Biện Pháp Phát huy sáng tạo của học sinh lớp 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Giang Nguyễn
Ngày gửi: 19h:47' 21-11-2024
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 170
Nguồn:
Người gửi: Giang Nguyễn
Ngày gửi: 19h:47' 21-11-2024
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 170
Số lượt thích:
1 người
(trần minh hằng)
HỘI THI GVG TỈNH.....
BÁO CÁO GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
MÔN: MỸ THUẬT
NĂM HỌC 2023-2024
TÊN BIỆN PHÁP:
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT HUY TRÍ
TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO ĐỂ HỌC TỐT MÔN
MĨ THUẬT LỚP 3
I. MỞ ĐẦU
CẤU
TRÚC
BIỆN
II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
PHÁP
III. KẾT LUẬN
I. MỞ ĐẦU
Đổi mới giáo dục toàn diện
Nâng cao chất lượng
giáo dục
Sử dụng các biện pháp dạy
học tích cực giúp học sinh
phát huy trí tưởng tượng
sáng tạo, nâng cao chất
lượng môn mĩ thuật ở
trường tiểu học.
Nâng cao năng lực và phẩm
chất của học sinh
I. MỞ ĐẦU
2. Mục đích nghiên cứu.
- Giúp học sinh thêm yêu thích môn học thông qua các hoạt động học tập.
- Giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo, khả năng tư duy, rèn luyện cho các
em có khả năng biểu đạt, phân tích và tăng cường kỹ năng giao tiếp.
-Mặt khác, qua việc đúc kết những kinh nghiệm cũng chính là một trong những cách để
ghi nhận và xem xét lại quá trình thực hành giảng - dạy, để hoàn thiện kỹ năng sư phạm của
bản thân, để chọn lọc ra những gì đã làm tốt, cái gì cần phải làm tốt hơn và nghĩ cách khắc
phục những gì chưa tốt. Việc tự phân tích thiết yếu này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát
triển nghề nghiệp của mỗi giáo viên, đồng thời giúp cho mỗi giáo viên có cơ hội để trao đổi,
học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục đạt kết quả cao hơn.
I. MỞ ĐẦU
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp và quy trình tổ chức dạy, học môn Mĩ thuật ở các
khối lớp từ lớp 1 đến lớp 5 trong trường tiểu học. Đúc kết thành hệ thống những kinh nghiệm
dạy học đạt hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu
-Nghiên cứu các phương pháp đổi mới dạy học; Phương pháp điều tra thực trạng việc dạy
và học của giáo viên và việc học của học sinh; Phương pháp quan sát, đàm thoại; thực
nghiệm giáo dục;
- Đọc tài liệu, sách tham khảo, sách giáo khoa, tạp chí giáo dục Tiểu học…
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Giáo dục Mĩ thuật là giúp học sinh có khả năng cảm nhận, khám phá ra nặng lực của mình
thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra
những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình. Điều này giúp học sinh
có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghiệm và thái độ của các
em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy - học Mĩ thuật sáng tạo, giáo viên phải
luôn chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ
có một cách duy nhất.
II. NỘI DUNG
2. Thực trạng của đề tài
1. Thuận lợi:
- Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh. Cho đến nay các
trường đã có giáo viên dạy Mĩ Thuật, phong trào học Mĩ Thuật ngày càng một sôi nổi, hầu
hết các em học sinh hào hứng với môn học và môn học đã được chú ý.
-Giáo viên dạy Mĩ Thuật luôn được sự quan tâm của Ngành cấp trên, đặc biệt là Lãnh
đạo nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới
vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao. Giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ,có kinh nghiệm và năng lực
chuyên môn.
-Đối với học sinh các hoạt động của chủ đề nối tiếp liền mạch nhau, làm cho học sinh
luôn cảm thấy hào hứng khi được khám phá, sáng tạo với nhiều trải nghiệm. Mặt khác,
các em được thỏa thích với những sáng tạo, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều.
