Tìm kiếm Bài giảng
Thực hành tiếng Việt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Loan
Ngày gửi: 15h:05' 25-05-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 41
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Loan
Ngày gửi: 15h:05' 25-05-2025
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 41
Số lượt thích:
0 người
I. Tri thức Ngữ văn
? Nhiệm vụ thảo luận nhóm 4 HS trong 3 phút: Thống nhất đáp án
Phiếu học tập
PHIẾU HỌC TẬP
Khái
niệm
Đặc
điểm
Ví dụ
Cách dẫn trực tiếp
Cách dẫn gián tiếp
Cách chuyển lời dẫn trực
tiếp thành lời dẫn gián
tiếp
1. Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián
tiếp
– Cách dẫn trực tiếp là sử dụng nguyên văn từ
ngữ, câu, đoạn,... của một VB gốc vào bài
viết, bài nói. Trong bài viết, phần dẫn trực
tiếp cần được đặt trong dấu ngoặc kép.
– Cách dẫn gián tiếp là sử dụng ý tưởng của
người khác và diễn đạt lại theo cách của
mình. Trong cách dẫn gián tiếp, tuy có thể
diễn đạt lại, nhưng người dẫn vẫn cần thể
hiện một cách trung thành ý tưởng trong VB
gốc. Trong bài viết, phần dẫn gián tiếp
2. Chuyển đổi từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián
tiếp
- Lược bỏ dấu ngoặc kép, dấu hai chấm đánh dấu phần dẫn
trực tiếp.
- Diễn đạt lại nội dung phần dẫn trực tiếp sao cho thích hợp,
đảm bảo trung thành với ý được dẫn trong VB gốc.
II. Luyện tập
Bài tập 1:
Đáp án: a-4
b-3
c-2
d-1
Bài tập 2:
a. Lời dẫn: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi
và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Cách dẫn trực tiếp lời văn (Lời nói viết thành chữ).
Dấu hiệu: Đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép
Sự phù hợp: Cách dẫn này hoàn toàn đảm bảo sự chính xác
khi dẫn từ một văn bản quan trọng (bản “Tuyên ngôn Nhân
quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp).
Bài tập 2:
b. Lời dẫn: “hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao nhiêu thằng, bao
nhiêu Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu
đâu và dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ
như chính ông lão vừa mới dự trận đánh giặc ấy xong thật”.
Cách dẫn gián tiếp lời nói thành tiếng của nhân vật
Dấu hiệu: không đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép
Sự phù hợp: Cách dẫn này hoàn toàn phù hợp với mục đích và nội
dung của lời dẫn (Chỉ nêu tóm tắt lời kể của ông Hai về các sự việc
hôm Tây vào khủng bố làng Chợ Dầu).
Bài tập 2:
c. Lời dẫn: “Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét
tước, dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”.
Cách dẫn trực tiếp ý nghĩ của nhân vật
Dấu hiệu: Đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép
Sự phù hợp: Cách dẫn này hoàn toàn phù hợp với mục đích
và nội dung của lời dẫn (Phản ánh trung thực ý nghĩ nhanh,
thoảng qua của nhân vật).
Bài tập 3:
a. Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười
hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ
Nương nhân đó cũng đưa một chiếc hoa vàng mà dặn nói hộ
với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập
một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống
nước, Vũ Nương sẽ trở về.
Bài tập 3:
b. Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng cái vườn là của con ta.
Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn
mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu.
c. Nhà văn Xu-khôm-lin-xki đã nói rằng con người sinh ra
không phải để tiêu biến như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra
để in dấu ấn lại trên mặt đất, in dấu ấn lại trong trái tim người
khác.
Bài tập 4:
* Yêu cầu về hình thức:
- Đoạn văn từ 8-10 câu
- Có sử dụng lời dẫn trực tiếp trong đề bài
* Yêu cầu về nội dung: Chủ đề “tinh thần yêu nước của nhân
dân ta”.
