BÀI GIẢNG CÁCH LÀM TẬP LÀM VĂNLỚP 5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy
Ngày gửi: 22h:27' 30-09-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy
Ngày gửi: 22h:27' 30-09-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ NHƯ Ý
Tổ chuyên môn: 4,5
PHÒNG GD&ĐT HẢI LĂNG
TRƯỜNG TH&THCS HẢI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ:
DẠY VÀ HỌC
TẬP LÀM VĂN LỚP 4,5
NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ NHƯ Ý
Hải Trường, tháng 11 năm 2022
I/ Nội dung chương trình: Lớp 4
Nội dung chương trình tập làm văn lớp 4 gồm :62 tiêt/năm
* Kể chuyện 19 tiết được dạy trong học kì I
* Văn miêu tả gồm 30 tiết được phân bố như sau:
+ Khái niệm văn miêu tả : 1 tiết
+ Miêu tả đồ vật : 10 tiết
+ Miêu tả cây cối: 11 tiết
+ Miêu tả con vật: 8 tiết
* Cá loại văn bản khác:
+ Viết thư: 3 tiết
+ Trao đỏi ý kiến: 2 tiết
+ Giới thiệu hoạt động: 2 tiết
+ Tóm tắt tin tức: 3 tiết
+ Điền vào giấy tờ in sẵn: 3 tiết
Nội dung chương trình: Lớp 5
Nội dung chương trình tập làm văn lớp 5 gồm :
+ Tả cảnh
14 tiết
+ Tả người
12 tiết
+ Báo cáo thống kê
2 tiết
+ Làm đơn
3 tiết
+ Làm biên bản
3 tiết
+ Thuyết trình tranh luận
2 tiết
+ Lập CT hoạt động
3 tiết
+ Tập viết đoạn đối thoại
3 tiết
+ Ôn tập CT lớp 4
20 tiết (Trong đó có 3 tiết
KC)
Ngoài việc cung cấp một số kiến thức
mới nội dung dạy học TLV lớp 5 còn có
các bài ôn tập nhằm củng cố, hệ thống
hoá những kiến thức đã học về văn kể
chuyện, văn miêu tả ( tả đồ vật, tả cây cối,
tả con vật) đã học ở lớp 4.
III/ Các loại bài học :
Chương trình TLV lớp 5 được cụ thể hoá
trong SGK TV5 chủ yếu qua 2 loại bài học,
tương tự như ở SGK TV4 đó là loại bài
hình thành kiến thức và loại bài luyện tập
thực hành.
1. Loại bài hình thành kiến thức :
Được cấu trúc theo 3 phần :
+ Nhận xét
+ Ghi nhớ
+ Luyện tập
Nhằm cung cấp các kiến thức làm văn, giúp
học sinh có những hiểu biết về văn kể chuyện,
miêu tả như : Cấu tạo của bài văn kể chuyện,
miêu tả cách viết đoạn và phát triển ý cho
đoạn văn kể chuyện, miêu tả, cách quan sát
lập dàn ý cho bài văn tả cảnh, những hiểu biết
về mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp
để tạo lập các loại văn bản thông dụng như
báo cáo thống kê, biên bản lập CT hoạt động,
thuyết trình,tranh luận.
2. Loại bài luyện tập thực hành :
Thường gồm 2-3 bài tập nhỏ hoặc 1
đề bài TLV kèm gợi ý thực hành luyện tập
theo hai hình thức : nói, viết .
Nhằm rèn các kĩ năng tiếp nhận tạo
lập văn bản giúp học sinh được hoàn
thiện các kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn
ý, viết đoạn, viết bài, liên kết đoạn trong
bài, viết một văn bản thông dụng (làm báo
cáo thống kê, lập biên bản, lập CT hoạt
động, thuyết trình, tranh luận…..)
IV. Một số điểm cần lưu ý khi dạy các loại bài
học :
1- Dạy bài hình thành kiến thức TLV.
Cũng như ở lớp 4, bài hình thành kiến thức
TLV lớp 5 có cấu tạo 3 phần :
Phần nhận xét - GV hướng dẫn, HS trả lời các
câu hỏi và làm các bài tập để rút ra ghi nhớ yêu cầu hs đọc và học thuộc tại lớp.
Phần luỵện tập - GV hướng dẫn HS vận dụng kiến
thức ở phần ghi nhớ để thực hành nói, viết củng
cố ghi nhớ.
GV cần tập trung vào những yêu cầu cơ bản, có
biện pháp dạy học linh hoạt, tránh kéo dài thời
gian và gây không khí nặng nề trong tiết dạy .
Đối với các bài dạy có văn bản làm ngữ liệu để
khai thác hình thành kiến thức TLV hoặc bài tập
có số lượng chữ khá nhiều, bài có nhiều câu hỏi
hoặc bài tập cần có nhiều thời gian để thực hiện,
GV không nên tập trung nhiều thời gian vào việc
đọc văn bản thành tiếng mà cần chú trọng thực
hành kĩ năng đọc hiểu ; tập trung giải quyết
những bài tập, câu hỏi trọng tâm ; tìm cách giảm
độ khó của bài tập cho HS dễ thực hiện .
* Từ tuần 1 đến tuần 11 của lớp 5. HS được
học kiểu bài tả cảnh. Số tiết học dành cho
kiểu bài này là 14 trong đó có một tiết các
em được học hình thành kiến thức Cấu
tạo của bài văn tả cảnh, còn lại là 9 tiết
luyện tập, 2 tiết làm bài viết (kiểm tra) và 2
tiết trả bài.
