Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

CTST - Bài 17. Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1965

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Cô Nga
Người gửi: Lương Trung Nguyên
Ngày gửi: 21h:11' 16-08-2024
Dung lượng: 24.1 MB
Số lượt tải: 678
Số lượt thích: 2 người (Võ Thị Mỹ Hương, Nguyễn Thị Hương)
Giáo viên: Phạm Thị Thanh Nga

Quan sát hình ảnh và cho biết:
Em biết gì về hình ảnh này

Chiếc cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17 như một nhân
chứng lịch sử chứng kiến cuộc đấu tranh cho khát
vọng thống nhất non sông của cả dân tộc. Từ năm
1954 đến năm 1965 nhân dân Việt Nam đã xây dựng
đất nước, chống Mỹ, cứu nước và đạt được những
thắng lợi tiêu biểu nào? Để biết được những điều này,
lớp chúng ta cùng tìm hiểu qua bài học hôm nay.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương
năm 1954 thì tình hình miền Bắc như thế nào?
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương năm
1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến
hành hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi
phục kinh tế và chi viện cho miền Nam đấu
tranh thống nhất đất nước.

Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954

THẢO LUẬN NHÓM (5 PHÚT)
- Nhóm 1+2+3: Hãy nêu những
thành tựu tiêu biểu trong công
cuộc xây dựng miền Bắc xã hội
chủ nghĩa giai đoạn 1954-1957.
- Nhóm 4+5+6: Hãy nêu những thành tựu
tiêu biểu trong công cuộc xây dựng miền
Bắc xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1958-1960.

Nhóm 1+2+3: Những thành tựu tiêu biểu trong công cuộc
xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1954-1957:
+ Từ năm 1954 - 1956: Thực
hiện chủ trương “người cày
có ruộng”, miền Bắc hoàn
thành 4 đợt cải cách ruộng
đất và 6 đợt giảm tô ở 22
tỉnh đồng bằng và trung du.

a. Phục hồi nền kinh tế, bước đầu phát triển
kinh tế - xã hội sau chiến tranh (1954 - 1960)
- Từ năm 1954 - 1956: Thực hiện chủ trương
“người cày có ruộng”, miền Bắc hoàn thành 4
đợt cải cách ruộng đất và 6 đợt giảm tô ở 22
tỉnh đồng bằng và trung du.

Cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1954

Nhóm 1+2+3: Những thành tựu tiêu biểu trong công cuộc
xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1954-1957:
+ Sau cải cách, bộ mặt nông thôn miền Bắc có nhiều thay
đổi:
. Ruộng đất bỏ hoang không còn
. Sản lượng lương thực tăng vượt mức trước chiến tranh
. Nạn đói ở miền Bắc cơ bản được giải quyết
. Khối liên minh công – nông được củng cố

+ Nông nghiệp: Ruộng đất bỏ hoang
không còn, sản lượng lương thực
tăng, giải quyết được nạn đói,..

Nhóm 1+2+3: Những thành tựu tiêu biểu trong công cuộc
xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1954-1957:
. Công nghiệp và giao thông vận tải cũng phục hồi và
phát triển
. Các bến cảng như Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Bến
Thủy được xây dựng lại và mở rộng.
. Đường hàng không dân dụng quốc tế được khai thông.

Bến cảng Hải Phòng xưa và nay

Bến cảng Hòn Gai xưa và nay

Bến cảng Cẩm Phả xưa và nay

Bến cảng Bến Thủy xưa và nay

+ Công nghiệp và giao thông vận tải cũng phục
hồi và phát triển
+ Các bến cảng được xây dựng lại và mở rộng.
+ Đường hàng không dân dụng quốc tế được
khai thông.

Trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất đã xảy ra
một số sai lầm nhưng Đảng, Chính phủ đã phát hiện và
kịp thời sửa sai, khắc phục hậu quả trong năm 1957

Nhóm 4+5+6: Những thành tựu tiêu biểu trong công cuộc
xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1958-1960:
Thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất
+ Nông nghiệp: Cuối năm 1960 miền Bắc đã có trên 80% hộ
nông dân với 70% ruộng đất vào hợp tác xã nông nghiệp, sản
xuất nông nghiệp phát triển, hợp tác xã đảm bảo đời sống
cho nhân dân lao động, tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho
những người ra đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

- Từ năm 1958 – 1960: Thực hiện cải
tạo quan hệ sản xuất
+ Nông nghiệp: sản xuất nông nghiệp
phát triển, hợp tác xã đảm bảo đời
sống cho nhân dân lao động.

