thuýet trình

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Sỹ
Ngày gửi: 07h:34' 16-10-2024
Dung lượng: 2.8 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Sỹ
Ngày gửi: 07h:34' 16-10-2024
Dung lượng: 2.8 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
CÁC THẦY, CÔ GIÁO BAN GIÁM KHẢO
HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2024- 2025
MỘT SỐ BIỆN PHÁP “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH
MÔN TOÁN LỚP 4D” NĂM HỌC 2022 - 2023
1. Thực trạng chất lượng công tác giảng dạy của lớp.
Năm học 2022 - 2023, Tôi được phân công phụ trách lớp 4D Trường Tiếu học Thượng Ninh. Lớp tôi
có tổng số là 24 em học sinh trong đó có 10 em nữ và 14 em nam, học sinh dân tộc thiểu số là 20 em, học
sinh dân tộc Kinh là 4 em. Các em đều là con em ở nông thôn, bố mẹ đi làm ăn xa, ở nhà với ông bà, nên sự
quan tâm đến việc học tập của các em là rất hạn chế. Thông qua khảo sát chất lượng học sinh đầu năm. Tôi
nhận thấy còn nhiều học sinh còn yếu nhiều đối với môn toán.
Từ thực trạng học sinh yếu kém trong môn toán không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng chung cả lớp mà
còn tác động đến chất lượng giáo dục chung của nhà trường. Nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố như
phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, hoặc bản thân học sinh chưa có động lực,
học sinh tiếp thu bài chậm hoặc các em bị rỗng kiến thức từ lớp dưới
PHÁP “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH MÔN TOÁN LỚP 4D” NĂM
HỌC 2022 - 2023
Để có luận cứ đưa ra trong đề tài này tôi đã khảo sát chất lượng
môn Toán lớp 4D năm học 2022-2023 kết quả như sau:
Từ kết quả khảo sát trên, tôi đưa ra một số biện pháp để thực
hiện như sau :
Tổng số Hoàn thành tốt Hoàn thành
24
Chưa hoàn thành
TS
%
TS
%
TS
%
5
20,8%
12
50,1%
7
29,1%
Từ kết quả khảo sát trên, tôi đưa ra một số biện pháp để thực hiện như sau :
2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục và giảng dạy.
Trong phạm vi bài viết, tôi chỉ đề cập đến một số biện pháp để nâng cao
chất lượng học tập cho học sinh chưa hoàn thành ở môn Toán lớp 4. Sau đây
là một số biện pháp mà tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và tiến hành:
2.1. Biện pháp 1: Điều tra tình hình học sinh.
- Để nắm bắt được tình hình về học sinh lớp mình chủ nhiệm tối đã làm như
sau :
+ Tình hình học tập năm học trước của từng học sinh thông qua học bạ,
qua sổ chủ nhiệm, qua thông tin của GVCN năm học trước, nơi các em cư trú
và tìm hiểu thông qua gia đình các em.
+ Thông qua trao đổi trò chuyện với học sinh chưa hoàn thành, tìm hiểu hoàn
cảnh, sở thích, sở trường của từng học sinh. Trò chuyện với các học sinh
khác về những học sinh chưa hoàn thành.
2.2. Biện pháp 2: Phân loại học sinh và cá nhân hóa phương pháp giảng
dạy.
Tôi thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc nắm bắt kiến thức của học sinh, từ
đó phân loại đối tượng học sinh về học lực để tiện theo dõi, giúp đỡ trong
qua trình giảng dạy, cụ thể:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Nhóm HTT
Hà Thị Phương Anh
Chu Nhật Minh
Hà Văn Hoàng
Quách Văn Lộc
Nhóm HT
Đỗ Trung Thế Anh
Trần Tuấn Anh
Quách Thị Ngọc Hân
Bùi Thị Trà My
Nguyễn Văn Chung
Trần Thị Bảo Ngọc
Ng Văn Anh Nguyên
Quách T. Như Nguyệt
Bùi Nguyễn Phát
Đoàn Hải Đăng
Trần Công Huy
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Hà Thị Diệu Uyên
Nhóm CHT
Nguyễn Thị Minh Thư
Phạm Thị Khánh Ly
Quách Văn Đại
Bùi Thị Linh Đan
Nguyễn Khắc Đan
Quách Văn Phú
Quách Văn Quân
Làm bài téc về khả năng ghi nhớ của học sinh. Giáo viên đọc 10
chữ số : 1, 2, 4, 5, 7, 6, 3, 8, 9, 10. Cho nhóm học sinh chưa hoàn
thành nghe 3 lần, yêu cầu học sinh viết lại theo đúng thứ tự các sô
giáo viên đã đọc. kết quả các 3 em viết đúng 10 chữ số, đúng thứ
tự, số còn lại viết không đúng thứ tự. Qua bài téc thấy được 3 học
sinh ghi nhớ được, còn lại là số học sinh tiếp thu bài chậm, ghi nhớ
kém.
Cá nhân hóa bài giảng: Thiết kế các bài giảng với độ khó phù
hợp với từng nhóm học sinh. Học sinh yếu cần được cung cấp các
bài tập cơ bản, từ đơn giản dễ hiểu, sau đó dần nâng cao.