II. NỘI DUNG
2. Thực trạng của đề tài
2. Khó khăn
-Trang thiết bị phục vụ môn học chưa được đầu tư thoả đáng, chưa đủ đáp ứng nhu cầu
cho dạy - học Mĩ Thuật, chưa có loa máy, băng nhạc, sách đọc thêm và các tài liệu tham
khảo ,... để phục vụ cho môn Mĩ thuật.
-HS ít được quan sát, tham quan danh lam thắng cảnh và bảo tàng. Vì thế hiểu biết về
Mĩ Thuật, về cái đẹp chưa sâu rộng, không kích thích các em học tập. Bên cạnh đó, học
sinh chưa thực sự nhận thức đúng đắn mục đích, vai trò, vị trí của môn Mĩ Thuật.
- Hoạt động theo nhóm nhiều lợi thế nhưng nếu không được tổ chức một cách khoa học
thì
vấn đề trật tự lớp học sẽ vượt ra khỏi tầm kiểm soát của giáo viên. Vì làm việc theo nhóm,
các em đi thành vòng tròn nên hay nói chuyện, đùa giỡn trong khi thực hành sẽ gây ồn ào
ảnh hưởng tới các lớp học bên cạnh.
II. NỘI DUNG
2. Thực trạng của đề tài
Bảng thống kê kết quả môn Mĩ thuật ở học sinh lớp 3 khi chưa áp dụng biện
pháp
Hứng thú với môn
Hoàn thành sản
Sáng tạo trong sản phẩm.
Lớp
Sĩ số
học
phẩm
SL
%
SL
%
SL
%
3A
25
7
28
11
44
7
28
3B
26
8
31
12
46
6
23
3C
25
8
32
11
44
6
24
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh
Nhằm tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục
với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Học sinh cảm nhận được sự thoải mái khi
việc học của mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự trải nghiệm của
chính bản thân trong các hoạt động tập thể. Muốn xây dựng môi trường học tập thân trước hết
giáo viên cần thể hiện phong cách giao tiếp thực sự tôn trọng học sinh mọi cử chỉ, điệu bộ,
thái độ, ngôn ngữ đều phải thể hiện được sự thân thiện, luôn giao tiếp thân thiện với học sinh
trong mọi tình huống.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học
sinh
Ví dụ: Khi học sinh thực
hành giáo viên nên đi và quan
sát cả lớp, đặt câu hỏi để giúp
các em lựa chọn được màu sắc
và nội dung đạt chất lượng: Em
muốn thể hiện điều gì và em thể
hiện nội dung đó như thế nào?
Tại sao em sử dụng màu này?
Hình ảnh trong tranh của em có
theo những gì em muốn thể hiện
không? Trong bài vẽ của mình,
em muốn thêm hay bỏ chi tiết
nào? Lí do...?
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.2. Biện pháp 2: Xây dựng nội dung học tập gần gũi, quen thuộc và phù hợp với khả năng nhận
thức của các em.
-Để xây dựng các chủ đề cho phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp Ba, phù hợp với khả
năng của các em, trước hết giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình Mĩ Thuật mới, xây
dựng kế hoạch dạy học Mĩ Thuật theo phương pháp mới. Đồng thời tham khảo tài liệu tập
huấn phương pháp dạy học Mĩ Thuật mới để xây dựng kế hoạch cho đảm bảo mục tiêu giáo
dục của môn học.
-Trong quá trình tự nghiên cứu nội dung, chương trình môn Mĩ thuật lớp 3 tôi nhận
thấy Chương trình đã được xây dựng theo Chủ đề trong đó tích hợp các kỹ năng của môn học
như tạo hình, trang trí, thảo luận, vận dụng làm đẹp trong cuộc sống.. Mỗi chủ để thường từ
1- 5 tiết học, có 35 tiết/35 tuần học. Sách giáo khoa Mĩ thuật 3 hướng học sinh đến các hoạt
động nhận biết, thực hành, sáng tạo, trao đổi và chia sẻ cảm nhận với các chủ đề gần gũi, quen
thuộc và phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Các chủ đề dựa trên sự liên kết các phân môn Mĩ thuật
như: Vẽ, nặn, cắt, xé dán, thường thức mĩ thuật,…
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu quả:
Với đặc điểm của dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực thì hoạt động của giáo
viên đã thay đổi. Việc chính của giáo viên là tổ chức lớp học thành các nhóm và theo dõi, hướng
dẫn hoạt động của học sinh trong mỗi nhóm học tập.
