KNTT - Bài 8. Một số cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ III trước Công nguyên đến cuối thế kỉ XIX)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Trần Bảo Trâm
Ngày gửi: 18h:22' 25-06-2025
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 259
Nguồn:
Người gửi: Bùi Trần Bảo Trâm
Ngày gửi: 18h:22' 25-06-2025
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 259
Số lượt thích:
1 người
(nhuyen thi hien)
KHỞI NGHĨA
LAM SƠN
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Năm 1407, cuộc kháng chiến chống quân Minh của
nhà Hồ thất bại, đất nước ta bước vào thời kì bị nhà
Minh đô hộ (1407-1427). Nhà Minh đã thi hành nhiều
chính sách cai trị, bóc lột nặng nề đối với nhân dân
Việt Nam.
Về hành chính, đặt Đại
Ngu thành quận Giao
Chỉ, chia thành các phủ,
huyện để cai trị.
Về kinh tế xã hội, đặt ra
nhiều thứ thuế nặng nề,
lùng bắt những người tài
đem về nước phục dịch.
Nhân dân chịu cảnh đoạ đày
dưới tay giặc Minh
Về văn hoá, bắt dân ta phải theo phong tục tập
quán của người Trung Hoa, dùng nhiều thủ đoạn để
thủ tiêu nền văn hoá Việt như ra lệnh đục bia, đốt
sách….
Bản đồ quận Giao Chỉ dưới triều Minh
Dưới ách thống trị
của nhà Minh, nhiều
cuộc khởi nghĩa đã
nổ ra, tiêu biểu là các
cuộc khởi nghĩa do
nhà hậu Trần lãnh
đạo như khởi nghĩa
của Trần Ngỗi
(1407-1409), Trần
Quý Khoáng (14091413),…. song đều
bị đàn áp.
Khởi nghĩa Trùng Quang Đế
(tranh minh hoạ)
Trước cảnh đó, Lê Lợi
(1385-1433)- một hào trưởng
có tiếng ở vùng Lam Sơn
(Thanh Hoá) đã dốc hết tài
sản để triệu tập nghĩa sĩ, bí
mật liên lạc với các hào kiệt,
xây dựng lực lượng và chọn
Lam Sơn làm căn cứ cho cuộc
khởi nghĩa.
Lam Sơn là vùng đồi núi
phía Tây Thanh Hoá, nằm
bên tả ngạn song Chu, có
địa thế hiểm trở; đồng
thời nằm trên con đường
huyết mạch nối miền núi
và miền biển, Nghệ An
với Đông Quan (thuộc Hà
Nội ngày nay).
Hội thề Lũng Nhai (tranh minh hoạ)
Khởi nghĩa Giản Định Đế (tranh
minh hoạ)
Chân dung Lê Lợi (tranh sơn
dầu của Hoàng Hoa Mai)
Năm 1416, Lê
Lợi cùng 18 hào
kiệt đã tổ chức
Hội thề ở Lũng
Nhai (Thanh
Hoá), quyết tâm
đánh đuổi giặc
Minh.
II. DIỄN BIẾN CHÍNH
1. Giai đoạn 1418-1423:
Đầu năm 1418, Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương,
truyền hịch kêu gọi nhân dân khởi nghĩa.
Do lực lượng còn yếu, trước sự tấn công của quân
Minh, nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn. Lê Lợi phải ba
lần cho rút quân lên vùng núi Chí Linh (Lang Chánh,
Thanh Hoá).
1423
Cuối năm 1418
Lê Lai đã cải trang làm Lê Lợi để đánh lạc hướng
quân Minh, giúp nghĩa quân thoát hiểm. Lê Lai
sau đó bị bắt và hy sinh.
Thiếu lương thực trầm trọng, Lê Lợi
phải giết cả voi, ngựa để nuôi quân,
lực lượng chỉ còn hơn 100 người.
Sử dụng địa hình hiểm trở của núi rừng Chí
Linh để đánh du kích, kéo dài thời gian và bảo
toàn lực lượng.
2. Giai đoạn 1424-1426:
Khi lực lượng đã được
củng cố, để gỡ thế bị bao
vây, Nguyễn Chích đã hiến
kế tiến vào đánh chiếm
Nghệ An làm căn cứ, từ đó
mở rộng giải phóng Tây Đô
(Thanh Hoá) và Đông Quan.
“Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng,
người đông…Nay trước tiên hãy đánh
lấy Trà Long, bình định cho được Nghệ
An. Rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay
ra Đông Đô (Đông Quan) thì có thể tính xong
việc dẹp thiên hạ….”.