Củng cố, dặn dò
- HS về nhà học bài, hoàn thiện bài tập
- Chuẩn bị bài: Thực hành đọc hiểu “Chiếc lược ngà”.
? Nhiệm vụ thảo luận nhóm 4 HS trong 3 phút: Thống nhất đáp án
Phiếu học tập
PHIẾU HỌC TẬP
Khái
niệm
Đặc
điểm
Ví dụ
Cách dẫn trực tiếp
Cách dẫn gián tiếp
Cách chuyển lời dẫn trực
tiếp thành lời dẫn gián
tiếp
1. Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián
tiếp
– Cách dẫn trực tiếp là sử dụng nguyên văn từ
ngữ, câu, đoạn,... của một VB gốc vào bài
viết, bài nói. Trong bài viết, phần dẫn trực
tiếp cần được đặt trong dấu ngoặc kép.
– Cách dẫn gián tiếp là sử dụng ý tưởng của
người khác và diễn đạt lại theo cách của
mình. Trong cách dẫn gián tiếp, tuy có thể
diễn đạt lại, nhưng người dẫn vẫn cần thể
hiện một cách trung thành ý tưởng trong VB
gốc. Trong bài viết, phần dẫn gián tiếp
2. Chuyển đổi từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián
tiếp
- Lược bỏ dấu ngoặc kép, dấu hai chấm đánh dấu phần dẫn
trực tiếp.
- Diễn đạt lại nội dung phần dẫn trực tiếp sao cho thích hợp,
đảm bảo trung thành với ý được dẫn trong VB gốc.
II. Luyện tập
Bài tập 1:
Đáp án: a-4
b-3
c-2
d-1
Bài tập 2:
a. Lời dẫn: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi
và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Cách dẫn trực tiếp lời văn (Lời nói viết thành chữ).
Dấu hiệu: Đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép
Sự phù hợp: Cách dẫn này hoàn toàn đảm bảo sự chính xác
khi dẫn từ một văn bản quan trọng (bản “Tuyên ngôn Nhân
quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp).
Bài tập 2:
b. Lời dẫn: “hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao nhiêu thằng, bao
nhiêu Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu
đâu và dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ
như chính ông lão vừa mới dự trận đánh giặc ấy xong thật”.
Cách dẫn gián tiếp lời nói thành tiếng của nhân vật
Dấu hiệu: không đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép
Sự phù hợp: Cách dẫn này hoàn toàn phù hợp với mục đích và nội
dung của lời dẫn (Chỉ nêu tóm tắt lời kể của ông Hai về các sự việc
hôm Tây vào khủng bố làng Chợ Dầu).
Bài tập 2:
c. Lời dẫn: “Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét
tước, dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”.
Cách dẫn trực tiếp ý nghĩ của nhân vật
Dấu hiệu: Đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép
Sự phù hợp: Cách dẫn này hoàn toàn phù hợp với mục đích
và nội dung của lời dẫn (Phản ánh trung thực ý nghĩ nhanh,
thoảng qua của nhân vật).
Bài tập 3:
a. Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười
hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ
Nương nhân đó cũng đưa một chiếc hoa vàng mà dặn nói hộ
với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập
một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống
nước, Vũ Nương sẽ trở về.
Bài tập 3:
b. Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng cái vườn là của con ta.
Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn
mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu.
c. Nhà văn Xu-khôm-lin-xki đã nói rằng con người sinh ra
không phải để tiêu biến như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra
để in dấu ấn lại trên mặt đất, in dấu ấn lại trong trái tim người
khác.
Bài tập 4:
* Yêu cầu về hình thức:
- Đoạn văn từ 8-10 câu
- Có sử dụng lời dẫn trực tiếp trong đề bài
* Yêu cầu về nội dung: Chủ đề “tinh thần yêu nước của nhân
dân ta”.
Củng cố, dặn dò
- HS về nhà học bài, hoàn thiện bài tập
- Chuẩn bị bài: Thực hành đọc hiểu “Chiếc lược ngà”.
 








Các ý kiến mới nhất