Dạy kèm riêng: Trong các tiết học hoặc giờ học phụ
đạo, dành thời gian kèm cặp riêng cho những học sinh yếu
để giúp các em nắm vững bài học. Tăng cường dạy kèm
cho các em vào buổi chiều các em không có tiết học, dạy
vào thứ 7 hàng tuần. Dạy bù đắp những kiến thức các em
đã bị rỗng từ lớp dưới, kết hợp động viên khích lệ các em
trong quá trình học tập, giúp các em tự tin trong học tập
2.3. Biện pháp 3. Tăng cường tương tác giữa giáo viên, phụ huynh và
học sinh.
Giao tiếp thường xuyên với phụ huynh: Thông qua các buổi họp phụ
huynh và trao đổi qua điện thoại hoặc ứng dụng nhắn tin, giáo viên sẽ cập
nhật tình hình học tập của học sinh, đồng thời khuyến khích phụ huynh hỗ
trợ con em mình tại nhà.
Hướng dẫn phụ huynh cách hỗ trợ con học Toán: Giáo viên cung cấp cho
phụ huynh các phương pháp hỗ trợ học Toán, giúp phụ huynh có thể giúp đỡ
con khi cần.
Tạo môi trường học tập tại nhà: Đề xuất phụ huynh xây dựng một môi
trường học tập nghiêm túc, hạn chế chơi điện thoại và xem ti vi nhiều, bị gây
xao nhãng.
2.4. Biện pháp 4. Ứng dụng công nghệ thông tin và trò chơi học tập
Sử dụng phần mềm học Toán trực tuyến: Ứng dụng các phần mềm học
tập như Violympic, Khan Academy để giúp học sinh học Toán một cách linh
hoạt và hấp dẫn hơn
Tổ chức trò chơi toán học: Đưa vào các trò chơi toán học nhằm kích
thích sự hứng thú của học sinh, giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn thông qua
việc học mà chơi.
Sử dung phần mềm class dojo để tích điểm thi đua cho học trong các
tiết học, tích điểm theo tuần, theo tháng và năm học.
2.5. Biện pháp 5: Giảng dạy ở trên lớp.
2.5 1. Dạy phân hóa đối tượng học sinh.
- Trong quá trình thiết kế bài dạy, tôi đã cân nhắc các mục tiêu đề ra
nhằm tạo điều kiện cho các em được củng cố và luyện tập phù hợp với trình
độ nhận thức cảu các em. Có những loại bài tập cho các đối tượng, năng
khiếu, trung bình và yếu.
Ví dụ : Phép trừ các số có nhiều chữ số. Bài 1 trang 80.
Mục tiêu : Trừ được các số có nhiều chữ số, biết cách đặt tính và thực hiện
được các phép tính. Nhưng với học sinh chưa hoàn thành cần thiết kế lại mức
độ thấp hơn so với chuẩn.
Phiếu bài tập dành cho học sinh chưa hoàn thành:
Bài 1. Đặt tính rồi tính. ( chỉ yêu cầu học sinh thực hiện phép trừ có
nhớ 1 lần)
6 724 – 3 215
129
37 891 – 12 522
……………
…………………
…………………
……………
…………………
………………….
……………
………………….
95 332 - 82
Ví dụ: Bài 1. Đặt tính rồi tính. Trang 25. Thiết kế bài tập mức dễ hơn so với
chuẩn. ( Số bị chia lớn hơn số chia ở lượt chia đầu tiên)
3 615 : 15
3 615
15
7 344 : 16
7 344
16
32 318 : 26
32 318
26
2.5.2. Tạo cho các em sự tự tin, hứng thú khi học toán.
- Học sinh Chưa hoàn thành thường tiếp thu kiến thức chậm hoặc do bị rỗng
kiến thức từ lớp dưới, về nhà các em không ôn luyện lại kiến thức đã học trên
lớp. Từ đó những học sinh này thường đến lớp với tâm trạng lo lắng, sợ sệt
vì sức ép bài vở. Để khắc phục tình trạng này tôi đã tạo cho các em sự tự tin,
hứng thú khi học toán bằng cách:
- Khi thấy các em làm đúng một bài tập, dù bài tập đó rất dễ và đơn giản tôi
cũng vẫn tuyên dương kịp thời như: Khen hôm nay bạn làm toán đã có tiến
bộ, hiểu bài tốt, cả lớp vỗ tay tuyên dương bạn và được cộng điểm từ phần
mềm “class dojo”. Việc làm đó nó sẽ là động lực thúc đẩy các em hứng thú
hơn khi học toán mà cố gắng học tốt hơn.
Bảng danh sách các học sinh được cộng điểm class dojo
Ví dụ 1 : Sử dụng phần mềm trực tuyến “baamboozle”, “Online-Stopwatch”
Để tạo trò chơi cũng cố kiến thức môn Toán. Truy cập trò chơi.
Ví dụ 2 : Sử dụng phần mềm trực tuyến “Online-Stopwatch”
để tạo trò chơi cũng cố kiến thức môn Toán.
Có thể áp dụng ở các tiết học có rút ra quy tắc cần ghi nhớ như:
Các bài tìm số trung bình cộng, quy đồng mẫu số các phân số, rút
gọn phân số, các phép tính với phân số,… ).
2.5.3. Hướng dẫn học sinh các mẹo nhỏ để giải quyết bài tập
được dễ dàng hơn.
