100% nhưng
đến năm 1932 còn 55%
Hoạt động sản xuất công
nghiệp của Thế giới và một số
nước châu Âu từ năm 1929 đến
năm 1932 liên tục giảm mạnh.
- Trong thời kì đại suy thoái này,
hàng chục triệu người thất nghiệp,
nhiều nhà máy, nông trại bị phá sản,
hoài nghi sự tồn tại của chế độ cộng
hòa.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 là
một trong những sự kiện lịch sử quan trọng
nhất của thế kỷ 20, đã gây ra những hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế và xã hội của
nhiều quốc gia trên thế giới.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933,
thường được gọi là “Đại suy thoái,” là một
trong những sự kiện kinh tế quan trọng và
khủng bố nhất trong lịch sử kinh tế của Hoa
Kỳ và thế giới.
Nó bắt đầu vào ngày 29 tháng 10 năm 1929,
được gọi là “Ngày Thứ Tư Đen,” khi thị
trường chứng khoán Wall Street của New
York trải qua một sụp đổ toàn diện. Khủng
hoảng này lan rộng ra toàn cầu và kéo dài
đến cuối những năm 1930.
Bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929
– 1933 là vì các nước tư bản cố gắng đuổi
theo lợi nhuận, sản xuất quá nhiều và dồn
dập, nhưng sức mua của người dân không
thể đáp ứng được vì họ quá nghèo.
Cuộc khủng hoảng này thể hiện sự tham
lam, tàn độc của đế quốc và thực dân, gây
ra cảnh người dân khốn cùng, điêu đứng
và buộc phải nổi dậy đấu tranh giành lại
cuộc sống.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 bắt
đầu từ Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới, gây
ra những hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế,
xã hội và chính trị. Có thể chia diễn biến của
cuộc khủng hoảng thành ba giai đoạn chính:
Giai đoạn 1
Từ tháng 9/1929 đến tháng 10/1929, là giai đoạn bùng
nổ của cuộc khủng hoảng. Vào ngày 29/10/1929, còn
gọi là Thứ Ba Đen Tối, thị trường chứng khoán Mỹ
sụp đổ, gây ra sự hoảng loạn và mất niềm tin của các
nhà đầu tư. Hàng triệu cổ phiếu bị bán tháo, giá cổ
phiếu giảm sâu, nhiều ngân hàng và công ty phá sản.
Giai đoạn 2
Từ tháng 11/1929 đến năm 1932, là giai đoạn lan rộng và
sâu sắc của cuộc khủng hoảng. Do sự thu hẹp của thị
trường Mỹ, các nước xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ bị
ảnh hưởng nặng nề. Do sự áp dụng của Luật Thuế Hải
Quan Smoot-Hawley, các nước khác cũng đáp trả bằng
cách tăng thuế nhập khẩu, dẫn đến sự suy giảm của
thương mại quốc tế.
Do sự ràng buộc của tiêu chuẩn vàng, các
nước không thể tăng cường lượng tiền lưu
thông để kích thích kinh tế, mà phải duy trì
tỷ giá hối đoái cố định. Do đó, kinh tế các
nước liên tục suy thoái, sản xuất giảm sút,
giá cả giảm phát, thất nghiệp tăng cao, người
dân khốn khổ.
Giai đoạn 3
Từ năm 1933 đến năm 1939, là giai đoạn phục hồi và thoát
khỏi cuộc khủng hoảng. Các nước đã áp dụng các biện pháp
khác nhau để vượt qua khủng hoảng. Mỹ đã thực
hiện Chương Trình Cải Cách New Deal của Tổng Thống
Franklin D. Roosevelt, nhằm can thiệp vào kinh tế bằng cách
tăng chi tiêu công, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, điều tiết
thị trường chứng khoán và ngân hàng, rời bỏ tiêu chuẩn vàng.
Các nước châu Âu đã theo hướng Chủ Nghĩa
Phổ Cập Xã Hội, nhằm xây dựng một nền
kinh tế hỗn hợp giữa tư bản và xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ quyền lợi của người lao động,
cải thiện phúc lợi xã hội, thúc đẩy hợp tác
quốc tế.
Một số nước đã theo hướng Chủ Nghĩa Quốc Xã, nhằm
khôi phục kinh tế bằng cách tăng cường quân sự hóa,
xây dựng chế độ độc tài, thực hiện chính sách bành
trướng và xâm lược . Những biện pháp này đã có những
kết quả khác nhau, nhưng đều không thể giải quyết triệt
để nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng, mà chỉ
dẫn đến những mâu thuẫn mới và cuối cùng là Chiến
Tranh Thế Giới Thứ Hai.
 







Các ý kiến mới nhất