Để hoạt động nhóm có hiệu quả, trước tiên tôi rèn luyện cho học sinh kỹ năng hợp tác nhóm.
+ Phải biết lắng nghe ý kiến của bạn và xem xét ý kiến nào hợp lý nhất, không được cố gắng
tự làm theo chủ ý của bản thân.
+ Khi được phân công nhiệm vụ, mỗi cá nhân sẽ tự nhận phần việc của mình cho phù hợp
với năng lực cá nhân .
+ Nhóm trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở các bạn trong nhóm khi trao đổi cần nói vừa đủ
nghe,
không ảnh hưởng đến nhóm khác.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu quả.
Ví dụ: Khi vẽ cùng nhau, xé dán, nặn hay tạo hình 2D, 3D thường có tình trạng em vẽ và làm
không kịp giờ, em lại không biết làm gì. Những trường hợp như thế tôi đã giúp các em dàn trải
công việc một cách hợp lý như: Nhắc các em phụ bạn vẽ màu vào hình, vẽ thêm vào khoảng trống
trong tranh, tạo cho các em tự mình làm một công việc nào đó tùy vào khả năng của các em mà tôi
có những gợi ý thích hợp.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu
quả.
Hay như khi tổ chức trò chơi
học tập Vẽ tiếp sức học sinh dưới
lớp hay hò hét, đứng ngồi rất lộn
xộn. Để khắc phục vấn đề này
giáo viên có thể thực hiện như
sau: Trong khi các đội thi vẽ trên
bảng thì học sinh ở dưới lớp sẽ
hát 1 bài hát, khi bài hát kết thúc
thì các đội thi vẽ phải ngừng tay.
Đội nào vẽ nhanh , vẽ đẹp nhất là
đội thắng cuộc.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu
quả.
Các em rất thích thú khi được thảo luận nhóm
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật trải qua 4 hoạt động ở lớp tôi tiến hành như sau.
+ Hoạt động 1: Quan sát
+ Hoạt động 2: Thể hiện
+ Hoạt động 3: Thảo luận
+ Hoạt động 4: Vận dụng.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
Ví dụ: Khi dạy chủ đề 5: Một số vật liệu sử dụng trong thực hành, sáng tạo Mĩ thuật.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.5. Biện pháp 5: Lồng ghép tổ chức các trò chơi vào tiết học Mĩ thuật
Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè của các em học sinh
lớp 3 cũng không thể thiếu. Nếu giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt
động học với sự thỏa mãn nhu cầu chơi, giao tiếp của các em “Học mà chơi, chơi mà học” thì
các em sẽ hăng hái, say mê học tập và kết qủa học tập của các em sẽ được nâng lên
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.5. Biện pháp 5: Lồng ghép tổ chức các trò chơi vào tiết học Mĩ thuật
Ví dụ: Trò chơi “Ai nhanh hơn”. Luật chơi như sau: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ sáng
tạo từ những chấm màu; học sinh dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải
ngừng tay chuyền. Đội nào có học sinh vẽ đẹp hơn là đội thắng cuộc…
Khi tổ chức trò chơi, giáo viên cần đánh giá
cao phần tham gia của các đội, không làm qua loa
đại khái, có khen thưởng, tuyên dương kịp thời
cũng là một biện pháp làm cho học sinh thêm tích
cực vì em nào cũng thích được khen, được thầy cô
quan tâm đến việc làm của mình. Bên cạnh đó cần
động viên những đội còn lại để các em cố gắng hơn
ở lần sau. Sau mỗi lần chơi giáo viên cần nhận xét
đánh giá kết quả của học sinh.
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
Lớp
Bảng thống kê kết quả môn Mĩ thuật ở học sinh lớp 3 sau khi áp dụng biện
pháp
Hứng thú với Sáng tạo trong sản
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Sĩ số
môn học
phẩm.