+ Ở lớp 4 học sinh bắt đầu được học các bài toán liên quan đến
phân số,
mà nhất là các bài tập về so sánh phân số, học sinh chưa hoàn
thành rất dễ nhầm lẫn giữa so sánh hai phân số cùng mẫu số và so
sánh hai phân số cùng tử số. Tôi đã cung cấp cho học sinh mẹo so
sánh hai phân số mà không bị lẫn lộn như sau:
+ Cùng mẫu số thì so sánh tử theo chiều thuận tức là phân
số có tử số lớn hơn thì lớn hơn, phân số có tử số bé hơn thì
bé hơn.
Ví dụ: xác định đây là hai phân số cùng mẫu số nên
so sánh tử theo chiều thuận ta thấy 4 < 6 nên
+ Cùng tử số thì so sánh mẫu theo chiều ngược tức là
phân số có mẫu số lớn hơn thì bé hơn, phân số có mẫu số bé
hơn thì lớn hơn.
Ví dụ: xác định đây là hai phân số cùng tử số nên so sánh mẫu
theo chiều ngược ta thấy 4 < 8 nên ( Hai phân số có cùng từ số
phân số nào có mẫu số bé hơn thì phân số đó lớn hơn)
Sau khi cung cấp cho học sinh mẹo này thì tôi cho học sinh
ghi nhớ câu “trên thuận, dưới ngược”.
- Cũng bắt đầu từ lớp 4 học sinh được học và thực hiện phép chia
số có 2 chữ số. Học sinh CHT sẽ rất dễ làm sai do không nhẩm
được thương. Tôi đã giúp các em nhẩm thương như sau:
+ Làm tròn số đến hàng chục:
( *). Làm tròn xuống: Khi làm tròn số đến hàng chục, ta so sánh chữa số hàng đơn vị
với 5. Nếu chữ số hàng đơn vị bé hơn 5 thì ta làm tròn xuống.
- Nếu số bị chia và số chia có tận cùng là 1, 2, 3, 4 thì ta sẽ làm tròn xuống. Tức là
sẽ bớt ở số bị chia và số chia đi 1, 2, 3, 4 đơn vị.
Ví dụ 1: Tìm thương trong phép chia 74 : 21. Ta thấy 74 và 21 có tận cùng là 4, 3
nên làm tròn 74 thành 70, 21 thành 20. Rồi nhẩm 70 : 20 = 3
Khi thực hành, ta nhẩm như sau: 74 : 21 (nhẩm 7: 2 = 3)
Sau khi nhẩm được thương là 4, ta phải thử lại 3 x 21 = 63, 74 – 63 = 11,
11< 21 nên 74 : 21 = 3 dư 11.
( *). Làm tròn lên: Nếu chữ số hàng đơn vị từ 5 trở lên thì ta làm tròn lên.
- Nếu số bị chia và số chia có tận cùng là 5, 6, 7, 8, 9 thì ta sẽ làm tròn
lên. Tức là sẽ thêm ở số bị chia và số chia 5, 4, 3, 2, 1 đơn vị.
Ví dụ 1: 87 : 18 = ?
- Ta thấy tận cùng của số bị chia và số chia là 7 và 8 nên làm tròn 87 ->
90,
18 -> 20 sau đó nhẩm 8 : 2 được 4.
- Thử lại: 4 x 18 = 72, 87 – 72 = 15; 15 < 18 nên 87 : 18 được 4 dư 15
( *). Làm tròn cả xuống và lên:
Nếu trong số bị chia và số chia có một số có tận cùng là 1, 2, 3, 4 và
một số có tận cùng là 5, 6, 7, 8, 9 thì ta phải thực hiện đồng thời 2 cách làm
tròn xuống và làm tròn lên. Có nghĩa với số có tận cùng là 1, 2, 3, 4 thì ta làm
tròn xuống, còn đối với số có tận cùng là 5, 6, 7, 8, 9 thì ta làm tròn lên.
Ví dụ 1: 61 : 28 = ?
- Ta thấy 61 có tận cùng là 1 nên làm tròn xuống 61 -> 60, 28 có tận cùng
là 8 nên làm tròn lên 28 -> 30, rồi nhẩm 60 : 30 được 2.
- Thử lại: 2 x 28 = 56, 61 – 56 = 5, 5 < 28 nên 61 : 28 được 2 dư 5.
Ví dụ 1: 61 : 28 = ?
- Ta thấy 61 có tận cùng là 1 nên làm tròn xuống 61 -> 60, 28 có tận cùng là
8 nên làm tròn lên 28 -> 30, rồi nhẩm 60 : 30 được 2.
- Thử lại: 2 x 28 = 56, 61 – 56 = 5, 5 < 28 nên 61 : 28 được 2 dư 5.
. Trường hợp nhẩm thương chưa đúng thì ta có thể thêm vào hoặc bớt
đi 1 đơn vị:
- Nếu kết quả của thương nhân số chia bé hơn số bị chia quá nhiều (số dư
> số chia) thì ta cộng thêm vào thương 1,2,.. đơn vị.
Vậy 135 chia 36 được 3, 3 nhân 36 bằng 108, lấy 135 trừ 108
bằng 27
- Nếu kết quả của thương nhân số chia lớn hơn số bị chia thì ta
trừ bớt ở thương 1,2,.. đơn vị.
Ví dụ:
13 536
36
135 : 36 =? Ta nhẩm 100 chia 40 được 2
+ Vậy 135 chia 36 được 2, lấy 2 nhân 36
bằng 72.
