Tìm kiếm Bài giảng
KNTT - Bài 4. Đông Nam Á từ nửa sau thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thþ Hải (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:31' 01-09-2025
Dung lượng: 10.1 MB
Số lượt tải: 835
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thþ Hải (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:31' 01-09-2025
Dung lượng: 10.1 MB
Số lượt tải: 835
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Thþ Hải)
Tiết 7,8
CHƯƠNG 2. ĐÔNG NAM Á TỪ NỬA SAU
THẾ KỶ XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
BÀI 4. ĐÔNG NAM Á TỪ NỬA SAU THẾ KỶ
XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
1. Khái quát quá trình xâm nhập Đông Nam Á của thực
dân phương Tây
* Nguyên nhân Đông Nam Á bị xâm lược:
- Đông Nam Á có vị trí địa lý quan trọng.
- Giàu tài nguyên khoáng sản.
- Dân cư đông đúc.
- Chế độ phong kiến đang khủng hoảng, suy yếu.
* Quá trình thực dân phương Tây xâm nhập Đông Nam Á
- In-đô-nê-xi-a: Thực dân Bồ Đào Nha xâm nhập ngay từ thế kỉ XVI.
Đến giữa thế kỉ XIX, Hà Lan đã hoàn thành xâm lược
- Mã Lai (Ma-lai-xi-a) và Miến Điện (Min-an-ma): Từ sau thế kỉ XVI,
Anh, Pháp, Hà Lan tranh chấp.
- Phi-lip-pin: Giữa thế kỉ XVI, Tây Ban Nha xâm chiếm hầu hết quần
đảo này và đặt ách thống trị suốt 350 năm.
- Ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam pu chia): Từ thế kỉ
XVI, các nước thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp tranh
giành phạm vi ảnh hưởng.
- Xiêm (Thái Lan): Thế kỷ XVI, thương nhân châu Âu đã xâm nhập
vào nước này. Giữa thế kỷ XIX, Anh bắt đầu xâm nhập Xiêm.
2. Tình hình Đông Nam Á dưới ách đô hộ của thực
dân phương Tây
Chính sách cai trị của thực dân phương Tây
Tình hình về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
ở Đông Nam Á dưới ách đô hộ của thực dân
phương Tây
“Chia để trị”: thông qua việc
dùng nhiều biện pháp chia rẽ
khác nhau, các nước thực dân
muốn: cắt đứt những mối liên
hệ cơ bản của nước thuộc địa
trên nhiều phương diện; từ đó
giảm dần và đi đến xóa bỏ ý
chí đấu tranh giành độc lập,
thống nhất đất nước của nhân
dân thuộc địa.
Việc tiến hành chính sách
“chia để trị” đã để lại nhiều
hậu quả cho nhân dân Đông
Nam Á, ví dụ như: tạo ra sự
chia rẽ, rạn nứt khối đoàn kết,
mâu thuẫn giữa các vùng trong
cả nước và giữa các nước với
nhau; bộ máy cai trị của chính
quyền thực dân được củng cố.
Các chính sách cai trị
Chính
trị
Kinh
tế
Văn
hóa
Xã hội
+ Chính quyền, tầng lớp trên ở các nước đã đầu hàng, phụ
thuộc hoặc làm tay sai cho thực dân.
+ Bộ máy ở trung ương, cấp tỉnh đều do các quan chức thực dân.
+ Đẩy mạnh vơ vét, bóc lột người dân bản xứ, cướp đoạt ruộng
đất đề lập đồn điền...
+ Mở rộng đường giao thông để phục vụ cho công cuộc khai thác
+ Du nhập của văn hoá phương Tây làm xói mòn những giá trị
văn hoá truyền thống.
+ Thực hiện chính sách nô dịch.
+ Có sự phân hoá sâu sắc:
- Giai cấp nông dân.
- Một bộ phận quý tộc, lãnh chúa phong kiến.
- GC tư sản dân tộc, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản.
3. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước Đông Nam Á chống
thực dân phương Tây từ nửa sau thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX.
Tại sao Đông Nam Á trở
thành đối tượng xâm lược
của tư bản phương Tây?