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3A
25
24
96
20
80
24
96
25
100
3B
26
25
96
22
84,6
25
96
26
100
3C
25 hiện những
25
100pháp trên,
21 sự hứng84thú, sáng 24
96 sinh đối25với môn
100Mĩ
Sau khi thực
biện
tạo của học
thuật có nhiều chuyển biến đặc biệt là với học sinh khối 3. Học sinh tạo ra nhiều sản phẩm sáng tạo
độc đáo theo ý thích của mình, thể hiện dược bản thân và tinh thần hợp tác nhóm, nâng cao nhận thức
về bảo vệ môi trường, hạn chế sử dụng rác thải nhựa. Dưới đây là kết quả sau khi tôi áp dụng phương
pháp mới vào việc dạy học môn dựa trên các chứng cứ: Học sinh có hứng thú hơn với bộ môn, có khả
năng quan sát sự vật và tạo được những mô hình có sự sáng tạo, nét riêng của bản thân.
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
Những sản phẩm Mĩ Thuật độc đáo của học sinh khối
3
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Việc vận dụng các biện pháp vào trong dạy học môn Mĩ Thuật có ý nghĩa rất thiết thực đối với học
sinh. Bởi quan trọng là thực hiện được yêu cầu cần đạt của chủ đề, học sinh hiểu và biết cách vẽ,
cách thể hiện sản phẩm như thế nào cho hiệu quả sẽ giúp các em vận dụng, thể hiện ý tưởng sáng
tạo của mình.
Tuy nhiên khi vận dụng đòi hỏi giáo viên phải kiên trì học tập, rèn luyện và phù hợp với
thực tiễn để hướng dẫn, gợi mở cho học sinh thể hiện ý tưởng sáng tạo của mình đem lại hiệu quả
cao trong dạy học. Vận dụng những biện pháp giúp học sinh sử dụng tốt và đem lại rất nhiều hữu
ích đối với giáo viên và học sinh.
Học sinh dễ nắm bắt các phương pháp mới mà giáo viên truyền thụ để vận dụng vào bài
thực hành sản phẩm một cách say mê hơn. Đặc biệt có những em luôn bám vào các chủ đề trong
sách giáo khoa bây giờ đã biết tự sáng tạo theo cách riêng của mình trong từng chủ đề. Sự tiến bộ
rõ rệt trong chất lượng sản phẩm của các em làm ra là minh chứng cho hiệu quả của giải pháp mà
giáo viên đã nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn.
III. KẾT LUẬN
2. Kiến nghị.
* Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo.
Tổ chức tập huấn rút kinh nghiệm qua quá trình áp dụng để giáo viên nắm vững thêm về
phương pháp mới. Cần xây dựng nội dung thành các tiết dạy minh họa nhằm định hướng tổ chức
dạy học và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên chuyên.
* Đối với trường:
+ Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu giảng dạy và đồ dùng
phục vụ cho việc dạy và học.
+ Như lời thầy Nguyễn Hữu Hạnh, chuyên viên chính Vụ Giáo dục Tiểu học, BGD&ĐT: “Cái gì
đổi mới, thời gian đầu cũng sẽ không tránh khỏi khó khăn, điều quan trọng chính là ở chỗ, người
giáo viên phải biết lấy học sinh làm trung tâm của quá trình giảng dạy, hiểu trình độ từng em, từ đó có
những hành động thiết thực để cải thiện điều kiện học tập và kết quả học tập của các em”. Dù khó
khăn nào giáo viên cũng sẽ cố gắng vượt qua, nhưng khó khăn do cơ sở vật chất nhà trường, do kinh
tế gia đình học sinh thì có cố mấy cũng không hiệu quả. Vậy nên kính mong các cấp, các ngành có
những điều chỉnh phù hợp để mỗi nhà trường, mỗi giáo viên chuyên trách Mĩ thuật không còn quá
lo lắng, băn khoăn và an tâm công tác, nhằm huy động nguồn lực dạy học Mĩ thuật hiệu quả, giúp học
sinh có cơ sở vật chất để học tập một cách tốt nhất.