+ 135 trừ 72 bằng 63. Ta thấy số dư 63 > số
chia 36 nên ta cộng 1 vào thương là 3
Ví dụ: 253
15
25 : 15 = ? nhẩm 30 : 20 được 1
+. Trường hợp số bị chia và số chia là số có hai chữ số chữ số
hàng đơn vị đều bằng 5 thì ta sẽ cùng cộng thêm 5 vào hai số để
làm tròn chục rồi nhẩm
Ví dụ:
253
15
25 : 15 = ? nhẩm 30 : 20 được 1
Vậy 25 chia 15 được 1
2.5.4. Tạo ra môi trường học tập an toàn, thân thiện.
- Trong quá trình dạy học, thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ
cười….GV tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để học sinh bày tỏ
những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống.
- Trong dạy học, giáo viên thay chê bai bằng khen ngợi, tìm những việc
làm mà các em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi. Hàng tháng
tổng kết, bình chọn và tặng một món quà nhỏ để khích lệ các em. Việc làm
này giúp đối tượng học sinh chưa hoàn thành thêm tự tin, tự hào về bản thân.
Đó cũng chính là lúc học sinh cảm thấy thoải mái trong học tập. Khi có cảm
giác thoải mái thì học sinh sẽ tham gia các hoạt động học tập một cách tích
cực đem lại hiệu quả.
- Trên lớp bạn học hoặc GV cần giúp đỡ kịp thời để tránh những
khó khăn thường trực, dần dần giúp các em tự kiểm tra, biết nhờ
bạn, nhờ GV giúp đỡ khi cần.
- Tạo không gian lớp học sạch sẽ, thoáng mát, đẹp.
- Tổ chức tốt giờ sinh hoạt tập thể: Trong giờ SHTT, tôi thường
động viên khuyến khích học sinh tự nhận ra ưu, khuyết điểm của
mình để kịp thời khắc phục, điều chỉnh, tránh chê bai khiến học
sinh càng tự ti.
- Trong qua trình giảng dạy nếu học sinh có những hành động
không đúng hay những câu phát biểu sai thì việc đầu tiên là phải
khen những hành động tích cực tham gia phát biểu của học sinh
(tránh việc GV tỏ ra thái độ không hài lòng vì làm như thế sẽ tạo
cho học sinh mà nhất là học sinh CHT cảm giác lo lắng, sợ sệt khi
bày tỏ ý kiến) rồi sau đó mới giúp học sinh nhận ra lỗi sai của
mình, biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố quan trọng để mang đến
sự tiến bộ.
2.6. Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh học tập ở nhà.
Sau các buổi học tôi dành thời gian hướng dẫn hoc sinh
học tập ở nhà cụ thể từng bài học của ngày hôm sau và giao
việc cụ thể, rõ ràng, đến ngày hôm sau mang vở đến lớp để
kiểm tra (ngoài ra còn thường xuyên giao bài và nhắc nhở
các em học tập qua qua zalo để phụ huynh cùng theo dỏi và
giám sát việc học của học sinh). Đây là việc làm rất cần
thiết.
Ví dụ 1: Giao việc cụ thể cho học sinh về nhà học bài
qua nhóm zalo cho phụ huynh theo dỏi, giám sát.
+ Đọc thuộc quy tắc nhân hai phân số.
trang 86
+ Làm bài 1,2 . Phần hoạt động.
trang 87
+ Xem trước bài tập 1. Phần luyện tập.
trang 87.
Với những biện pháp như đã nêu trên tôi nhận thấy kết quả học
tập của học sinh chưa hoàn thành đã có nhiều tiến bộ, các em đã có
ý thức ham học vì trong quá trình học tập đã giành được nhiều
điểm tốt, tham gia phát biểu và trả lời, làm được nhiều phép tính,
bài toán đúng, học sinh tự tin hơn. Kết quả được thể hiện qua bảng
sau:
Kết quả đạt được: Năm học 2022 – 2023
Tổng số
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
24
TS
%
TS
%
TS
%
Đầu năm
5
20,8%
12
50.1%
7
29,1
Cuối năm học
9
37,5%
14
58,3%
1
4,2%
3. Bài học kinh nghiệm.
Qua thực hiện các giải pháp trên, tôi rút ra một số kinh nghiệm quan
trọng. Trước hết, cần hiểu rõ đối tượng học sinh để xây dựng phương pháp
phù hợp, giúp các em lấy lại tự tin và động lực học tập. Áp dụng phương
pháp dạy học linh hoạt, cá nhân hóa cho từng em, tập trung vào những kiến
thức cơ bản và thực hành nhiều sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. Ngoài ra, cần
phối hợp chặt chẽ với phụ huynh và tăng cường sử dụng công nghệ hỗ trợ.
Qua đó giúp các em đến lớp với tinh thần sảng khoái, phấn khởi vui tươi, để
mỗi ngày đến trường là một niềm vui của các em. Tôi nghĩ rằng đó cũng là
một thành công lớn đối với mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp.
Tuy có nhiều cố gắng song vẫn còn những hạn chế thiếu sót rất
mong nhận được sự góp ý của các thầy cô trong ban giám khảo.
giúp tôi hoàn thiện hơn các “Biện pháp nâng cao chất lượng cho
học sinh chưa hoàn thành môn toán lớp 4”. Để đạt được kết quả
ngày càng cao hơn. Xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Dương Thị Kim Luyến
Thượng Ninh, ngày 22 tháng 9 năm 2024
Tôi xin cam đoan biện pháp lần đầu được
dùng để đăng ký thi giáo viên dạy giỏi cấp
huyện và chưa được dùng để xét duyệt
thành tích khen thưởng cá nhân
trước đó.