(Viện Sử học, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục, Tập một, NXB Giáo dục,
2008, tr.362)
Nguyễn Chích (1382-1448)
Giữa năm 1419
Giữa năm 1423, Lê Lợi chủ trương tạm hoà với
quân Minh. Nguyễn Trãi thương lượng thành công.
Nghĩa quân trở về căn cứ Lam Sơn, từng bước khôi
phục, củng cố lực lượng.
Cuối năm 1424, nghĩa quân giải phóng Nghệ An,
sau đó giải phóng một vùng rộng lớn từ Thanh Hoá
đến đèo Hải Vân. Những thắng lợi này đã làm thay
đổi căn bản cục diện cuộc chiến và so sánh lực lượng
giữa hai bên theo hướng có lợi cho nghĩa quân.
3. Giai đoạn 1426-1427:
Tháng 9 – 1426, nghĩa quân tiến quân ra Bắc với sự
ủng hộ của nhân dân và thắng nhiều trận lớn. Quân Minh
phải rút về thành Đông Quan cố thủ.
Tháng 10 – 1427, Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ
huy 15 vạn viện binh theo hai đường Quảng Tây,
Vân Nam tiến vào nước ta. Nghĩa quân tổ chức
phục kích tại Chi Lăng (Lạng Sơn), Liễu Thăng bị
chém đầu.
Sau đó, nghĩa quân liên tiếp giành thắng lợi tại
Cần Trạm, Phố Cát và Xương Giang (Bắc Giang).
Lược đồ trận Tốt
Động – Chúc
Động
Tháng 10 – 1426, Vương Thông dẫn viện binh đến
thành Đông Quan và tấn công vào quân chủ lực của
nghĩa quân ở quanh thành.
Ngày 7 – 11 – 1426, quân ta mai phục, chặn đánh
địch ở Tốt Động – Chúc Động (Chương Mỹ, Hà Nội).
Quân Minh thấy bại nặng nề, nghĩa quân giải phóng
nhiều đất đai, siết chặt vây hãm thành Đông Quan.
Lược đồ trận Chi
Lăng – Xương
Giang
Lê Lợi sai người mang ấn tín và thư báo tin Liễu Thăng
tử trận cho Mộc Thạnh (đang đóng ở vùng biên giới Lào
Cai ngày nay). Quân giặc khiếp sợ, vội rút quân về nước.
Nghĩa quân vừa tăng cường xiết chặt vòng vây các
thành còn lại (Đông Quan, Tây Đô,…) vừa khéo léo dụ
hàng Vương Thông và các tướng lĩnh quân Minh.
Ngày 10 – 12 – 1427, bên bờ sông Hồng, Lê Lợi và
Vương Thông dẫn đầu hai phái đoàn tham gia Hội thề
Đông Quan, chấm dứt
chiến tranh. Đầu
tháng 1 – 1428, quân
Minh rút hết về nước,
đất nước hoàn toàn
giải phóng.
Lê Lợi giao Nguyễn
Trãi soạn Bình Ngô đại
Hội thề Đông Quan (tranh minh hoạ)
cáo, chính thức tuyên
bố chấm dứt chiến tranh, mở nền hoà bình và xây dựng
đất nước.
1407
Quân Minh
đặt ách
thống trị
Hội thề
Lũng Nhai
1416
1426
1425
1418
Lê Lợi xưng
Bình Định vương
Giải phóng
Tân Bình,
Thuận Hoá
Giải phóng
Nghệ An
Tiến quân
ra Bắc
1424
1426
Chiến thắng
Tốt Động Chúc Động
Chiến thắng
Chi Lăng –
Xương Giang
1427
Sơ đồ thời gian về những sự kiện tiêu biểu của khởi
nghĩa Lam Sơn
1427
Hội thề
Đông Quan
III. NGUYÊN NHÂN
THẮNG LỢI
& Ý NGHĨA LỊCH SỬ
1. Nguyên nhân thắng lợi:
• Do nhân dân ta luôn nêu
cao tinh thần yêu nước
nồng nàn, ý chí và quyết
tâm dành lại độc lập cho
dân tộc. Toàn dân đã đoàn
kết chiến đấu, đóng góp
của cải, lương thực, vũ
khí, chịu nhiều gian khổ
để giành thắng lợi cuối
cùng.
• Do đường lối lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt của
bộ chỉ huy nghĩa quân,
đứng đầu là những lãnh tụ
kiệt xuất như Lê Lợi và
Nguyễn Trãi, cùng những
vị tướng tài như Nguyễn
Chích, Nguyễn Xí,
Nguyễn Biểu, Lý Triện,
….
2. Ý nghĩa lịch sử:
• Là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc có
tính chất nhân dân rộng rãi, chấm dứt hơn 20
năm đô hộ của nhà Minh, khôi phục nền độc
lập, tự chủ của quốc gia Đaị Việt.