Từ lớp 4, hs đã được học cấu tạo của bài văn
tả đồ vật, tả cây cối, con vật. Bởi vậy, lên
lớp 5, các em không quá bở ngỡ, khó khăn
khi học về cấu tạo của bài văn tả cảnh. Vì
thế khi dạy bài này, bên cạnh việc vận dụng
các biện pháp dạy học các bài hình thành
kiến thức … GV nên giúp hs liên hệ, tiếp
nối với những kiến thức, kỹ năng có liên
quan mà các em đã được học ở lớp 4.
2- Dạy bài luyện tập thực hành :
GV cần nắm vững trình độ của học sinh
để giải quyết những khó khăn mà các em
thường gặp như : Chưa biết vận dụng kiến thức
đã học để làm bài ; chưa có cơ sở để tạo lập
một số loại văn bản thông thường ( VD : Làm
văn bản, làm đơn … ) để giải quyết những khó
khăn trên, GV có thể giúp HS nắm được thứ tự
các thao tác cần thực hiện khi làm bài tập ;
hướng dẫn học sinh nhắc lại kiến thức đã học
có liên quan làm cơ sở cho bài luyện tập ; làm
mẫu một phần và gợi mở bằng câu hỏi cho học
sinh dựa vào đó mà thực hiện .
Dạy các bài tập viết đoạn đối thoại, GV cũng
cần sử dụng triệt để biện pháp gợi ý bằng
câu hỏi, biện pháp làm mẫu để dẫn dắt HS
luyện tập, tăng cường tính trực quan và
phát huy cao độ năng lực của từng đối
tượng HS, nhất là những em tiếp thu
chậm .
IV/ Những phương pháp dạy học được
vận dụng có hiệu quả trong dạy học TLV ở
lớp 5 .
Phân môn tập làm văn là phân môn đòi
hỏi học sinh phát huy cao độ trí tuệ và cảm xúc
để thực hiện các yêu cầu bài học, chính vì vậy
người dạy cần biết vận dụng các PPDH thích
hợp để khuyến khích HS bộc lộ trí tuệ và cảm
xúc của mình trong các ngôn bản mà các em tạo
lập tuỳ theo mỗi loại bài học để giờ dạy đạt hiệu
quả .
1 . Đối với loại bài tiếp nhận và tạo lập văn bản
miêu tả ở bài hình thành kiến thức GV cần lựa
chọn PPDH thích hợp để hướng dẫn học sinh
khai thác đúng và trúng phần kiến thức thể hiện
ở văn bản thuộc yêu cầu của bài học tránh sa
đà khai thác tất cả những nội dung kiến thức có
trong đoạn văn bài văn đó . Vì vậy GV phải
hướng dẫn HS biết quan sát phân tích văn bản
có chọn lọc, tập trung khai thác nội dung trọng
tâm của bài, biết sàng lọc, biết gạt đi, những nội
dung không thuộc đối tượng của giờ học thì mới
tránh được sự nặng nề về kiến thức, đảm bảo
thời gian cho phép
của tiết học .
2. Đối với loại bài tiếp nhận và tạo lập các
văn bản thông dụng ( làm đơn, làm báo cáo
thống kê, làm biên bản, lập CT hoạt động ) chỉ
yêu cầu các em ghi nhớ mẫu văn bản, cấu trúc,
thể thức của văn bản để khi cần các em có thể
thực hành . Với loại bài này, GV cần vận dụng
các PPDH như : PP trực quan ( HS được quan
sát các văn bản mẫu ), PP phân tích ngôn ngữ
( HS được phân tích cấu trúc, đặc điểm của các
văn bản mẫu ), PP rèn luyện theo mẫu ( HS
dựa theo văn bản mẫu để tạo lập văn bản tương
tự ), PP thực hành giao tiếp ( HS được đặt vào
tình huống giả định để tạo lập văn bản và sử
dụng văn bản ….) phối hợp hợp lý với PP thuyết
trình, thảo luận .
V/ Một số điểm cần chú ý khi thực hiện
chương trình :
Chương trình TLV lớp 5 được xây dựng
trên cơ sở kế thừa, phát triển chương trình cũ,
nối tiếp nội dung chương trình các lớp dưới và
liên thông với CT làm văn ở các lớp trên quan
điểm tích hợp trên nền tảng vận dụng lý thuyết
hoạt động giao tiếp. Căn cứ vào mục đích dạy
TLV lớp 5, từ đặc điểm nội dung chương trình
được cụ thể hoá qua từng bài học cụ thể, quá
trình triển khai dạy TLV lớp 5 có một số điểm
cần chú ý.
Trọng tâm chương trình TLV lớp 5 là giúp hs
luyện tập thành thạo các kỹ năng viết đoạn, viết
bài (với văn miêu tả, kể chuyện); nâng cao luyện
tập thực hành văn làm đơn … ; mở rộng luyện
tập cách viết các đoạn văn, trong đó có đoạn đối
thoại và làm quen với một số loại văn thuộc kiểu
văn bản điều hành sau này hs được học tiếp ở
các lớp trên. Sự đa dạng của các loại văn được
dạy trong chương trình sẽ tạo cho hs có nhiều
cơ hội để có thể chủ động trong học tập trong
giao tiếp. Song điều này cũng sẽ đưa đến không
ít khó khăn đối với giáo viên trong quá trình dạy
học, bởi sự đổi mới về nội dung cũng đồng thời
là sự đổi với về phương pháp tiếp cận.
Mặt khác mỗi bài học cụ thể trong SGK
đều có thể đưa đến cho hs sự tiếp nhận
kiến thức - kỹ năng bằng nhiều con đường
khác nhau. Điều này rất phù hợp với tâm
lý lứa tuổi HS tiểu học nhưng lại đòi hỏi ở
người gv sự linh hoạt trong quá trình tổ
chức một giờ học cụ thể sao cho đạt được
mục tiêu bài học đặt ra.