Người viết.
Đào Đình Toan
CÁC THẦY, CÔ GIÁO BAN GIÁM KHẢO
HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2024- 2025
MỘT SỐ BIỆN PHÁP “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH
MÔN TOÁN LỚP 4D” NĂM HỌC 2022 - 2023
1. Thực trạng chất lượng công tác giảng dạy của lớp.
Năm học 2022 - 2023, Tôi được phân công phụ trách lớp 4D Trường Tiếu học Thượng Ninh. Lớp tôi
có tổng số là 24 em học sinh trong đó có 10 em nữ và 14 em nam, học sinh dân tộc thiểu số là 20 em, học
sinh dân tộc Kinh là 4 em. Các em đều là con em ở nông thôn, bố mẹ đi làm ăn xa, ở nhà với ông bà, nên sự
quan tâm đến việc học tập của các em là rất hạn chế. Thông qua khảo sát chất lượng học sinh đầu năm. Tôi
nhận thấy còn nhiều học sinh còn yếu nhiều đối với môn toán.
Từ thực trạng học sinh yếu kém trong môn toán không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng chung cả lớp mà
còn tác động đến chất lượng giáo dục chung của nhà trường. Nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố như
phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, hoặc bản thân học sinh chưa có động lực,
học sinh tiếp thu bài chậm hoặc các em bị rỗng kiến thức từ lớp dưới
PHÁP “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH MÔN TOÁN LỚP 4D” NĂM
HỌC 2022 - 2023
Để có luận cứ đưa ra trong đề tài này tôi đã khảo sát chất lượng
môn Toán lớp 4D năm học 2022-2023 kết quả như sau:
Từ kết quả khảo sát trên, tôi đưa ra một số biện pháp để thực
hiện như sau :
Tổng số Hoàn thành tốt Hoàn thành
24
Chưa hoàn thành
TS
%
TS
%
TS
%
5
20,8%
12
50,1%
7
29,1%
Từ kết quả khảo sát trên, tôi đưa ra một số biện pháp để thực hiện như sau :
2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục và giảng dạy.
Trong phạm vi bài viết, tôi chỉ đề cập đến một số biện pháp để nâng cao
chất lượng học tập cho học sinh chưa hoàn thành ở môn Toán lớp 4. Sau đây
là một số biện pháp mà tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và tiến hành:
2.1. Biện pháp 1: Điều tra tình hình học sinh.
- Để nắm bắt được tình hình về học sinh lớp mình chủ nhiệm tối đã làm như
sau :
+ Tình hình học tập năm học trước của từng học sinh thông qua học bạ,
qua sổ chủ nhiệm, qua thông tin của GVCN năm học trước, nơi các em cư trú
và tìm hiểu thông qua gia đình các em.
+ Thông qua trao đổi trò chuyện với học sinh chưa hoàn thành, tìm hiểu hoàn
cảnh, sở thích, sở trường của từng học sinh. Trò chuyện với các học sinh
khác về những học sinh chưa hoàn thành.
2.2. Biện pháp 2: Phân loại học sinh và cá nhân hóa phương pháp giảng
dạy.
Tôi thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc nắm bắt kiến thức của học sinh, từ
đó phân loại đối tượng học sinh về học lực để tiện theo dõi, giúp đỡ trong
qua trình giảng dạy, cụ thể:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Nhóm HTT
Hà Thị Phương Anh
Chu Nhật Minh
Hà Văn Hoàng
Quách Văn Lộc
Nhóm HT
Đỗ Trung Thế Anh
Trần Tuấn Anh
Quách Thị Ngọc Hân
Bùi Thị Trà My
Nguyễn Văn Chung
Trần Thị Bảo Ngọc
Ng Văn Anh Nguyên
Quách T. Như Nguyệt
Bùi Nguyễn Phát
Đoàn Hải Đăng
Trần Công Huy
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Hà Thị Diệu Uyên
Nhóm CHT
Nguyễn Thị Minh Thư
Phạm Thị Khánh Ly
Quách Văn Đại
Bùi Thị Linh Đan
Nguyễn Khắc Đan
Quách Văn Phú
Quách Văn Quân
Làm bài téc về khả năng ghi nhớ của học sinh. Giáo viên đọc 10
chữ số : 1, 2, 4, 5, 7, 6, 3, 8, 9, 10. Cho nhóm học sinh chưa hoàn
thành nghe 3 lần, yêu cầu học sinh viết lại theo đúng thứ tự các sô
giáo viên đã đọc. kết quả các 3 em viết đúng 10 chữ số, đúng thứ
tự, số còn lại viết không đúng thứ tự. Qua bài téc thấy được 3 học
sinh ghi nhớ được, còn lại là số học sinh tiếp thu bài chậm, ghi nhớ
kém.
Cá nhân hóa bài giảng: Thiết kế các bài giảng với độ khó phù
hợp với từng nhóm học sinh. Học sinh yếu cần được cung cấp các
bài tập cơ bản, từ đơn giản dễ hiểu, sau đó dần nâng cao.
Dạy kèm riêng: Trong các tiết học hoặc giờ học phụ
đạo, dành thời gian kèm cặp riêng cho những học sinh yếu
để giúp các em nắm vững bài học. Tăng cường dạy kèm
cho các em vào buổi chiều các em không có tiết học, dạy
vào thứ 7 hàng tuần. Dạy bù đắp những kiến thức các em
đã bị rỗng từ lớp dưới, kết hợp động viên khích lệ các em
trong quá trình học tập, giúp các em tự tin trong học tập
2.3. Biện pháp 3. Tăng cường tương tác giữa giáo viên, phụ huynh và
học sinh.