• Đưa đến sự thành lập của vương triều mới, mở
ra thời kì phát triển mới của đất nước.
THE END
LAM SƠN
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Năm 1407, cuộc kháng chiến chống quân Minh của
nhà Hồ thất bại, đất nước ta bước vào thời kì bị nhà
Minh đô hộ (1407-1427). Nhà Minh đã thi hành nhiều
chính sách cai trị, bóc lột nặng nề đối với nhân dân
Việt Nam.
Về hành chính, đặt Đại
Ngu thành quận Giao
Chỉ, chia thành các phủ,
huyện để cai trị.
Về kinh tế xã hội, đặt ra
nhiều thứ thuế nặng nề,
lùng bắt những người tài
đem về nước phục dịch.
Nhân dân chịu cảnh đoạ đày
dưới tay giặc Minh
Về văn hoá, bắt dân ta phải theo phong tục tập
quán của người Trung Hoa, dùng nhiều thủ đoạn để
thủ tiêu nền văn hoá Việt như ra lệnh đục bia, đốt
sách….
Bản đồ quận Giao Chỉ dưới triều Minh
Dưới ách thống trị
của nhà Minh, nhiều
cuộc khởi nghĩa đã
nổ ra, tiêu biểu là các
cuộc khởi nghĩa do
nhà hậu Trần lãnh
đạo như khởi nghĩa
của Trần Ngỗi
(1407-1409), Trần
Quý Khoáng (14091413),…. song đều
bị đàn áp.
Khởi nghĩa Trùng Quang Đế
(tranh minh hoạ)
Trước cảnh đó, Lê Lợi
(1385-1433)- một hào trưởng
có tiếng ở vùng Lam Sơn
(Thanh Hoá) đã dốc hết tài
sản để triệu tập nghĩa sĩ, bí
mật liên lạc với các hào kiệt,
xây dựng lực lượng và chọn
Lam Sơn làm căn cứ cho cuộc
khởi nghĩa.
Lam Sơn là vùng đồi núi
phía Tây Thanh Hoá, nằm
bên tả ngạn song Chu, có
địa thế hiểm trở; đồng
thời nằm trên con đường
huyết mạch nối miền núi
và miền biển, Nghệ An
với Đông Quan (thuộc Hà
Nội ngày nay).
Hội thề Lũng Nhai (tranh minh hoạ)
Khởi nghĩa Giản Định Đế (tranh
minh hoạ)
Chân dung Lê Lợi (tranh sơn
dầu của Hoàng Hoa Mai)
Năm 1416, Lê
Lợi cùng 18 hào
kiệt đã tổ chức
Hội thề ở Lũng
Nhai (Thanh
Hoá), quyết tâm
đánh đuổi giặc
Minh.
II. DIỄN BIẾN CHÍNH
1. Giai đoạn 1418-1423:
Đầu năm 1418, Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương,
truyền hịch kêu gọi nhân dân khởi nghĩa.
Do lực lượng còn yếu, trước sự tấn công của quân
Minh, nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn. Lê Lợi phải ba
lần cho rút quân lên vùng núi Chí Linh (Lang Chánh,
Thanh Hoá).
1423
Cuối năm 1418
Lê Lai đã cải trang làm Lê Lợi để đánh lạc hướng
quân Minh, giúp nghĩa quân thoát hiểm. Lê Lai
sau đó bị bắt và hy sinh.
Thiếu lương thực trầm trọng, Lê Lợi
phải giết cả voi, ngựa để nuôi quân,
lực lượng chỉ còn hơn 100 người.
Sử dụng địa hình hiểm trở của núi rừng Chí
Linh để đánh du kích, kéo dài thời gian và bảo
toàn lực lượng.
2. Giai đoạn 1424-1426:
Khi lực lượng đã được
củng cố, để gỡ thế bị bao
vây, Nguyễn Chích đã hiến
kế tiến vào đánh chiếm
Nghệ An làm căn cứ, từ đó
mở rộng giải phóng Tây Đô
(Thanh Hoá) và Đông Quan.
“Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng,
người đông…Nay trước tiên hãy đánh
lấy Trà Long, bình định cho được Nghệ
An. Rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay
ra Đông Đô (Đông Quan) thì có thể tính xong
việc dẹp thiên hạ….”.
(Viện Sử học, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục, Tập một, NXB Giáo dục,
2008, tr.362)
Nguyễn Chích (1382-1448)
Giữa năm 1419
Giữa năm 1423, Lê Lợi chủ trương tạm hoà với
quân Minh. Nguyễn Trãi thương lượng thành công.