+ Công nghiệp: Thành phần kinh tế quốc doanh
được chú trọng phát triển, chiếm 89,9% tổng sản
lượng công nghiệp toàn miền Bắc (năm 1960)
+ Nhiều công trình quan trọng cho nền kinh tế quốc
dân bắt đầu được xây dựng:
. Nhà máy điện Việt Trì (1959)
. Khu gang thép Thái Nguyên (1959)
. Nhà máy dệt 8-3 (1960)

Nhà máy điện

Nhà máy điện Việt Trì được khởi

Việt Trì (1959)

công xây dựng năm 1959, khánh
thành ngày 18/3/1962 với công suất
16.000 kW. Nhiệm vụ của Nhà máy
cung cấp điện, hơi nóng, nước công
nghiệp cho các nhà máy Khu công
nghiệp Việt Trì; Nối lưới 110kV
miền Bắc cung cấp điện năng cho
nền kinh tế quốc dân.

Khu gang thép
Thái Nguyên (1959)

Ngày 04-6-1959, Hội đồng Chính phủ đã
quyết định thành lập công trường Khu
gang thép Thái Nguyên và chỉ định Ban chỉ
huy công trường, do đồng chí Đinh Đức
Thiện, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng
làm trưởng ban. Tự hào về công trình công
nghiệp nặng đầu tiên của cả nước được xây
dựng trên quê hương Thái Nguyên, Công
trường Khu công nghiệp gang thép đã thu
hút hơn 1,5 vạn lao động từ mọi miền đất
nước đến tham gia xây dựng.

Nhà máy dệt 8-3

Nhà máy Dệt 8-3 được khởi công xây

(1960)

dựng năm 1960 tại Hà Nội. Sau 5 năm,
nhân ngày Quốc tế Phụ nữ, nhà máy
đã được khánh thành và chính thức đi
vào hoạt động đúng ngày 8/3/1965.
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ, cán bộ, công nhân
nhà máy vừa bám trụ sản xuất, vừa chi
viện cho chiến trường miền Nam.

. Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải
(1959)  Chấm dứt tình trạng “mười năm
chín hạn”, đảm bảo nước cho sản xuất nông
nghiệp và đời sống của nhân dân ba tỉnh:
Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải: Từ niềm tự hào thành dòng
sông chết
Với diện tích tự nhiên hơn 20 nghìn ha, khu vực Bắc Hưng
Hải được bao bọc bởi sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc và
sông Thái Bình. Ngay sau khi hòa bình lập lại, Đảng và
Chính phủ, trực tiếp là Bộ Kiến trúc và Thủy lợi cũ đã chỉ
đạo, nghiên cứu xây dựng hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang
ý Đảng, lòng dân

Ngày 1.10.1958, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã bổ nhát cuốc đầu tiên tại
cống Xuân Quan, mở đầu việc xây
dựng công trình đại thủy nông Bắc
Hưng Hải. Sau đó, vì lợi ích lâu dài,
chỉ trong hơn một tuần lễ, gần 150 hộ
gia đình ở Bát Tràng đã tự nguyện di
dời sang làng mới.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang
ý Đảng, lòng dân

Người dân làng Xuân Quan,
Cửu Cao thuộc huyện Văn
Giang, Hưng Yên cũng đã hy
sinh 150 ha lúa nhường chỗ cho
việc đào kênh dẫn nước vào
cống Xuân Quan.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang
ý Đảng, lòng dân

Ban chỉ huy công trường do Sư đoàn
trưởng Sư đoàn 350 bảo vệ Thủ đô Hà
Kế Tấn được Bác Hồ trực tiếp giao
nhiệm vụ làm Trưởng Ban và hàng
vạn bộ đội, học sinh cùng dân công
các huyện Gia Lương, Thuận Thành
(Bắc Ninh) sang; từ Gia Lộc, Bình
Giang, Thanh Miện (Hải Dương) lên;

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang
ý Đảng, lòng dân

từ Kim Động, Khoái Châu, Văn
Giang (Hưng Yên)… nô nức lên công
trường, ra quân với khí thế quyết
thắng. Các xã xung quanh công
trường cũng huy động thanh thiếu
niên phát quang đường sá, dọn vệ sinh
nhà cửa, vét giếng, sửa cầu náo nức
đón tiếp dân công.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang

Các cửa hàng lương thực, thực

ý Đảng, lòng dân

phẩm, cửa hàng bách hóa Bắc
Hưng Hải hoạt động nhộn nhịp.
Dọc theo đê Xuân Quan, Bát Tràng,
giăng kín khẩu hiệu, cờ đỏ sao vàng
bay phất phới, tiếng loa truyền
thanh vang suốt đêm ngày.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang
ý Đảng, lòng dân

Đến thăm công trường lần đầu tiên,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh
ý nghĩa của đại thủy nông Bắc  Hưng
Hải đối với công việc chống hạn.
Người mong muốn đồng bào và cán
bộ các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải
Dương khắc phục mọi khó khăn, hoàn
thành thắng lợi công trình.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang

Người nói rằng, “Công trình Bắc

ý Đảng, lòng dân

Hưng Hải thành công thì mỗi năm
đồng bào đỡ mấy triệu công chống
hạn, thu hoạch lại càng tăng thêm.
Bây giờ chịu khó phấn đấu trong
mấy tháng. Sau này sẽ hưởng hạnh
phúc lâu dài hàng trăm năm”.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang

Trở lại thăm công trường lần thứ hai,

ý Đảng, lòng dân

nói chuyện với gần 3 vạn dân công,
công nhân, cán bộ trên công trường,
Bác Hồ nhấn mạnh, “Việc xây dựng
công trình Bắc Hưng Hải là một chiến
dịch. Trong chiến dịch này, ta phải có
tinh thần quyết chiến quyết thắng.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Công trình mang

Các đảng viên, đoàn viên, thanh niên,

ý Đảng, lòng dân

công nhân, cán bộ phải làm gương
mẫu. Phải cố gắng làm thế nào đảm
bảo có đủ nước cho vụ chiêm sắp tới
được thắng lợi, đem lại ấm no cho
đồng bào”. Sau này, Bác còn đến
thăm công trường hai lần nữa.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài

Chỉ sau 7 tháng, ngày 1.5.1959, trong

mong đợi

tiếng reo hò của hàng vạn cán bộ công
nhân viên và Nhân dân ba tỉnh: Bắc
Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, công trình
được hoàn thành với khối lượng công
việc khổng lồ, ngoài mong đợi: Xây đúc
7.500m3 bê tông, xây lát đá 226.000m3,
đào gần 3 triệu m3 đất…

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài

Cũng trong năm, Xưởng phim Việt Nam đã

mong đợi

cho ra đời bộ phim tài liệu ghi lại sự kiện
xây dựng công trình thủy lợi đầu tiên và lớn
nhất ở miền Bắc sau ngày hòa bình mang
tên “Nước về Bắc Hưng Hải”. Sau này, bộ
phim đã đoạt giải Bông Sen vàng tại Liên
hoan phim Việt Nam lần thứ nhất và Huy
chương vàng tại Liên hoan phim Moskva.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài
mong đợi

Sau hơn 60 năm vận hành phục vụ sản
xuất và đời sống Nhân dân, hệ thống
thủy nông Bắc Hưng Hải đã đem lại
hiệu quả to lớn, đảm bảo cung cấp
nước tưới cho hơn chục nghìn ha lúa,
hoa màu, cây công nghiệp và tiêu úng
cho gần 20 nghìn ha lưu vực.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài
mong đợi

Cũng nhờ hệ thống thủy nông này, không
những diện tích, năng suất và sản lượng
lúa tăng lên đáng kể mà cơ cấu trong
nông nghiệp của vùng cũng được chuyển
đổi mạnh, mang lại hiệu quả lớn. Đã có
sự xuất hiện nhiều trang trại, hộ gia đình
có thu nhập cao, giúp hàng triệu người
dân thụ hưởng thành quả lâu dài...

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài

Ông Nguyễn Văn Tiếu (xã Đồng Than,

mong đợi

huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) hồi
tưởng, “trước đây, khi chưa có hệ thống
công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải thì ở
quê tôi hầu như vụ mùa nào người nông
dân chúng tôi cũng nơm nớp lo sợ mưa
lớn sẽ làm ngập trắng đồng.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài

Một năm có hai vụ cày cấy nhưng cứ

mong đợi

thấp thỏm lo vì mất mùa, đói kém.
Hồi đó, năng suất lúa cao nhất cũng
chỉ đạt 90kg/sào. Cảnh “lần ăn từng
bữa” vẫn còn ám ảnh trong tâm trí
của thế hệ chúng tôi cho đến tận bây
giờ.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài

Từ khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải

mong đợi

được vận hành, hàng trăm nghìn hecta lúa,
hoa màu thường xuyên được tưới nước nên đã
cho năng suất thu hoạch tăng cao, công việc
chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng thuận lợi, thu
nhập của gia đình tăng lên. Nhờ đó, đời sống
của người dân chúng tôi cũng đã được cải
thiện rõ rệt, có chút gọi là “của ăn, của để”.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và

mong đợi

môi trường GS. Đặng Hùng Võ cho biết,
hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải là
công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc
nối với sông Hồng mang nước đến cho
những cánh đồng của 3 tỉnh Bắc Ninh,
Hưng Yên và Hải Dương.

Công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải (1959)
Hiệu quả ngoài
mong đợi

Đây là con sông được đào bởi sức dân khi
hòa bình lập lại và có thể nói đây là công
trình của ý Đảng, của lòng dân, tiêu biểu
cho tinh thần đoàn kết, tự lực cánh sinh.
Khi hệ thống thủy nông được đưa vào sử
dụng đã phát huy hiệu quả trong việc tưới,
tiêu nước và giúp nâng cao năng suất lúa
của Vùng Châu thổ sông Hồng, đời sống

+ Công nghiệp: Thành phần kinh tế quốc
doanh được chú trọng phát triển.
+ Nhiều công trình quan trọng cho nền
kinh tế quốc dân bắt đầu được xây dựng.

Những tiến bộ về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa,
giáo dục, y tế phát triển. Đặc biệt sự phát triển của giáo
dục trong thời kì này đạt được những bước tiến nhảy vọt.
 
Gửi ý kiến