Giao tiếp thường xuyên với phụ huynh: Thông qua các buổi họp phụ
huynh và trao đổi qua điện thoại hoặc ứng dụng nhắn tin, giáo viên sẽ cập
nhật tình hình học tập của học sinh, đồng thời khuyến khích phụ huynh hỗ
trợ con em mình tại nhà.
Hướng dẫn phụ huynh cách hỗ trợ con học Toán: Giáo viên cung cấp cho
phụ huynh các phương pháp hỗ trợ học Toán, giúp phụ huynh có thể giúp đỡ
con khi cần.
Tạo môi trường học tập tại nhà: Đề xuất phụ huynh xây dựng một môi
trường học tập nghiêm túc, hạn chế chơi điện thoại và xem ti vi nhiều, bị gây
xao nhãng.
2.4. Biện pháp 4. Ứng dụng công nghệ thông tin và trò chơi học tập
Sử dụng phần mềm học Toán trực tuyến: Ứng dụng các phần mềm học
tập như Violympic, Khan Academy để giúp học sinh học Toán một cách linh
hoạt và hấp dẫn hơn
Tổ chức trò chơi toán học: Đưa vào các trò chơi toán học nhằm kích
thích sự hứng thú của học sinh, giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn thông qua
việc học mà chơi.
Sử dung phần mềm class dojo để tích điểm thi đua cho học trong các
tiết học, tích điểm theo tuần, theo tháng và năm học.
2.5. Biện pháp 5: Giảng dạy ở trên lớp.
2.5 1. Dạy phân hóa đối tượng học sinh.
- Trong quá trình thiết kế bài dạy, tôi đã cân nhắc các mục tiêu đề ra
nhằm tạo điều kiện cho các em được củng cố và luyện tập phù hợp với trình
độ nhận thức cảu các em. Có những loại bài tập cho các đối tượng, năng
khiếu, trung bình và yếu.
Ví dụ : Phép trừ các số có nhiều chữ số. Bài 1 trang 80.
Mục tiêu : Trừ được các số có nhiều chữ số, biết cách đặt tính và thực hiện
được các phép tính. Nhưng với học sinh chưa hoàn thành cần thiết kế lại mức
độ thấp hơn so với chuẩn.
Phiếu bài tập dành cho học sinh chưa hoàn thành:
Bài 1. Đặt tính rồi tính. ( chỉ yêu cầu học sinh thực hiện phép trừ có
nhớ 1 lần)
6 724 – 3 215
129
37 891 – 12 522
……………
…………………
…………………
……………
…………………
………………….
……………
………………….
95 332 - 82
Ví dụ: Bài 1. Đặt tính rồi tính. Trang 25. Thiết kế bài tập mức dễ hơn so với
chuẩn. ( Số bị chia lớn hơn số chia ở lượt chia đầu tiên)
3 615 : 15
3 615
15
7 344 : 16
7 344
16
32 318 : 26
32 318
26
2.5.2. Tạo cho các em sự tự tin, hứng thú khi học toán.
- Học sinh Chưa hoàn thành thường tiếp thu kiến thức chậm hoặc do bị rỗng
kiến thức từ lớp dưới, về nhà các em không ôn luyện lại kiến thức đã học trên
lớp. Từ đó những học sinh này thường đến lớp với tâm trạng lo lắng, sợ sệt
vì sức ép bài vở. Để khắc phục tình trạng này tôi đã tạo cho các em sự tự tin,
hứng thú khi học toán bằng cách:
- Khi thấy các em làm đúng một bài tập, dù bài tập đó rất dễ và đơn giản tôi
cũng vẫn tuyên dương kịp thời như: Khen hôm nay bạn làm toán đã có tiến
bộ, hiểu bài tốt, cả lớp vỗ tay tuyên dương bạn và được cộng điểm từ phần
mềm “class dojo”. Việc làm đó nó sẽ là động lực thúc đẩy các em hứng thú
hơn khi học toán mà cố gắng học tốt hơn.
Bảng danh sách các học sinh được cộng điểm class dojo
Ví dụ 1 : Sử dụng phần mềm trực tuyến “baamboozle”, “Online-Stopwatch”
Để tạo trò chơi cũng cố kiến thức môn Toán. Truy cập trò chơi.
Ví dụ 2 : Sử dụng phần mềm trực tuyến “Online-Stopwatch”
để tạo trò chơi cũng cố kiến thức môn Toán.
Có thể áp dụng ở các tiết học có rút ra quy tắc cần ghi nhớ như:
Các bài tìm số trung bình cộng, quy đồng mẫu số các phân số, rút
gọn phân số, các phép tính với phân số,… ).
2.5.3. Hướng dẫn học sinh các mẹo nhỏ để giải quyết bài tập
được dễ dàng hơn.
+ Ở lớp 4 học sinh bắt đầu được học các bài toán liên quan đến
phân số,
mà nhất là các bài tập về so sánh phân số, học sinh chưa hoàn
thành rất dễ nhầm lẫn giữa so sánh hai phân số cùng mẫu số và so
sánh hai phân số cùng tử số. Tôi đã cung cấp cho học sinh mẹo so
sánh hai phân số mà không bị lẫn lộn như sau:
+ Cùng mẫu số thì so sánh tử theo chiều thuận tức là phân
số có tử số lớn hơn thì lớn hơn, phân số có tử số bé hơn thì
bé hơn.