BÁO CÁO GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
MÔN: MỸ THUẬT
NĂM HỌC 2023-2024
TÊN BIỆN PHÁP:
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT HUY TRÍ
TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO ĐỂ HỌC TỐT MÔN
MĨ THUẬT LỚP 3
I. MỞ ĐẦU
CẤU
TRÚC
BIỆN
II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
PHÁP
III. KẾT LUẬN
I. MỞ ĐẦU
Đổi mới giáo dục toàn diện
Nâng cao chất lượng
giáo dục
Sử dụng các biện pháp dạy
học tích cực giúp học sinh
phát huy trí tưởng tượng
sáng tạo, nâng cao chất
lượng môn mĩ thuật ở
trường tiểu học.
Nâng cao năng lực và phẩm
chất của học sinh
I. MỞ ĐẦU
2. Mục đích nghiên cứu.
- Giúp học sinh thêm yêu thích môn học thông qua các hoạt động học tập.
- Giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo, khả năng tư duy, rèn luyện cho các
em có khả năng biểu đạt, phân tích và tăng cường kỹ năng giao tiếp.
-Mặt khác, qua việc đúc kết những kinh nghiệm cũng chính là một trong những cách để
ghi nhận và xem xét lại quá trình thực hành giảng - dạy, để hoàn thiện kỹ năng sư phạm của
bản thân, để chọn lọc ra những gì đã làm tốt, cái gì cần phải làm tốt hơn và nghĩ cách khắc
phục những gì chưa tốt. Việc tự phân tích thiết yếu này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát
triển nghề nghiệp của mỗi giáo viên, đồng thời giúp cho mỗi giáo viên có cơ hội để trao đổi,
học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục đạt kết quả cao hơn.
I. MỞ ĐẦU
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp và quy trình tổ chức dạy, học môn Mĩ thuật ở các
khối lớp từ lớp 1 đến lớp 5 trong trường tiểu học. Đúc kết thành hệ thống những kinh nghiệm
dạy học đạt hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu
-Nghiên cứu các phương pháp đổi mới dạy học; Phương pháp điều tra thực trạng việc dạy
và học của giáo viên và việc học của học sinh; Phương pháp quan sát, đàm thoại; thực
nghiệm giáo dục;
- Đọc tài liệu, sách tham khảo, sách giáo khoa, tạp chí giáo dục Tiểu học…
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Giáo dục Mĩ thuật là giúp học sinh có khả năng cảm nhận, khám phá ra nặng lực của mình
thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra
những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình. Điều này giúp học sinh
có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghiệm và thái độ của các
em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy - học Mĩ thuật sáng tạo, giáo viên phải
luôn chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ
có một cách duy nhất.
II. NỘI DUNG
2. Thực trạng của đề tài
1. Thuận lợi:
- Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh. Cho đến nay các
trường đã có giáo viên dạy Mĩ Thuật, phong trào học Mĩ Thuật ngày càng một sôi nổi, hầu
hết các em học sinh hào hứng với môn học và môn học đã được chú ý.
-Giáo viên dạy Mĩ Thuật luôn được sự quan tâm của Ngành cấp trên, đặc biệt là Lãnh
đạo nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới
vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao. Giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ,có kinh nghiệm và năng lực
chuyên môn.
-Đối với học sinh các hoạt động của chủ đề nối tiếp liền mạch nhau, làm cho học sinh
luôn cảm thấy hào hứng khi được khám phá, sáng tạo với nhiều trải nghiệm. Mặt khác,
các em được thỏa thích với những sáng tạo, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều.
II. NỘI DUNG
2. Thực trạng của đề tài
2. Khó khăn
-Trang thiết bị phục vụ môn học chưa được đầu tư thoả đáng, chưa đủ đáp ứng nhu cầu
cho dạy - học Mĩ Thuật, chưa có loa máy, băng nhạc, sách đọc thêm và các tài liệu tham
khảo ,... để phục vụ cho môn Mĩ thuật.