Lược đồ các quốc gia phong kiến Đông
Nam Á thế kỉ XIII-XV
Khu vực Đông Nam Á trở thành đối tượng xâm lược
của các nước tư bản phương Tây vì:
- Sau cách mạng công nghiệp, nền kinh tế tư bản phát triển
mạnh, các nước tư bản cần thị trường và thuộc địa, vì vậy
đẩy mạnh xâm lược, tranh giành thuộc địa.
- Đông Nam Á là một khu vực rộng lớn, đông dân, giàu tài
nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng, chế độ phong kiến
đang suy yếu, trở thành đối tượng xâm lược của thực dân
Âu – Mĩ
Tên nước
Thực dân
xâm lược
In-đô-nê-xi-a Hà Lan
Phi-líp-pin
Miến Điện
Tây Ban
Nha
Phong trào tiêu biểu
- Khởi nghĩa Tơ-ru-nô Giê-giô
(1675).
- Khởi nghĩa Su-ra-pa-tít (16831719).
- Khởi nghĩa Đi-pô-nê-gô-nô (1825 -1830).
Sự chống trả của thổ dân đảo Máctan (1521)
- Khởi nghĩa của Nô va-lét (1823)
- Sự kháng cự của quân Miến Điện
Anh
(1824 - 1826) do tướng Ban-đu-la chỉ huy
Kết quả
Thất bại
Thất bại
Thất bại
Lapu-Lapu là vua của Cebu
tại Visayas. Philippines xem
ông là người anh hùng đầu
tiên Philippines vì ông là
người dân tộc bản địa đầu
tiên chống lại thực dân Tây
Ban Nha thông qua chiến
thắng của ông đối với nhà
thám
hiểm Ferdinand
Magellan.
Hình 4.4. Tượng La-pu-la-pu (Phi-líp-pin)
Tại sao các phong trào này đều thất bại ?
- Lực lượng của các nước thực dân phương Tây còn mạnh.
- Chính quyền phong kiến ở các nước đầu hàng, làm tay sai.
- Các cuộc đấu tranh của nhân dân còn diễn ra lẻ tẻ, chưa có tổ
chức và lãnh đạo chặt chẽ.
LUYỆN TẬP
Em có nhận xét gì về chính sách đô hộ của thực
dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á?
+ Trong quá trình cai trị các nước Đông Nam Á, thực
dân phương Tây đã tiến hành những chính sách cai trị
thâm độc và toàn diện ở tất cả các lĩnh vực, từ: chính
trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội,…
+ Sự thống trị của thực dân phương Tây đã dẫn đến
những chuyển biến lớn ở các nước trong khu vực
Đông Nam Á; đồng thời khiến mâu thuẫn dân tộc
giữa nhân dân thuộc địa với chính quyền thực dân
ngày càng sâu sắc. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến
sự bùng nổ của hàng loạt các cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc ở các nước Đông Nam Á.
- Không đồng ý. Lý do và chứng cứ:
- Động cơ lợi nhuận, không phải “khai hóa”: Ở Đông Dương, nhà nước thuộc địa
thu lớn từ độc quyền thuốc phiện-muối-rượu (khoảng 44% ngân sách năm 1920),
cho thấy trọng tâm là bóc lột tài chính, không phải phúc lợi dân chúng.
- Cưỡng bức và tước đoạt: Tại Indonesia, buộc nông dân trồng cây xuất khẩu để
nộp thuế hay lao dịch-một cơ chế cưỡng bức gây đói nghèo kéo dài ở nông thôn
Java.
- Độc canh để phục vụ chính quốc: Ở Myanmar dưới Anh, chính quyền đẩy mạnh
độc canh lúa gạo để xuất khẩu, đi kèm bất ổn vì thuế ruộng đất nặng và biến động thị
trường-người bản xứ gánh rủi ro, lợi nhuận lớn chảy ra ngoài.
- “Giáo dục - y tế”: Ở Philippines thời Mỹ, hệ thống trường công đại trà được thiết
lập nhưng thiết kế để phục vụ kinh tế - hành chính thuộc địa và trật tự xã hội do thực
dân định ra, chứ không giải phóng người bản xứ khỏi lệ thuộc.