Đối với vịêc dạy văn miêu tả (tả cảnh, tả
người), GV không nên sa vào dạy tỉ mỉ từng
cảnh, từng người mà quan trọng hơn là mang
đến cho hs cách tả, cách quan sát, tìm và sắp
xếp ý trong quan sát, biết triển khai mỗi ý để
nói hoặc viết thành đoạn, biết sắp xếp các ý
để viết thành bài; biết vận dụng kiến thức về
các phép liên kết câu trong bài, các cách nối
các vế câu ghép để viết đoạn, bài.
Để HS có thể chủ động khi viết bài, GV
giúp HS nhận biết được cách viết từng loại
đoạn và cách nối kết các đoạn trong bài :
(VD : Đoạn mở bài, các đoạn ở thân bài;
đoạn mở bài ; các đoạn ở thân bài và đoạn
kết bài. Ví dụ, đoạn mở bài thường có tính
chất giới thiệu chung về đối tượng được tả,
hoặc kể … và ấn tượng của người tả (kể)
về đối tượng đó ...). Hoặc phần thân bài là
phần chính của bài văn bao gồm nhiều
đoạn văn liên kết với nhau, mỗi đoạn văn
chứa đựng một ý.
Sau khi tìm được một ý cho bài GV giúp HS
phát triển các ý để viết thành từng đoạn. Việc
phát triển ý thành đoạn lời khi tạo lập bài văn
sẽ giúp HS tránh được hiện tượng liệt kê chi
tiết trong khi tả và đồng thời hạn chế được
việc tả mà như kể, hoặc kể lể. Đoạn trong
một bài văn của hs có thể chỉ vài 3 câu, cũng
có thể 5, 7 câu tuỳ thuộc nội dung đang triển
khai nhưng phải vẫn đảm bảo những yêu cầu
cơ bản của một đoạn văn.
Chương trình giới thiệu một loại văn mới
là tập viết đoạn đối thoại, giúp hs rèn luyện cách
viết một đoạn văn theo kiểu đối thoại giữa các
nhân vật.
Đoạn lời đối thoại trong kịch không phải để
đọc mà để nói hoặc có thể để trình diễn. Lời văn
đối thoại dễ hiểu ngắn gọn. Vì thế, dung lượng
các sự kiện thường hạn chế nhưng rất logic, cô
đọng. Mặt khác ngôn ngữ đối thoại mang tính
hành động chứ không phải ngôn ngữ miêu tả,
nó đòi hỏi súc tích dễ hiểu giản dị. Khi hướng
dẫn học sinh tập viết đoạn đối thoại GV cần lưu
ý HS điểm khác nhau về ngôn ngữ kể chuyện
và ngôn ngữ kịch.
Với văn thuyết trình tranh luận GV cần
giúp học sinh thấy những yêu cầu và điều kiện
cần có trong quá trình trình bày trong một vấn
đề, quá trình người nói có một ý kiến để dẫn đến
một kết luận được gọi là lập luận. Lập luận
thường có 2 phần : Phần trình bày các lý do,
phần trình bày các lý luận. Trong quá trình GV
lưu ý HS nên lập đề cương cho bài thuyết trình
để tránh nói lan man, không trúng vào vấn đề
cần trao đổi. Ngữ điệu được sử dụng trong quá
trình thuyết trình, tranh luận tự nhiên, biết nhấn
mạnh những từ quan trọng.
Đối với loại văn làm biên bản, giáo
viên lưu ý học sinh nắm vững cấu trúc của
một biên bản (bao gồm những nội dung cụ
thể của từng phần, cách trình bày văn
bản). Nội dung thông tin ghi trong biên bản
phải chính xác, rõ ràng, đầy đủ, ngắn gọn,
tường minh.
Trong CT TLV lớp 5 có : 20 tiết ôn tập, trong đó
có 3 tiết văn kể chuyện ( 1 tiết ôn tập về văn kể
chuyện, 1 tiết kể chuyện kiểm tra viết ở tuần 22;
tiết trả bài văn kể chuyện ở tuần 23 ) .
So với CT lớp 4, ở lớp 5 hs tiếp tục được học về
văn kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, con vật, cây
cối) song chủ yếu là ôn tập củng cố những kiến
thức đã học ở lớp 4. Ngoài ra các em còn được
học thêm về văn tả người (kĩ năng quan sát lựa
chọn chi tiết về ngoại hình, hành động, đặc điểm
tính tình …, kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn văn, bài
văn tả người) ôn tập lại những kiến thức đã học
và rèn luyện kĩ năng tạo lập các loại văn bản đó.
Với 19 tiết dành cho nội dung dạy
học về văn KC (từ tuần 1 đến tuần 13) ở
lớp 4 hs được thực hành, luyện tập để
nhận biết những khai quát đến cụ thể,
phục vụ cho yêu cầu rèn các kĩ năng bộ
phận trong quá trình sản sinh ngôn bản.
Nội dung kiến thức và yêu cầu ôn lập kĩ
năng, đối với loại văn kể chuyện ở lớp 4
được sắp xếp như sau :
Tuần 1 :
- Nhận biết về nhân vật và tính cách của nhân vật
trong câu chuyện cho trước.
- Tập xây dựng nhân vật thể hiện tính cách theo
tình huống giả định.
Tuần 2 :
- Tập sắp xếp các hành động của mỗi nhân vật
sao cho phù hợp với tính cách của nhân vật ấy
và đúng với trình tự xảy ra.
- Nhận xét về các chi tiết tả ngoại hình các nhân
vật trong đoạn văn cho trước .
- Tập kể lại câu chuyện (dựa theo bài thơ) có kết
hợp tả ngoại hình của các nhân vật.