Nghĩa quân trở về căn cứ Lam Sơn, từng bước khôi
phục, củng cố lực lượng.
Cuối năm 1424, nghĩa quân giải phóng Nghệ An,
sau đó giải phóng một vùng rộng lớn từ Thanh Hoá
đến đèo Hải Vân. Những thắng lợi này đã làm thay
đổi căn bản cục diện cuộc chiến và so sánh lực lượng
giữa hai bên theo hướng có lợi cho nghĩa quân.
3. Giai đoạn 1426-1427:
Tháng 9 – 1426, nghĩa quân tiến quân ra Bắc với sự
ủng hộ của nhân dân và thắng nhiều trận lớn. Quân Minh
phải rút về thành Đông Quan cố thủ.
Tháng 10 – 1427, Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ
huy 15 vạn viện binh theo hai đường Quảng Tây,
Vân Nam tiến vào nước ta. Nghĩa quân tổ chức
phục kích tại Chi Lăng (Lạng Sơn), Liễu Thăng bị
chém đầu.
Sau đó, nghĩa quân liên tiếp giành thắng lợi tại
Cần Trạm, Phố Cát và Xương Giang (Bắc Giang).
Lược đồ trận Tốt
Động – Chúc
Động
Tháng 10 – 1426, Vương Thông dẫn viện binh đến
thành Đông Quan và tấn công vào quân chủ lực của
nghĩa quân ở quanh thành.
Ngày 7 – 11 – 1426, quân ta mai phục, chặn đánh
địch ở Tốt Động – Chúc Động (Chương Mỹ, Hà Nội).
Quân Minh thấy bại nặng nề, nghĩa quân giải phóng
nhiều đất đai, siết chặt vây hãm thành Đông Quan.
Lược đồ trận Chi
Lăng – Xương
Giang
Lê Lợi sai người mang ấn tín và thư báo tin Liễu Thăng
tử trận cho Mộc Thạnh (đang đóng ở vùng biên giới Lào
Cai ngày nay). Quân giặc khiếp sợ, vội rút quân về nước.
Nghĩa quân vừa tăng cường xiết chặt vòng vây các
thành còn lại (Đông Quan, Tây Đô,…) vừa khéo léo dụ
hàng Vương Thông và các tướng lĩnh quân Minh.
Ngày 10 – 12 – 1427, bên bờ sông Hồng, Lê Lợi và
Vương Thông dẫn đầu hai phái đoàn tham gia Hội thề
Đông Quan, chấm dứt
chiến tranh. Đầu
tháng 1 – 1428, quân
Minh rút hết về nước,
đất nước hoàn toàn
giải phóng.
Lê Lợi giao Nguyễn
Trãi soạn Bình Ngô đại
Hội thề Đông Quan (tranh minh hoạ)
cáo, chính thức tuyên
bố chấm dứt chiến tranh, mở nền hoà bình và xây dựng
đất nước.
1407
Quân Minh
đặt ách
thống trị
Hội thề
Lũng Nhai
1416
1426
1425
1418
Lê Lợi xưng
Bình Định vương
Giải phóng
Tân Bình,
Thuận Hoá
Giải phóng
Nghệ An
Tiến quân
ra Bắc
1424
1426
Chiến thắng
Tốt Động Chúc Động
Chiến thắng
Chi Lăng –
Xương Giang
1427
Sơ đồ thời gian về những sự kiện tiêu biểu của khởi
nghĩa Lam Sơn
1427
Hội thề
Đông Quan
III. NGUYÊN NHÂN
THẮNG LỢI
& Ý NGHĨA LỊCH SỬ
1. Nguyên nhân thắng lợi:
• Do nhân dân ta luôn nêu
cao tinh thần yêu nước
nồng nàn, ý chí và quyết
tâm dành lại độc lập cho
dân tộc. Toàn dân đã đoàn
kết chiến đấu, đóng góp
của cải, lương thực, vũ
khí, chịu nhiều gian khổ
để giành thắng lợi cuối
cùng.
• Do đường lối lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt của
bộ chỉ huy nghĩa quân,
đứng đầu là những lãnh tụ
kiệt xuất như Lê Lợi và
Nguyễn Trãi, cùng những
vị tướng tài như Nguyễn
Chích, Nguyễn Xí,
Nguyễn Biểu, Lý Triện,
….
2. Ý nghĩa lịch sử:
• Là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc có
tính chất nhân dân rộng rãi, chấm dứt hơn 20
năm đô hộ của nhà Minh, khôi phục nền độc
lập, tự chủ của quốc gia Đaị Việt.
• Đưa đến sự thành lập của vương triều mới, mở
ra thời kì phát triển mới của đất nước.
THE END
 







Các ý kiến mới nhất