- Kết quả: Mặc dù có một số thiết chế hiện đại, phần lớn giá trị thặng dư và quyền
lực tập trung vào tay thực dân và thiểu số trung gian, còn đa số người dân rơi vào
cảnh phụ thuộc, nghèo hóa hoặc bấp bênh.
CHƯƠNG 2. ĐÔNG NAM Á TỪ NỬA SAU
THẾ KỶ XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
BÀI 4. ĐÔNG NAM Á TỪ NỬA SAU THẾ KỶ
XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
1. Khái quát quá trình xâm nhập Đông Nam Á của thực
dân phương Tây
* Nguyên nhân Đông Nam Á bị xâm lược:
- Đông Nam Á có vị trí địa lý quan trọng.
- Giàu tài nguyên khoáng sản.
- Dân cư đông đúc.
- Chế độ phong kiến đang khủng hoảng, suy yếu.
* Quá trình thực dân phương Tây xâm nhập Đông Nam Á
- In-đô-nê-xi-a: Thực dân Bồ Đào Nha xâm nhập ngay từ thế kỉ XVI.
Đến giữa thế kỉ XIX, Hà Lan đã hoàn thành xâm lược
- Mã Lai (Ma-lai-xi-a) và Miến Điện (Min-an-ma): Từ sau thế kỉ XVI,
Anh, Pháp, Hà Lan tranh chấp.
- Phi-lip-pin: Giữa thế kỉ XVI, Tây Ban Nha xâm chiếm hầu hết quần
đảo này và đặt ách thống trị suốt 350 năm.
- Ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam pu chia): Từ thế kỉ
XVI, các nước thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp tranh
giành phạm vi ảnh hưởng.
- Xiêm (Thái Lan): Thế kỷ XVI, thương nhân châu Âu đã xâm nhập
vào nước này. Giữa thế kỷ XIX, Anh bắt đầu xâm nhập Xiêm.
2. Tình hình Đông Nam Á dưới ách đô hộ của thực
dân phương Tây
Chính sách cai trị của thực dân phương Tây
Tình hình về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
ở Đông Nam Á dưới ách đô hộ của thực dân
phương Tây
“Chia để trị”: thông qua việc
dùng nhiều biện pháp chia rẽ
khác nhau, các nước thực dân
muốn: cắt đứt những mối liên
hệ cơ bản của nước thuộc địa
trên nhiều phương diện; từ đó
giảm dần và đi đến xóa bỏ ý
chí đấu tranh giành độc lập,
thống nhất đất nước của nhân
dân thuộc địa.
Việc tiến hành chính sách
“chia để trị” đã để lại nhiều
hậu quả cho nhân dân Đông
Nam Á, ví dụ như: tạo ra sự
chia rẽ, rạn nứt khối đoàn kết,
mâu thuẫn giữa các vùng trong
cả nước và giữa các nước với
nhau; bộ máy cai trị của chính
quyền thực dân được củng cố.
Các chính sách cai trị
Chính
trị
Kinh
tế
Văn
hóa
Xã hội
+ Chính quyền, tầng lớp trên ở các nước đã đầu hàng, phụ
thuộc hoặc làm tay sai cho thực dân.
+ Bộ máy ở trung ương, cấp tỉnh đều do các quan chức thực dân.
+ Đẩy mạnh vơ vét, bóc lột người dân bản xứ, cướp đoạt ruộng
đất đề lập đồn điền...
+ Mở rộng đường giao thông để phục vụ cho công cuộc khai thác
+ Du nhập của văn hoá phương Tây làm xói mòn những giá trị
văn hoá truyền thống.
+ Thực hiện chính sách nô dịch.
+ Có sự phân hoá sâu sắc:
- Giai cấp nông dân.
- Một bộ phận quý tộc, lãnh chúa phong kiến.
- GC tư sản dân tộc, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản.
3. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước Đông Nam Á chống
thực dân phương Tây từ nửa sau thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX.
Tại sao Đông Nam Á trở
thành đối tượng xâm lược
của tư bản phương Tây?
Lược đồ các quốc gia phong kiến Đông
Nam Á thế kỉ XIII-XV
Khu vực Đông Nam Á trở thành đối tượng xâm lược
của các nước tư bản phương Tây vì:
- Sau cách mạng công nghiệp, nền kinh tế tư bản phát triển
mạnh, các nước tư bản cần thị trường và thuộc địa, vì vậy
đẩy mạnh xâm lược, tranh giành thuộc địa.