Tuần 3 :
- Nhận biết lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp
trong đoạn văn kể chuyện.
- Tập chuyển lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn
thành lời dẫn trực tiếp.
- Tập chuyển lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn
thành lời dẫn gián tiếp.
Tuần 4 :
- Tập sắp xếp các sự việc trong câu chuyện đã
biết thành cốt truyện .
- Dựa vào cốt truyện đã sắp xếp kể lại câu chuyện.
- Tập kể lại câu chuyện trên cơ sở tưởng tượng và
tạo lập một cốt truyện đơn giản theo gợi ý về
nhân vật và chủ đề cho trước.
Tuần 5 :
- Tập hoàn chỉnh một đoạn văn mới có phần mở
đầu và phần kết thúc.
Tuần 6 :
- Dựa vào các tranh minh hoạ câu chuyện cho
trước và kể lại cốt chuyện.
- Tập phát triển ý nêu dưới mỗi tranh thành một
đoạn văn kể chuyện.
Tuần 7 :
- Tập xây dựng hoàn chỉnh một trong số các đoạn
văn chưa hoàn chỉnh của câu chuyện gồm nhiều
đoạn (đã cho sẵn cốt truyện)
- Tập xác định yêu cầu đề bài. Xây dựng cốt
truyện và phát triển câu chuyện theo trình tự
thời gian.
Tuần 8 :
- Tập viết lại câu mở đầu cho từng đoạn văn
(đã cho ở tiết TLV đầu tiên của tuần 7)
- Tập kể lại một câu chuyện đã học nhằm
tiếp tục củng cố kỹ năng phát triển câu
chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập kể lại câu chuyện (dựa vào trích đoạn
kịch “Ở vương quốc tương lai” gồm 2
đoạn đã học) theo trình tự thời gian.
- Tập kể lại câu chuyện nói trên theo trình tự
không gian thay đổi ; nhận xét về trình tự
sắp xếp các sự việc và từ ngữ nối 2 đoạn.
Tuần 9 :
- Dựa vào trích đoạn kịch đã học (Yết Kiêu) và
gợi ý trong Sgk, tập kể lại câu chuyện theo
trình tự không gian (kết hợp chuyển lời đối
thoại trong kịch thành lời kể và lời dẫn gián
tiếp).
Tuần 10 :
- Nhận biết hai cách mở bài
- Tập kể lại phần mở đầu câu chuyện cho trước
(SGK) theo cách mở bài gián tiếp.
Tuần 11 :
- Nhận biết hai cách kết bài .
- Tập viết kết bài của một câu chuyện đã
học theo cách kết bài mở rộng.
- Vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học để
viết một bài văn kể chuyện theo đề bài cho
trước.
Tuần 12 :
- Tự kiểm tra, đánh giá về kiến thức và kĩ năng
làm bài văn kể chuyện (theo đề bài cho
trước).
Tuần 13 :
Củng cố kiến thức đã học về văn kể chuyện.
- Tập kể một câu chuyện theo đề tài cho trước
trao đổi về câu chuyện đã kể (về nhân vật,
tính cách của nhân vật, ý nghĩa câu chuyện,
kiểu mở đầu và kết thúc câu chuyện).
Khi dạy và ôn tập TLV lớp 4 cần :
- Chú trọng hướng dẫn HS thực hành, tự nhận xét để ghi
nhớ một số kiến thức sơ giản nhưng cần thiết về văn kể
chuyện .
- Luôn quan tâm đến yêu cầu vận dụng những kiến thức đã
biết để luyện tập và hình thành những kĩ năng bộ phận )
xác định đề tài và ý nghĩa, xây dựng nhân vật, tạo lập
cốt truyện, viết đoạn văn kể chuyện …. ) của loại văn kể
chuyện .
Trọng tâm của CT TLV lớp 4 là kể chuyện. Trong CT
TLV lớp 5 có 3 tiết kể chuyện (trong đó có 1 tiết ôn tập
kể chuyện), chính vì vậy GV lớp 5 phải nắm vững toàn
bộ kiến thức về văn kể chuyện thì mới có thể giúp HS
học tốt tiết ôn tập .
• Khi thực hiện CT, GV cần chuẩn bị và sử dụng trang bị
tương ứng, như các loại phiếu học tập ( hoạt động
nhóm, điều tra, báo cáo ), phương tiện phục vụ cho trò
chơi .
• - GV chú trọng rèn luyện cho HS các kĩ năng nghe, nói,
viết, theo nội dung, yêu cầu của các bài tập trong SGK .
• - Có biện pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy tính
chủ động, sáng tạo của HS trong hoạt động hình thành
kiến thức và hoạt động thực hành luyện tập
• - Tận dụng SGK (kênh hình, kênh chữ).
• - Về phương pháp dạy học, GV chú ý hướng dẫn HS
nắm vững đề tài bằng cả câu hỏi và lời giải thích; chú
trọng phương pháp làm mẫu để hs dễ dàng thực hiện.
GV có thể tự động điều chỉnh tiến trình của tiết học.
- Phần đánh giá kết qủa thực hành luyện tập
tại lớp, GV cần chủ động nhận xét, sửa đổi tỉ mỉ
cho từng học sinh. Cần chú trọng của HS hướng
dẫn học sinh thực hiện hoạt động tiếp nối như :
Luyện tập viết bài ở nhà, thực hiện giao tiếp
ngoài lớp học và vận dụng kĩ năng đã học nhằm
củng cố thực hành ở lớp.
- Thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả
của HS để có những biện pháp điều chỉnh về
phương pháp dạy học.
Tóm lại, quan trọng nhất trong cách tổ chức
một giờ dạy là GV lựa chọn một con đường đi
đến đích ngắn nhất nhưng có hiệu quả nhằm
đạt được mục tiêu chương trình đặt ra .