-HS ít được quan sát, tham quan danh lam thắng cảnh và bảo tàng. Vì thế hiểu biết về
Mĩ Thuật, về cái đẹp chưa sâu rộng, không kích thích các em học tập. Bên cạnh đó, học
sinh chưa thực sự nhận thức đúng đắn mục đích, vai trò, vị trí của môn Mĩ Thuật.
- Hoạt động theo nhóm nhiều lợi thế nhưng nếu không được tổ chức một cách khoa học
thì
vấn đề trật tự lớp học sẽ vượt ra khỏi tầm kiểm soát của giáo viên. Vì làm việc theo nhóm,
các em đi thành vòng tròn nên hay nói chuyện, đùa giỡn trong khi thực hành sẽ gây ồn ào
ảnh hưởng tới các lớp học bên cạnh.
II. NỘI DUNG
2. Thực trạng của đề tài
Bảng thống kê kết quả môn Mĩ thuật ở học sinh lớp 3 khi chưa áp dụng biện
pháp
Hứng thú với môn
Hoàn thành sản
Sáng tạo trong sản phẩm.
Lớp
Sĩ số
học
phẩm
SL
%
SL
%
SL
%
3A
25
7
28
11
44
7
28
3B
26
8
31
12
46
6
23
3C
25
8
32
11
44
6
24
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh
Nhằm tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục
với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Học sinh cảm nhận được sự thoải mái khi
việc học của mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự trải nghiệm của
chính bản thân trong các hoạt động tập thể. Muốn xây dựng môi trường học tập thân trước hết
giáo viên cần thể hiện phong cách giao tiếp thực sự tôn trọng học sinh mọi cử chỉ, điệu bộ,
thái độ, ngôn ngữ đều phải thể hiện được sự thân thiện, luôn giao tiếp thân thiện với học sinh
trong mọi tình huống.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học
sinh
Ví dụ: Khi học sinh thực
hành giáo viên nên đi và quan
sát cả lớp, đặt câu hỏi để giúp
các em lựa chọn được màu sắc
và nội dung đạt chất lượng: Em
muốn thể hiện điều gì và em thể
hiện nội dung đó như thế nào?
Tại sao em sử dụng màu này?
Hình ảnh trong tranh của em có
theo những gì em muốn thể hiện
không? Trong bài vẽ của mình,
em muốn thêm hay bỏ chi tiết
nào? Lí do...?
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.2. Biện pháp 2: Xây dựng nội dung học tập gần gũi, quen thuộc và phù hợp với khả năng nhận
thức của các em.
-Để xây dựng các chủ đề cho phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp Ba, phù hợp với khả
năng của các em, trước hết giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình Mĩ Thuật mới, xây
dựng kế hoạch dạy học Mĩ Thuật theo phương pháp mới. Đồng thời tham khảo tài liệu tập
huấn phương pháp dạy học Mĩ Thuật mới để xây dựng kế hoạch cho đảm bảo mục tiêu giáo
dục của môn học.
-Trong quá trình tự nghiên cứu nội dung, chương trình môn Mĩ thuật lớp 3 tôi nhận
thấy Chương trình đã được xây dựng theo Chủ đề trong đó tích hợp các kỹ năng của môn học
như tạo hình, trang trí, thảo luận, vận dụng làm đẹp trong cuộc sống.. Mỗi chủ để thường từ
1- 5 tiết học, có 35 tiết/35 tuần học. Sách giáo khoa Mĩ thuật 3 hướng học sinh đến các hoạt
động nhận biết, thực hành, sáng tạo, trao đổi và chia sẻ cảm nhận với các chủ đề gần gũi, quen
thuộc và phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Các chủ đề dựa trên sự liên kết các phân môn Mĩ thuật
như: Vẽ, nặn, cắt, xé dán, thường thức mĩ thuật,…
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu quả:
Với đặc điểm của dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực thì hoạt động của giáo
viên đã thay đổi. Việc chính của giáo viên là tổ chức lớp học thành các nhóm và theo dõi, hướng
dẫn hoạt động của học sinh trong mỗi nhóm học tập.
Để hoạt động nhóm có hiệu quả, trước tiên tôi rèn luyện cho học sinh kỹ năng hợp tác nhóm.