Ví dụ: xác định đây là hai phân số cùng mẫu số nên
so sánh tử theo chiều thuận ta thấy 4 < 6 nên
+ Cùng tử số thì so sánh mẫu theo chiều ngược tức là
phân số có mẫu số lớn hơn thì bé hơn, phân số có mẫu số bé
hơn thì lớn hơn.
Ví dụ: xác định đây là hai phân số cùng tử số nên so sánh mẫu
theo chiều ngược ta thấy 4 < 8 nên ( Hai phân số có cùng từ số
phân số nào có mẫu số bé hơn thì phân số đó lớn hơn)
Sau khi cung cấp cho học sinh mẹo này thì tôi cho học sinh
ghi nhớ câu “trên thuận, dưới ngược”.
- Cũng bắt đầu từ lớp 4 học sinh được học và thực hiện phép chia
số có 2 chữ số. Học sinh CHT sẽ rất dễ làm sai do không nhẩm
được thương. Tôi đã giúp các em nhẩm thương như sau:
+ Làm tròn số đến hàng chục:
( *). Làm tròn xuống: Khi làm tròn số đến hàng chục, ta so sánh chữa số hàng đơn vị
với 5. Nếu chữ số hàng đơn vị bé hơn 5 thì ta làm tròn xuống.
- Nếu số bị chia và số chia có tận cùng là 1, 2, 3, 4 thì ta sẽ làm tròn xuống. Tức là
sẽ bớt ở số bị chia và số chia đi 1, 2, 3, 4 đơn vị.
Ví dụ 1: Tìm thương trong phép chia 74 : 21. Ta thấy 74 và 21 có tận cùng là 4, 3
nên làm tròn 74 thành 70, 21 thành 20. Rồi nhẩm 70 : 20 = 3
Khi thực hành, ta nhẩm như sau: 74 : 21 (nhẩm 7: 2 = 3)
Sau khi nhẩm được thương là 4, ta phải thử lại 3 x 21 = 63, 74 – 63 = 11,
11< 21 nên 74 : 21 = 3 dư 11.
( *). Làm tròn lên: Nếu chữ số hàng đơn vị từ 5 trở lên thì ta làm tròn lên.
- Nếu số bị chia và số chia có tận cùng là 5, 6, 7, 8, 9 thì ta sẽ làm tròn
lên. Tức là sẽ thêm ở số bị chia và số chia 5, 4, 3, 2, 1 đơn vị.
Ví dụ 1: 87 : 18 = ?
- Ta thấy tận cùng của số bị chia và số chia là 7 và 8 nên làm tròn 87 ->
90,
18 -> 20 sau đó nhẩm 8 : 2 được 4.
- Thử lại: 4 x 18 = 72, 87 – 72 = 15; 15 < 18 nên 87 : 18 được 4 dư 15
( *). Làm tròn cả xuống và lên:
Nếu trong số bị chia và số chia có một số có tận cùng là 1, 2, 3, 4 và
một số có tận cùng là 5, 6, 7, 8, 9 thì ta phải thực hiện đồng thời 2 cách làm
tròn xuống và làm tròn lên. Có nghĩa với số có tận cùng là 1, 2, 3, 4 thì ta làm
tròn xuống, còn đối với số có tận cùng là 5, 6, 7, 8, 9 thì ta làm tròn lên.
Ví dụ 1: 61 : 28 = ?
- Ta thấy 61 có tận cùng là 1 nên làm tròn xuống 61 -> 60, 28 có tận cùng
là 8 nên làm tròn lên 28 -> 30, rồi nhẩm 60 : 30 được 2.
- Thử lại: 2 x 28 = 56, 61 – 56 = 5, 5 < 28 nên 61 : 28 được 2 dư 5.
Ví dụ 1: 61 : 28 = ?
- Ta thấy 61 có tận cùng là 1 nên làm tròn xuống 61 -> 60, 28 có tận cùng là
8 nên làm tròn lên 28 -> 30, rồi nhẩm 60 : 30 được 2.
- Thử lại: 2 x 28 = 56, 61 – 56 = 5, 5 < 28 nên 61 : 28 được 2 dư 5.
. Trường hợp nhẩm thương chưa đúng thì ta có thể thêm vào hoặc bớt
đi 1 đơn vị:
- Nếu kết quả của thương nhân số chia bé hơn số bị chia quá nhiều (số dư
> số chia) thì ta cộng thêm vào thương 1,2,.. đơn vị.
Vậy 135 chia 36 được 3, 3 nhân 36 bằng 108, lấy 135 trừ 108
bằng 27
- Nếu kết quả của thương nhân số chia lớn hơn số bị chia thì ta
trừ bớt ở thương 1,2,.. đơn vị.
Ví dụ:
13 536
36
135 : 36 =? Ta nhẩm 100 chia 40 được 2
+ Vậy 135 chia 36 được 2, lấy 2 nhân 36
bằng 72.