CHÀO TẠM BIỆT!
Tổ chuyên môn: 4,5
PHÒNG GD&ĐT HẢI LĂNG
TRƯỜNG TH&THCS HẢI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ:
DẠY VÀ HỌC
TẬP LÀM VĂN LỚP 4,5
NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ NHƯ Ý
Hải Trường, tháng 11 năm 2022
I/ Nội dung chương trình: Lớp 4
Nội dung chương trình tập làm văn lớp 4 gồm :62 tiêt/năm
* Kể chuyện 19 tiết được dạy trong học kì I
* Văn miêu tả gồm 30 tiết được phân bố như sau:
+ Khái niệm văn miêu tả : 1 tiết
+ Miêu tả đồ vật : 10 tiết
+ Miêu tả cây cối: 11 tiết
+ Miêu tả con vật: 8 tiết
* Cá loại văn bản khác:
+ Viết thư: 3 tiết
+ Trao đỏi ý kiến: 2 tiết
+ Giới thiệu hoạt động: 2 tiết
+ Tóm tắt tin tức: 3 tiết
+ Điền vào giấy tờ in sẵn: 3 tiết
Nội dung chương trình: Lớp 5
Nội dung chương trình tập làm văn lớp 5 gồm :
+ Tả cảnh
14 tiết
+ Tả người
12 tiết
+ Báo cáo thống kê
2 tiết
+ Làm đơn
3 tiết
+ Làm biên bản
3 tiết
+ Thuyết trình tranh luận
2 tiết
+ Lập CT hoạt động
3 tiết
+ Tập viết đoạn đối thoại
3 tiết
+ Ôn tập CT lớp 4
20 tiết (Trong đó có 3 tiết
KC)
Ngoài việc cung cấp một số kiến thức
mới nội dung dạy học TLV lớp 5 còn có
các bài ôn tập nhằm củng cố, hệ thống
hoá những kiến thức đã học về văn kể
chuyện, văn miêu tả ( tả đồ vật, tả cây cối,
tả con vật) đã học ở lớp 4.
III/ Các loại bài học :
Chương trình TLV lớp 5 được cụ thể hoá
trong SGK TV5 chủ yếu qua 2 loại bài học,
tương tự như ở SGK TV4 đó là loại bài
hình thành kiến thức và loại bài luyện tập
thực hành.
1. Loại bài hình thành kiến thức :
Được cấu trúc theo 3 phần :
+ Nhận xét
+ Ghi nhớ
+ Luyện tập
Nhằm cung cấp các kiến thức làm văn, giúp
học sinh có những hiểu biết về văn kể chuyện,
miêu tả như : Cấu tạo của bài văn kể chuyện,
miêu tả cách viết đoạn và phát triển ý cho
đoạn văn kể chuyện, miêu tả, cách quan sát
lập dàn ý cho bài văn tả cảnh, những hiểu biết
về mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp
để tạo lập các loại văn bản thông dụng như
báo cáo thống kê, biên bản lập CT hoạt động,
thuyết trình,tranh luận.
2. Loại bài luyện tập thực hành :
Thường gồm 2-3 bài tập nhỏ hoặc 1
đề bài TLV kèm gợi ý thực hành luyện tập
theo hai hình thức : nói, viết .
Nhằm rèn các kĩ năng tiếp nhận tạo
lập văn bản giúp học sinh được hoàn
thiện các kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn
ý, viết đoạn, viết bài, liên kết đoạn trong
bài, viết một văn bản thông dụng (làm báo
cáo thống kê, lập biên bản, lập CT hoạt
động, thuyết trình, tranh luận…..)
IV. Một số điểm cần lưu ý khi dạy các loại bài
học :
1- Dạy bài hình thành kiến thức TLV.
Cũng như ở lớp 4, bài hình thành kiến thức
TLV lớp 5 có cấu tạo 3 phần :
Phần nhận xét - GV hướng dẫn, HS trả lời các
câu hỏi và làm các bài tập để rút ra ghi nhớ yêu cầu hs đọc và học thuộc tại lớp.
Phần luỵện tập - GV hướng dẫn HS vận dụng kiến
thức ở phần ghi nhớ để thực hành nói, viết củng
cố ghi nhớ.
GV cần tập trung vào những yêu cầu cơ bản, có
biện pháp dạy học linh hoạt, tránh kéo dài thời
gian và gây không khí nặng nề trong tiết dạy .
Đối với các bài dạy có văn bản làm ngữ liệu để
khai thác hình thành kiến thức TLV hoặc bài tập
có số lượng chữ khá nhiều, bài có nhiều câu hỏi
hoặc bài tập cần có nhiều thời gian để thực hiện,
GV không nên tập trung nhiều thời gian vào việc
đọc văn bản thành tiếng mà cần chú trọng thực
hành kĩ năng đọc hiểu ; tập trung giải quyết
những bài tập, câu hỏi trọng tâm ; tìm cách giảm
độ khó của bài tập cho HS dễ thực hiện .
* Từ tuần 1 đến tuần 11 của lớp 5. HS được
học kiểu bài tả cảnh. Số tiết học dành cho
kiểu bài này là 14 trong đó có một tiết các
em được học hình thành kiến thức Cấu
tạo của bài văn tả cảnh, còn lại là 9 tiết
luyện tập, 2 tiết làm bài viết (kiểm tra) và 2
tiết trả bài.
Từ lớp 4, hs đã được học cấu tạo của bài văn
tả đồ vật, tả cây cối, con vật. Bởi vậy, lên
lớp 5, các em không quá bở ngỡ, khó khăn
khi học về cấu tạo của bài văn tả cảnh. Vì
thế khi dạy bài này, bên cạnh việc vận dụng
các biện pháp dạy học các bài hình thành
kiến thức … GV nên giúp hs liên hệ, tiếp
nối với những kiến thức, kỹ năng có liên
quan mà các em đã được học ở lớp 4.