+ Phải biết lắng nghe ý kiến của bạn và xem xét ý kiến nào hợp lý nhất, không được cố gắng
tự làm theo chủ ý của bản thân.
+ Khi được phân công nhiệm vụ, mỗi cá nhân sẽ tự nhận phần việc của mình cho phù hợp
với năng lực cá nhân .
+ Nhóm trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở các bạn trong nhóm khi trao đổi cần nói vừa đủ
nghe,
không ảnh hưởng đến nhóm khác.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu quả.
Ví dụ: Khi vẽ cùng nhau, xé dán, nặn hay tạo hình 2D, 3D thường có tình trạng em vẽ và làm
không kịp giờ, em lại không biết làm gì. Những trường hợp như thế tôi đã giúp các em dàn trải
công việc một cách hợp lý như: Nhắc các em phụ bạn vẽ màu vào hình, vẽ thêm vào khoảng trống
trong tranh, tạo cho các em tự mình làm một công việc nào đó tùy vào khả năng của các em mà tôi
có những gợi ý thích hợp.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu
quả.
Hay như khi tổ chức trò chơi
học tập Vẽ tiếp sức học sinh dưới
lớp hay hò hét, đứng ngồi rất lộn
xộn. Để khắc phục vấn đề này
giáo viên có thể thực hiện như
sau: Trong khi các đội thi vẽ trên
bảng thì học sinh ở dưới lớp sẽ
hát 1 bài hát, khi bài hát kết thúc
thì các đội thi vẽ phải ngừng tay.
Đội nào vẽ nhanh , vẽ đẹp nhất là
đội thắng cuộc.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động nhóm đoàn kết hiệu
quả.
Các em rất thích thú khi được thảo luận nhóm
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật trải qua 4 hoạt động ở lớp tôi tiến hành như sau.
+ Hoạt động 1: Quan sát
+ Hoạt động 2: Thể hiện
+ Hoạt động 3: Thảo luận
+ Hoạt động 4: Vận dụng.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
Ví dụ: Khi dạy chủ đề 5: Một số vật liệu sử dụng trong thực hành, sáng tạo Mĩ thuật.
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.4. Biện pháp 4: Tiến trình của một tiết dạy Mĩ thuật phát huy trí tưởng tượng sáng tạo để học
tốt
môn Mỹ thuật lớp 3
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.5. Biện pháp 5: Lồng ghép tổ chức các trò chơi vào tiết học Mĩ thuật
Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè của các em học sinh
lớp 3 cũng không thể thiếu. Nếu giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt
động học với sự thỏa mãn nhu cầu chơi, giao tiếp của các em “Học mà chơi, chơi mà học” thì
các em sẽ hăng hái, say mê học tập và kết qủa học tập của các em sẽ được nâng lên
3. Các biện pháp
II. NỘI DUNG
3.5. Biện pháp 5: Lồng ghép tổ chức các trò chơi vào tiết học Mĩ thuật
Ví dụ: Trò chơi “Ai nhanh hơn”. Luật chơi như sau: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ sáng
tạo từ những chấm màu; học sinh dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải
ngừng tay chuyền. Đội nào có học sinh vẽ đẹp hơn là đội thắng cuộc…
Khi tổ chức trò chơi, giáo viên cần đánh giá
cao phần tham gia của các đội, không làm qua loa
đại khái, có khen thưởng, tuyên dương kịp thời
cũng là một biện pháp làm cho học sinh thêm tích
cực vì em nào cũng thích được khen, được thầy cô
quan tâm đến việc làm của mình. Bên cạnh đó cần
động viên những đội còn lại để các em cố gắng hơn
ở lần sau. Sau mỗi lần chơi giáo viên cần nhận xét
đánh giá kết quả của học sinh.
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
Lớp
Bảng thống kê kết quả môn Mĩ thuật ở học sinh lớp 3 sau khi áp dụng biện
pháp
Hứng thú với Sáng tạo trong sản
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Sĩ số
môn học
phẩm.
