Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

KNTT - Chủ đề 3. Bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở biển Đông

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Trung Nguyên
Ngày gửi: 19h:47' 19-08-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 705
Số lượt thích: 1 người (Bùi Trung Kiên)
LỊCH SỬ 9

CHỦ ĐỀ 3:
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG

KHỞI ĐỘNG

Quan sát hình ảnh và trả lời
câu hỏi:

CHỦ ĐỀ 3:
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG

1. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
a) Chứng cứ lịch sử
• Trước năm 1884
Nhóm 1: Tìm hiểu Di chỉ khảo cổ học và tư liệu của Việt Nam trước năm 1884

Nhóm 2: Tìm hiểu tư liệu của nước ngoài trước năm 1884
Nhóm 3: Tìm hiểu những chứng cứ lịch sử sau năm 1884
Nhóm 4: Tìm hiểu cơ sở pháp lý về chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Nhóm 1: Di chỉ khảo cổ học và tư liệu của Việt Nam trước năm 1884
*Di chỉ khảo cổ học:
Các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá biển Hạ Long, Bàu Tró, Hoa Lộc,.. được
phát hiện ở các khu vực ven biển Việt Nam cho thấy người Việt cổ đã cư trú sát biển và
có cuộc sống gắn liền với Biển Đông.
Nhiều dấu vết tàu đắm, hiện vật đồ gốm được tìm thấy ở Hội An, Cù Lao Chàm,...
cho thấy Vương quốc Chăm-pa đã có những mối giao lưu rộng rãi với Ấn Độ và vùng Tây
Á,... còn cư dân Óc Eo đã có những mối liên hệ xa bằng đường biển đến tận vùng Địa
Trung Hải.
* Tư liệu của Việt Nam:
Các công trình ghi chép về chủ quyền của Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ
Liên, Dư địa chỉ của Nguyễn Trãi, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương
loại chỉ của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chỉ của Quốc sử quán Triều Nguyễn...

1. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
a) Chứng cứ lịch sử
• Trước năm 1884
- Di chỉ khảo cổ học: Các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá biển Hạ Long, Bàu Tró,
Hoa Lộc, các hiện vật tìm thấy ở Hội An, Cù Lao Chàm…cho thấy người Việt đã cư trú
gần biển
- Tư liệu của Việt Nam: Các công trình ghi chép về chủ quyền của Việt Nam: Đại Việt sử
ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, Dư địa chỉ của Nguyễn Trãi, Phủ biên tạp lục của Lê Quý
Đôn, Lịch triều hiến chương loại chỉ của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chỉ của Quốc
sử quán Triều Nguyễn...

Nhóm 2: Những tư liệu của nước ngoài trước năm 1884:
Từ khoảng thế kỉ XVI, người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp,
Anh,... đã vẽ nhiều bản đồ vùng biển Đông Nam Á, trong đó đều
thể hiện khá rõ bờ biển, Biển Đông và hải đảo của Việt Nam
đương thời.
Một số tấm bản đồ tiêu biểu như: Vương quốc An Nam (Bồ
Đào Nha, thế kỉ XVII), Bản đồ Đông Dương (Anh, 1808), bộ Átlát Brúc-xen (Bỉ, 1827), An Nam đại quốc hoạ đồ (1838),...

1. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
a) Chứng cứ lịch sử
• Trước năm 1884
- Tư liệu của nước ngoài: Từ khoảng thế kỉ XVI, người Bồ Đào Nha, Hà
Lan, Pháp, Anh,... đã vẽ nhiều bản đồ thể hiện khá rõ bờ biển, Biển Đông và
hải đảo của Việt Nam

Nhóm 3: Những chứng cứ lịch sử sau năm 1884
- Sau năm 1884 đến trước năm 1954: Từ sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), chính quyền Pháp đại diện cho Việt
Nam trong quan hệ đối ngoại, đã có nhiều hoạt động khẳng định, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương (3 – 1925)
Tại Hội nghị Hòa bình Xan Phran-xi-xcô (9 – 1951)
+ Nhiều văn bản, nghị định thời kì này cho thấy chính quyền Pháp ở Đông Dương đã thực hiện các biện
pháp quản lí thông qua việc thành lập đơn vị hành chính trên các đảo, quần đảo ở Biển Đông như: Cô Tô,
Phú Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa,...
+ Từ sau 1954 đến nay: Về hành chính, ở miền Bắc, đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, đảo Cô
Tô thuộc tỉnh Hải Ninh (tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Ở miền Nam, quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh
Phước Tuy (Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay) và quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam,...
- Sau khi đất nước thống nhất:
Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyển của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa trong các tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại giao, tại Hội nghị của Tổ chức khí tượng Thế giới (1980),
Hội nghị Địa chất Thế giới (1980), “Sách Trắng” về chủ quyền, của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa (công bố vào các năm 1979, 1981, 1988), khẳng định hai quần đảo này là một bộ phận
không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam

1. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
a) Chứng cứ lịch sử
• Từ sau năm 1884
- Sau năm 1884 đến trước năm 1954:
+ Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương (3/1925)
+ Tại Hội nghị Hòa bình Xan Phran-xi-xcô (9 – 1951)
- Từ sau 1954 đến nay:
+ Về hành chính, ở miền Bắc, đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, đảo Cô Tô thuộc tỉnh Hải
Ninh (tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Ở miền Nam, quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa –
Vũng Tàu ngày nay) và quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam,...
+ Tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại giao, tại Hội nghị của Tổ chức khí tượng Thế giới (1980), Hội nghị
Địa chất Thế giới (1980)
+ “Sách Trắng” về chủ quyền, của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (công bố
vào các năm 1979, 1981, 1988)

Nhóm 4: Cơ sở pháp lý về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Việt Nam đã đàm phán và kĩ kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, Hiệp định hợp
tác nghề cả ở Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, Hiệp định phân định thềm lục địa với Inđô-nê-xi-a, văn bản thoả thuận hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn với Ma-lai-xia,...
Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên có trách nhiệm của Công ước Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong nước về biển, khai thác biển
như: Luật Biên giới quốc gia, Luật Dầu khí, Luật Cảnh sát biển Việt Nam,...
Luật Biển Việt Nam được thông qua vào năm 2012 đã cụ thể hoá các quy định của
Công ước trên nhiều vấn đề như: biên giới lãnh thổ, hàng hải, thuỷ sản, dầu khí, bảo vệ
môi trường biển và hải đảo,...

1. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
a) Chứng cứ lịch sử
b) Cơ sở pháp lý
- Việt Nam đã đàm phán và kí kết một số văn bản với Trung Quốc,
In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a…
- Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên có trách nhiệm của Công ước
Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
- Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản khẳng định chủ quyền
- Năm 2012, thông qua Luật Biển Việt Nam

2. Vai trò chiến lược của biển đảo Việt Nam
Chơi trò chơi: ”Đến lượt bạn”.
Luật chơi: Chọn 5 học sinh
Mỗi học sinh lần lượt nêu vai trò của biển đảo Việt Nam. Học sinh
nào không trả lời được sẽ bị loại.

Vai trò chiến
lược của biển
đảo Việt
Nam
Cung cấp tài
nguyên phát
triển tiềm lực
đất nước

- Là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, đóng
vai trò trọng yếu trong công cuộc bảo vệ sự toàn vẹn đất
nước.

Là tuyến
phòng thủ
của đất
nước

- Có ý nghĩa lớn trong triển khai phòng thủ, bảo vệ đất liền
và kiểm soát vùng biển, vùng trời trên biển của quốc gia
- Là những căn cứ tiền tiêu trên tuyến phòng thủ hướng đông
bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như thực hiện
các nhiệm vụ quốc tế về cứu hộ, cứu nạn trên biển

- Chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng

- Các đảo, quần đảo cũng nằm ở vị trí án ngữ nhiều trục giao thông
huyết mạch trên biển và có nguồn lợi về tài nguyên phát triển kinh tế
biển đầy tiềm năng.

1. Lập bảng tóm tắt (theo gợi ý dưới đây vào vở) về những chứng cứ lịch sử và cơ sở
pháp lí về chủ quyền biển đảo Việt Nam
Thời gian
Trước năm 1884
Từ năm 1884 đến
nay

Chứng cứ lịch sử /cơ sở pháp lí

1. Lập bảng tóm tắt (theo gợi ý dưới đây vào vở) về những chứng cứ lịch sử và cơ sở
pháp lí về chủ quyền biển đảo Việt Nam
Thời gian
Trước
năm 1884
Từ
năm
1884 đến
nay

Chứng cứ lịch sử /cơ sở pháp lí
- Di chỉ khảo cổ học: Các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá biển Hạ Long, Bàu Tró, Hoa Lộc, các hiện vật tìm thấy ở
Hội An, Cù Lao Chàm…cho thấy người Việt đã cư trú gần biển
- Tư liệu của Việt Nam: Các công trình ghi chép về chủ quyền của Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên,
Dư địa chỉ của Nguyễn Trãi, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chỉ của Phan Huy Chú, Đại
Nam nhất thống chỉ của Quốc sử quán Triều Nguyễn...
- Sau năm 1884 đến trước năm 1954:
+ Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương (3/1925)
+ Tại Hội nghị Hòa bình Xan Phran-xi-xcô (9 – 1951)
- Từ sau 1954 đến nay:
+ Về hành chính, ở miền Bắc, đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, đảo Cô Tô thuộc tỉnh Hải Ninh (tỉnh Quảng
Ninh ngày nay). Ở miền Nam, quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay) và quần
đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam,...
+ Tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại giao, tại Hội nghị của Tổ chức khí tượng Thế giới (1980), Hội nghị Địa chất Thế
giới (1980)
+ “Sách Trắng” về chủ quyền, của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (công bố vào các năm
1979, 1981, 1988)

2. Xây dựng sơ đồ tư duy tóm tắt ý nghĩa của biển đảo Việt Nam đối với việc khẳng định, bảo vệ chủ
quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông

Vai trò chiến
lược của biển
đảo Việt
Nam
Cung cấp tài
nguyên phát
triển tiềm lực
đất nước

Là tuyến
phòng thủ
của đất
nước

- Là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, đóng
vai trò trọng yếu trong công cuộc bảo vệ sự toàn vẹn đất
nước.
- Có ý nghĩa lớn trong triển khai phòng thủ, bảo vệ đất liền
và kiểm soát vùng biển, vùng trời trên biển của quốc gia
- Là những căn cứ tiền tiêu trên tuyến phòng thủ hướng đông
bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như thực hiện
các nhiệm vụ quốc tế về cứu hộ, cứu nạn trên biển

- Chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng
- Các đảo, quần đảo cũng nằm ở vị trí án ngữ nhiều trục giao thông
huyết mạch trên biển và có nguồn lợi về tài nguyên phát triển kinh tế
biển đầy tiềm năng.

BÀI TẬP VỀ NHÀ
1. Theo em, các tư liệu được nêu trong mục 1 có ý nghĩa như thế
nào đối với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam hiện
nay?
2. Hãy nêu những việc làm cụ thể mà em có thể thực hiện để góp
phần bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt
Nam ở Biển Đông.
 
Gửi ý kiến