2- Dạy bài luyện tập thực hành :
GV cần nắm vững trình độ của học sinh
để giải quyết những khó khăn mà các em
thường gặp như : Chưa biết vận dụng kiến thức
đã học để làm bài ; chưa có cơ sở để tạo lập
một số loại văn bản thông thường ( VD : Làm
văn bản, làm đơn … ) để giải quyết những khó
khăn trên, GV có thể giúp HS nắm được thứ tự
các thao tác cần thực hiện khi làm bài tập ;
hướng dẫn học sinh nhắc lại kiến thức đã học
có liên quan làm cơ sở cho bài luyện tập ; làm
mẫu một phần và gợi mở bằng câu hỏi cho học
sinh dựa vào đó mà thực hiện .
Dạy các bài tập viết đoạn đối thoại, GV cũng
cần sử dụng triệt để biện pháp gợi ý bằng
câu hỏi, biện pháp làm mẫu để dẫn dắt HS
luyện tập, tăng cường tính trực quan và
phát huy cao độ năng lực của từng đối
tượng HS, nhất là những em tiếp thu
chậm .
IV/ Những phương pháp dạy học được
vận dụng có hiệu quả trong dạy học TLV ở
lớp 5 .
Phân môn tập làm văn là phân môn đòi
hỏi học sinh phát huy cao độ trí tuệ và cảm xúc
để thực hiện các yêu cầu bài học, chính vì vậy
người dạy cần biết vận dụng các PPDH thích
hợp để khuyến khích HS bộc lộ trí tuệ và cảm
xúc của mình trong các ngôn bản mà các em tạo
lập tuỳ theo mỗi loại bài học để giờ dạy đạt hiệu
quả .
1 . Đối với loại bài tiếp nhận và tạo lập văn bản
miêu tả ở bài hình thành kiến thức GV cần lựa
chọn PPDH thích hợp để hướng dẫn học sinh
khai thác đúng và trúng phần kiến thức thể hiện
ở văn bản thuộc yêu cầu của bài học tránh sa
đà khai thác tất cả những nội dung kiến thức có
trong đoạn văn bài văn đó . Vì vậy GV phải
hướng dẫn HS biết quan sát phân tích văn bản
có chọn lọc, tập trung khai thác nội dung trọng
tâm của bài, biết sàng lọc, biết gạt đi, những nội
dung không thuộc đối tượng của giờ học thì mới
tránh được sự nặng nề về kiến thức, đảm bảo
thời gian cho phép
của tiết học .
2. Đối với loại bài tiếp nhận và tạo lập các
văn bản thông dụng ( làm đơn, làm báo cáo
thống kê, làm biên bản, lập CT hoạt động ) chỉ
yêu cầu các em ghi nhớ mẫu văn bản, cấu trúc,
thể thức của văn bản để khi cần các em có thể
thực hành . Với loại bài này, GV cần vận dụng
các PPDH như : PP trực quan ( HS được quan
sát các văn bản mẫu ), PP phân tích ngôn ngữ
( HS được phân tích cấu trúc, đặc điểm của các
văn bản mẫu ), PP rèn luyện theo mẫu ( HS
dựa theo văn bản mẫu để tạo lập văn bản tương
tự ), PP thực hành giao tiếp ( HS được đặt vào
tình huống giả định để tạo lập văn bản và sử
dụng văn bản ….) phối hợp hợp lý với PP thuyết
trình, thảo luận .
V/ Một số điểm cần chú ý khi thực hiện
chương trình :
Chương trình TLV lớp 5 được xây dựng
trên cơ sở kế thừa, phát triển chương trình cũ,
nối tiếp nội dung chương trình các lớp dưới và
liên thông với CT làm văn ở các lớp trên quan
điểm tích hợp trên nền tảng vận dụng lý thuyết
hoạt động giao tiếp. Căn cứ vào mục đích dạy
TLV lớp 5, từ đặc điểm nội dung chương trình
được cụ thể hoá qua từng bài học cụ thể, quá
trình triển khai dạy TLV lớp 5 có một số điểm
cần chú ý.
Trọng tâm chương trình TLV lớp 5 là giúp hs
luyện tập thành thạo các kỹ năng viết đoạn, viết
bài (với văn miêu tả, kể chuyện); nâng cao luyện
tập thực hành văn làm đơn … ; mở rộng luyện
tập cách viết các đoạn văn, trong đó có đoạn đối
thoại và làm quen với một số loại văn thuộc kiểu
văn bản điều hành sau này hs được học tiếp ở
các lớp trên. Sự đa dạng của các loại văn được
dạy trong chương trình sẽ tạo cho hs có nhiều
cơ hội để có thể chủ động trong học tập trong
giao tiếp. Song điều này cũng sẽ đưa đến không
ít khó khăn đối với giáo viên trong quá trình dạy
học, bởi sự đổi mới về nội dung cũng đồng thời
là sự đổi với về phương pháp tiếp cận.
Mặt khác mỗi bài học cụ thể trong SGK
đều có thể đưa đến cho hs sự tiếp nhận
kiến thức - kỹ năng bằng nhiều con đường
khác nhau. Điều này rất phù hợp với tâm
lý lứa tuổi HS tiểu học nhưng lại đòi hỏi ở
người gv sự linh hoạt trong quá trình tổ
chức một giờ học cụ thể sao cho đạt được
mục tiêu bài học đặt ra.