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3A
25
24
96
20
80
24
96
25
100
3B
26
25
96
22
84,6
25
96
26
100
3C
25 hiện những
25
100pháp trên,
21 sự hứng84thú, sáng 24
96 sinh đối25với môn
100Mĩ
Sau khi thực
biện
tạo của học
thuật có nhiều chuyển biến đặc biệt là với học sinh khối 3. Học sinh tạo ra nhiều sản phẩm sáng tạo
độc đáo theo ý thích của mình, thể hiện dược bản thân và tinh thần hợp tác nhóm, nâng cao nhận thức
về bảo vệ môi trường, hạn chế sử dụng rác thải nhựa. Dưới đây là kết quả sau khi tôi áp dụng phương
pháp mới vào việc dạy học môn dựa trên các chứng cứ: Học sinh có hứng thú hơn với bộ môn, có khả
năng quan sát sự vật và tạo được những mô hình có sự sáng tạo, nét riêng của bản thân.
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
Những sản phẩm Mĩ Thuật độc đáo của học sinh khối
3
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
II. NỘI DUNG
4. Hiệu quả áp dụng biện pháp
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Việc vận dụng các biện pháp vào trong dạy học môn Mĩ Thuật có ý nghĩa rất thiết thực đối với học
sinh. Bởi quan trọng là thực hiện được yêu cầu cần đạt của chủ đề, học sinh hiểu và biết cách vẽ,
cách thể hiện sản phẩm như thế nào cho hiệu quả sẽ giúp các em vận dụng, thể hiện ý tưởng sáng
tạo của mình.
Tuy nhiên khi vận dụng đòi hỏi giáo viên phải kiên trì học tập, rèn luyện và phù hợp với
thực tiễn để hướng dẫn, gợi mở cho học sinh thể hiện ý tưởng sáng tạo của mình đem lại hiệu quả
cao trong dạy học. Vận dụng những biện pháp giúp học sinh sử dụng tốt và đem lại rất nhiều hữu
ích đối với giáo viên và học sinh.
Học sinh dễ nắm bắt các phương pháp mới mà giáo viên truyền thụ để vận dụng vào bài
thực hành sản phẩm một cách say mê hơn. Đặc biệt có những em luôn bám vào các chủ đề trong
sách giáo khoa bây giờ đã biết tự sáng tạo theo cách riêng của mình trong từng chủ đề. Sự tiến bộ
rõ rệt trong chất lượng sản phẩm của các em làm ra là minh chứng cho hiệu quả của giải pháp mà
giáo viên đã nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn.
III. KẾT LUẬN
2. Kiến nghị.
* Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo.
Tổ chức tập huấn rút kinh nghiệm qua quá trình áp dụng để giáo viên nắm vững thêm về
phương pháp mới. Cần xây dựng nội dung thành các tiết dạy minh họa nhằm định hướng tổ chức
dạy học và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên chuyên.
* Đối với trường:
+ Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu giảng dạy và đồ dùng
phục vụ cho việc dạy và học.
+ Như lời thầy Nguyễn Hữu Hạnh, chuyên viên chính Vụ Giáo dục Tiểu học, BGD&ĐT: “Cái gì
đổi mới, thời gian đầu cũng sẽ không tránh khỏi khó khăn, điều quan trọng chính là ở chỗ, người
giáo viên phải biết lấy học sinh làm trung tâm của quá trình giảng dạy, hiểu trình độ từng em, từ đó có
những hành động thiết thực để cải thiện điều kiện học tập và kết quả học tập của các em”. Dù khó
khăn nào giáo viên cũng sẽ cố gắng vượt qua, nhưng khó khăn do cơ sở vật chất nhà trường, do kinh
tế gia đình học sinh thì có cố mấy cũng không hiệu quả. Vậy nên kính mong các cấp, các ngành có
những điều chỉnh phù hợp để mỗi nhà trường, mỗi giáo viên chuyên trách Mĩ thuật không còn quá
lo lắng, băn khoăn và an tâm công tác, nhằm huy động nguồn lực dạy học Mĩ thuật hiệu quả, giúp học
sinh có cơ sở vật chất để học tập một cách tốt nhất.
 







Các ý kiến mới nhất