+ 135 trừ 72 bằng 63. Ta thấy số dư 63 > số
chia 36 nên ta cộng 1 vào thương là 3
Ví dụ: 253
15
25 : 15 = ? nhẩm 30 : 20 được 1
+. Trường hợp số bị chia và số chia là số có hai chữ số chữ số
hàng đơn vị đều bằng 5 thì ta sẽ cùng cộng thêm 5 vào hai số để
làm tròn chục rồi nhẩm
Ví dụ:
253
15
25 : 15 = ? nhẩm 30 : 20 được 1
Vậy 25 chia 15 được 1
2.5.4. Tạo ra môi trường học tập an toàn, thân thiện.
- Trong quá trình dạy học, thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ
cười….GV tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để học sinh bày tỏ
những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống.
- Trong dạy học, giáo viên thay chê bai bằng khen ngợi, tìm những việc
làm mà các em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi. Hàng tháng
tổng kết, bình chọn và tặng một món quà nhỏ để khích lệ các em. Việc làm
này giúp đối tượng học sinh chưa hoàn thành thêm tự tin, tự hào về bản thân.
Đó cũng chính là lúc học sinh cảm thấy thoải mái trong học tập. Khi có cảm
giác thoải mái thì học sinh sẽ tham gia các hoạt động học tập một cách tích
cực đem lại hiệu quả.
- Trên lớp bạn học hoặc GV cần giúp đỡ kịp thời để tránh những
khó khăn thường trực, dần dần giúp các em tự kiểm tra, biết nhờ
bạn, nhờ GV giúp đỡ khi cần.
- Tạo không gian lớp học sạch sẽ, thoáng mát, đẹp.
- Tổ chức tốt giờ sinh hoạt tập thể: Trong giờ SHTT, tôi thường
động viên khuyến khích học sinh tự nhận ra ưu, khuyết điểm của
mình để kịp thời khắc phục, điều chỉnh, tránh chê bai khiến học
sinh càng tự ti.
- Trong qua trình giảng dạy nếu học sinh có những hành động
không đúng hay những câu phát biểu sai thì việc đầu tiên là phải
khen những hành động tích cực tham gia phát biểu của học sinh
(tránh việc GV tỏ ra thái độ không hài lòng vì làm như thế sẽ tạo
cho học sinh mà nhất là học sinh CHT cảm giác lo lắng, sợ sệt khi
bày tỏ ý kiến) rồi sau đó mới giúp học sinh nhận ra lỗi sai của
mình, biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố quan trọng để mang đến
sự tiến bộ.
2.6. Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh học tập ở nhà.
Sau các buổi học tôi dành thời gian hướng dẫn hoc sinh
học tập ở nhà cụ thể từng bài học của ngày hôm sau và giao
việc cụ thể, rõ ràng, đến ngày hôm sau mang vở đến lớp để
kiểm tra (ngoài ra còn thường xuyên giao bài và nhắc nhở
các em học tập qua qua zalo để phụ huynh cùng theo dỏi và
giám sát việc học của học sinh). Đây là việc làm rất cần
thiết.
Ví dụ 1: Giao việc cụ thể cho học sinh về nhà học bài
qua nhóm zalo cho phụ huynh theo dỏi, giám sát.
+ Đọc thuộc quy tắc nhân hai phân số.
trang 86
+ Làm bài 1,2 . Phần hoạt động.
trang 87
+ Xem trước bài tập 1. Phần luyện tập.
trang 87.
Với những biện pháp như đã nêu trên tôi nhận thấy kết quả học
tập của học sinh chưa hoàn thành đã có nhiều tiến bộ, các em đã có
ý thức ham học vì trong quá trình học tập đã giành được nhiều
điểm tốt, tham gia phát biểu và trả lời, làm được nhiều phép tính,
bài toán đúng, học sinh tự tin hơn. Kết quả được thể hiện qua bảng
sau:
Kết quả đạt được: Năm học 2022 – 2023
Tổng số
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
24
TS
%
TS
%
TS
%
Đầu năm
5
20,8%
12
50.1%
7
29,1
Cuối năm học
9
37,5%
14
58,3%
1
4,2%
3. Bài học kinh nghiệm.
Qua thực hiện các giải pháp trên, tôi rút ra một số kinh nghiệm quan
trọng. Trước hết, cần hiểu rõ đối tượng học sinh để xây dựng phương pháp
phù hợp, giúp các em lấy lại tự tin và động lực học tập. Áp dụng phương
pháp dạy học linh hoạt, cá nhân hóa cho từng em, tập trung vào những kiến
thức cơ bản và thực hành nhiều sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. Ngoài ra, cần
phối hợp chặt chẽ với phụ huynh và tăng cường sử dụng công nghệ hỗ trợ.
Qua đó giúp các em đến lớp với tinh thần sảng khoái, phấn khởi vui tươi, để
mỗi ngày đến trường là một niềm vui của các em. Tôi nghĩ rằng đó cũng là
một thành công lớn đối với mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp.
Tuy có nhiều cố gắng song vẫn còn những hạn chế thiếu sót rất
mong nhận được sự góp ý của các thầy cô trong ban giám khảo.
giúp tôi hoàn thiện hơn các “Biện pháp nâng cao chất lượng cho
học sinh chưa hoàn thành môn toán lớp 4”. Để đạt được kết quả
ngày càng cao hơn. Xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Dương Thị Kim Luyến
Thượng Ninh, ngày 22 tháng 9 năm 2024
Tôi xin cam đoan biện pháp lần đầu được
dùng để đăng ký thi giáo viên dạy giỏi cấp
huyện và chưa được dùng để xét duyệt
thành tích khen thưởng cá nhân
trước đó.
Người viết.
Đào Đình Toan
 








Các ý kiến mới nhất