Đối với vịêc dạy văn miêu tả (tả cảnh, tả
người), GV không nên sa vào dạy tỉ mỉ từng
cảnh, từng người mà quan trọng hơn là mang
đến cho hs cách tả, cách quan sát, tìm và sắp
xếp ý trong quan sát, biết triển khai mỗi ý để
nói hoặc viết thành đoạn, biết sắp xếp các ý
để viết thành bài; biết vận dụng kiến thức về
các phép liên kết câu trong bài, các cách nối
các vế câu ghép để viết đoạn, bài.
Để HS có thể chủ động khi viết bài, GV
giúp HS nhận biết được cách viết từng loại
đoạn và cách nối kết các đoạn trong bài :
(VD : Đoạn mở bài, các đoạn ở thân bài;
đoạn mở bài ; các đoạn ở thân bài và đoạn
kết bài. Ví dụ, đoạn mở bài thường có tính
chất giới thiệu chung về đối tượng được tả,
hoặc kể … và ấn tượng của người tả (kể)
về đối tượng đó ...). Hoặc phần thân bài là
phần chính của bài văn bao gồm nhiều
đoạn văn liên kết với nhau, mỗi đoạn văn
chứa đựng một ý.
Sau khi tìm được một ý cho bài GV giúp HS
phát triển các ý để viết thành từng đoạn. Việc
phát triển ý thành đoạn lời khi tạo lập bài văn
sẽ giúp HS tránh được hiện tượng liệt kê chi
tiết trong khi tả và đồng thời hạn chế được
việc tả mà như kể, hoặc kể lể. Đoạn trong
một bài văn của hs có thể chỉ vài 3 câu, cũng
có thể 5, 7 câu tuỳ thuộc nội dung đang triển
khai nhưng phải vẫn đảm bảo những yêu cầu
cơ bản của một đoạn văn.
Chương trình giới thiệu một loại văn mới
là tập viết đoạn đối thoại, giúp hs rèn luyện cách
viết một đoạn văn theo kiểu đối thoại giữa các
nhân vật.
Đoạn lời đối thoại trong kịch không phải để
đọc mà để nói hoặc có thể để trình diễn. Lời văn
đối thoại dễ hiểu ngắn gọn. Vì thế, dung lượng
các sự kiện thường hạn chế nhưng rất logic, cô
đọng. Mặt khác ngôn ngữ đối thoại mang tính
hành động chứ không phải ngôn ngữ miêu tả,
nó đòi hỏi súc tích dễ hiểu giản dị. Khi hướng
dẫn học sinh tập viết đoạn đối thoại GV cần lưu
ý HS điểm khác nhau về ngôn ngữ kể chuyện
và ngôn ngữ kịch.
Với văn thuyết trình tranh luận GV cần
giúp học sinh thấy những yêu cầu và điều kiện
cần có trong quá trình trình bày trong một vấn
đề, quá trình người nói có một ý kiến để dẫn đến
một kết luận được gọi là lập luận. Lập luận
thường có 2 phần : Phần trình bày các lý do,
phần trình bày các lý luận. Trong quá trình GV
lưu ý HS nên lập đề cương cho bài thuyết trình
để tránh nói lan man, không trúng vào vấn đề
cần trao đổi. Ngữ điệu được sử dụng trong quá
trình thuyết trình, tranh luận tự nhiên, biết nhấn
mạnh những từ quan trọng.
Đối với loại văn làm biên bản, giáo
viên lưu ý học sinh nắm vững cấu trúc của
một biên bản (bao gồm những nội dung cụ
thể của từng phần, cách trình bày văn
bản). Nội dung thông tin ghi trong biên bản
phải chính xác, rõ ràng, đầy đủ, ngắn gọn,
tường minh.
Trong CT TLV lớp 5 có : 20 tiết ôn tập, trong đó
có 3 tiết văn kể chuyện ( 1 tiết ôn tập về văn kể
chuyện, 1 tiết kể chuyện kiểm tra viết ở tuần 22;
tiết trả bài văn kể chuyện ở tuần 23 ) .
So với CT lớp 4, ở lớp 5 hs tiếp tục được học về
văn kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, con vật, cây
cối) song chủ yếu là ôn tập củng cố những kiến
thức đã học ở lớp 4. Ngoài ra các em còn được
học thêm về văn tả người (kĩ năng quan sát lựa
chọn chi tiết về ngoại hình, hành động, đặc điểm
tính tình …, kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn văn, bài
văn tả người) ôn tập lại những kiến thức đã học
và rèn luyện kĩ năng tạo lập các loại văn bản đó.
Với 19 tiết dành cho nội dung dạy
học về văn KC (từ tuần 1 đến tuần 13) ở
lớp 4 hs được thực hành, luyện tập để
nhận biết những khai quát đến cụ thể,
phục vụ cho yêu cầu rèn các kĩ năng bộ
phận trong quá trình sản sinh ngôn bản.
Nội dung kiến thức và yêu cầu ôn lập kĩ
năng, đối với loại văn kể chuyện ở lớp 4
được sắp xếp như sau :
Tuần 1 :
- Nhận biết về nhân vật và tính cách của nhân vật
trong câu chuyện cho trước.
- Tập xây dựng nhân vật thể hiện tính cách theo
tình huống giả định.
Tuần 2 :
- Tập sắp xếp các hành động của mỗi nhân vật
sao cho phù hợp với tính cách của nhân vật ấy
và đúng với trình tự xảy ra.
- Nhận xét về các chi tiết tả ngoại hình các nhân
vật trong đoạn văn cho trước .
- Tập kể lại câu chuyện (dựa theo bài thơ) có kết
hợp tả ngoại hình của các nhân vật.
Tuần 3 :
- Nhận biết lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp
trong đoạn văn kể chuyện.
- Tập chuyển lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn
thành lời dẫn trực tiếp.