- Đông Nam Á là một khu vực rộng lớn, đông dân, giàu tài
nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng, chế độ phong kiến
đang suy yếu, trở thành đối tượng xâm lược của thực dân
Âu – Mĩ
Tên nước
Thực dân
xâm lược
In-đô-nê-xi-a Hà Lan
Phi-líp-pin
Miến Điện
Tây Ban
Nha
Phong trào tiêu biểu
- Khởi nghĩa Tơ-ru-nô Giê-giô
(1675).
- Khởi nghĩa Su-ra-pa-tít (16831719).
- Khởi nghĩa Đi-pô-nê-gô-nô (1825 -1830).
Sự chống trả của thổ dân đảo Máctan (1521)
- Khởi nghĩa của Nô va-lét (1823)
- Sự kháng cự của quân Miến Điện
Anh
(1824 - 1826) do tướng Ban-đu-la chỉ huy
Kết quả
Thất bại
Thất bại
Thất bại
Lapu-Lapu là vua của Cebu
tại Visayas. Philippines xem
ông là người anh hùng đầu
tiên Philippines vì ông là
người dân tộc bản địa đầu
tiên chống lại thực dân Tây
Ban Nha thông qua chiến
thắng của ông đối với nhà
thám
hiểm Ferdinand
Magellan.
Hình 4.4. Tượng La-pu-la-pu (Phi-líp-pin)
Tại sao các phong trào này đều thất bại ?
- Lực lượng của các nước thực dân phương Tây còn mạnh.
- Chính quyền phong kiến ở các nước đầu hàng, làm tay sai.
- Các cuộc đấu tranh của nhân dân còn diễn ra lẻ tẻ, chưa có tổ
chức và lãnh đạo chặt chẽ.
LUYỆN TẬP
Em có nhận xét gì về chính sách đô hộ của thực
dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á?
+ Trong quá trình cai trị các nước Đông Nam Á, thực
dân phương Tây đã tiến hành những chính sách cai trị
thâm độc và toàn diện ở tất cả các lĩnh vực, từ: chính
trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội,…
+ Sự thống trị của thực dân phương Tây đã dẫn đến
những chuyển biến lớn ở các nước trong khu vực
Đông Nam Á; đồng thời khiến mâu thuẫn dân tộc
giữa nhân dân thuộc địa với chính quyền thực dân
ngày càng sâu sắc. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến
sự bùng nổ của hàng loạt các cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc ở các nước Đông Nam Á.
- Không đồng ý. Lý do và chứng cứ:
- Động cơ lợi nhuận, không phải “khai hóa”: Ở Đông Dương, nhà nước thuộc địa
thu lớn từ độc quyền thuốc phiện-muối-rượu (khoảng 44% ngân sách năm 1920),
cho thấy trọng tâm là bóc lột tài chính, không phải phúc lợi dân chúng.
- Cưỡng bức và tước đoạt: Tại Indonesia, buộc nông dân trồng cây xuất khẩu để
nộp thuế hay lao dịch-một cơ chế cưỡng bức gây đói nghèo kéo dài ở nông thôn
Java.
- Độc canh để phục vụ chính quốc: Ở Myanmar dưới Anh, chính quyền đẩy mạnh
độc canh lúa gạo để xuất khẩu, đi kèm bất ổn vì thuế ruộng đất nặng và biến động thị
trường-người bản xứ gánh rủi ro, lợi nhuận lớn chảy ra ngoài.
- “Giáo dục - y tế”: Ở Philippines thời Mỹ, hệ thống trường công đại trà được thiết
lập nhưng thiết kế để phục vụ kinh tế - hành chính thuộc địa và trật tự xã hội do thực
dân định ra, chứ không giải phóng người bản xứ khỏi lệ thuộc.
- Kết quả: Mặc dù có một số thiết chế hiện đại, phần lớn giá trị thặng dư và quyền
lực tập trung vào tay thực dân và thiểu số trung gian, còn đa số người dân rơi vào
cảnh phụ thuộc, nghèo hóa hoặc bấp bênh.
 








Các ý kiến mới nhất