- Tập chuyển lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn
thành lời dẫn gián tiếp.
Tuần 4 :
- Tập sắp xếp các sự việc trong câu chuyện đã
biết thành cốt truyện .
- Dựa vào cốt truyện đã sắp xếp kể lại câu chuyện.
- Tập kể lại câu chuyện trên cơ sở tưởng tượng và
tạo lập một cốt truyện đơn giản theo gợi ý về
nhân vật và chủ đề cho trước.
Tuần 5 :
- Tập hoàn chỉnh một đoạn văn mới có phần mở
đầu và phần kết thúc.
Tuần 6 :
- Dựa vào các tranh minh hoạ câu chuyện cho
trước và kể lại cốt chuyện.
- Tập phát triển ý nêu dưới mỗi tranh thành một
đoạn văn kể chuyện.
Tuần 7 :
- Tập xây dựng hoàn chỉnh một trong số các đoạn
văn chưa hoàn chỉnh của câu chuyện gồm nhiều
đoạn (đã cho sẵn cốt truyện)
- Tập xác định yêu cầu đề bài. Xây dựng cốt
truyện và phát triển câu chuyện theo trình tự
thời gian.
Tuần 8 :
- Tập viết lại câu mở đầu cho từng đoạn văn
(đã cho ở tiết TLV đầu tiên của tuần 7)
- Tập kể lại một câu chuyện đã học nhằm
tiếp tục củng cố kỹ năng phát triển câu
chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập kể lại câu chuyện (dựa vào trích đoạn
kịch “Ở vương quốc tương lai” gồm 2
đoạn đã học) theo trình tự thời gian.
- Tập kể lại câu chuyện nói trên theo trình tự
không gian thay đổi ; nhận xét về trình tự
sắp xếp các sự việc và từ ngữ nối 2 đoạn.
Tuần 9 :
- Dựa vào trích đoạn kịch đã học (Yết Kiêu) và
gợi ý trong Sgk, tập kể lại câu chuyện theo
trình tự không gian (kết hợp chuyển lời đối
thoại trong kịch thành lời kể và lời dẫn gián
tiếp).
Tuần 10 :
- Nhận biết hai cách mở bài
- Tập kể lại phần mở đầu câu chuyện cho trước
(SGK) theo cách mở bài gián tiếp.
Tuần 11 :
- Nhận biết hai cách kết bài .
- Tập viết kết bài của một câu chuyện đã
học theo cách kết bài mở rộng.
- Vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học để
viết một bài văn kể chuyện theo đề bài cho
trước.
Tuần 12 :
- Tự kiểm tra, đánh giá về kiến thức và kĩ năng
làm bài văn kể chuyện (theo đề bài cho
trước).
Tuần 13 :
Củng cố kiến thức đã học về văn kể chuyện.
- Tập kể một câu chuyện theo đề tài cho trước
trao đổi về câu chuyện đã kể (về nhân vật,
tính cách của nhân vật, ý nghĩa câu chuyện,
kiểu mở đầu và kết thúc câu chuyện).
Khi dạy và ôn tập TLV lớp 4 cần :
- Chú trọng hướng dẫn HS thực hành, tự nhận xét để ghi
nhớ một số kiến thức sơ giản nhưng cần thiết về văn kể
chuyện .
- Luôn quan tâm đến yêu cầu vận dụng những kiến thức đã
biết để luyện tập và hình thành những kĩ năng bộ phận )
xác định đề tài và ý nghĩa, xây dựng nhân vật, tạo lập
cốt truyện, viết đoạn văn kể chuyện …. ) của loại văn kể
chuyện .
Trọng tâm của CT TLV lớp 4 là kể chuyện. Trong CT
TLV lớp 5 có 3 tiết kể chuyện (trong đó có 1 tiết ôn tập
kể chuyện), chính vì vậy GV lớp 5 phải nắm vững toàn
bộ kiến thức về văn kể chuyện thì mới có thể giúp HS
học tốt tiết ôn tập .
• Khi thực hiện CT, GV cần chuẩn bị và sử dụng trang bị
tương ứng, như các loại phiếu học tập ( hoạt động
nhóm, điều tra, báo cáo ), phương tiện phục vụ cho trò
chơi .
• - GV chú trọng rèn luyện cho HS các kĩ năng nghe, nói,
viết, theo nội dung, yêu cầu của các bài tập trong SGK .
• - Có biện pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy tính
chủ động, sáng tạo của HS trong hoạt động hình thành
kiến thức và hoạt động thực hành luyện tập
• - Tận dụng SGK (kênh hình, kênh chữ).
• - Về phương pháp dạy học, GV chú ý hướng dẫn HS
nắm vững đề tài bằng cả câu hỏi và lời giải thích; chú
trọng phương pháp làm mẫu để hs dễ dàng thực hiện.
GV có thể tự động điều chỉnh tiến trình của tiết học.
- Phần đánh giá kết qủa thực hành luyện tập
tại lớp, GV cần chủ động nhận xét, sửa đổi tỉ mỉ
cho từng học sinh. Cần chú trọng của HS hướng
dẫn học sinh thực hiện hoạt động tiếp nối như :
Luyện tập viết bài ở nhà, thực hiện giao tiếp
ngoài lớp học và vận dụng kĩ năng đã học nhằm
củng cố thực hành ở lớp.
- Thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả
của HS để có những biện pháp điều chỉnh về
phương pháp dạy học.
Tóm lại, quan trọng nhất trong cách tổ chức
một giờ dạy là GV lựa chọn một con đường đi
đến đích ngắn nhất nhưng có hiệu quả nhằm
đạt được mục tiêu chương trình đặt ra .
CHÀO TẠM BIỆT!
 







Các ý kiến mới nhất