Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Trồng một số loài cây công nghiệp

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Thúy
Ngày gửi: 15h:34' 13-01-2026
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI

GIÁO TRÌNH TRUNG CẤP
MÔ ĐUN: TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY CÂY CÔNG NGHIỆP
NGÀNH/NGHỀ: TRỒNG TRỌT
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số:
/QĐ-CĐLC
ngày…….tháng….năm ........ của Hiệu trưởng Trường Cao
đẳng Lào Cai)

Lào Cai, năm 2019

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu
lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.

LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình “Trồng một số loài cây công nghiệp” là giáo trình dùng cho chương
trình đào tạo hệ trung cấp. Nội dung cuốn giáo trình cung cấp cho học sinh một số kiến
thức cơ bản về đặc điểm thực vật học, kỹ thuật trồng và chăm sóc, thu hoạch và bảo quản
của một số cây công nghiệp phổ biến.
Giáo trình “Trồng một số loài cây công nghiệp” giúp cho người học có khả năng tự
tổ chức sản xuất trồng trọt phát triển kinh tế hộ gia đình và góp phần tăng thu nhập phát
triển kinh tế.
Bố cục của giáo trình gồm có:
Bài 1: Trồng cây chè: Về kiến thức trình bày được giá trị kinh tế và đặc điểm thực
vật học của cây chè; Chọn được giống chè phù hợp với địa phương và thực hiện được các
bước từ khâu trồng đến chăm sóc cây chè đúng kỹ thuật.
Bài 2: Trồng cây lạc: Về kiến thức trình bày được giá trị kinh tế, điều kiện ngoại
cảnh, các giống Lạc mới, các giai đoạn sinh trưởng phát triển, kỹ thuật gieo trồng , chăm
sóc, thu hoạch và bảo quản sản phẩm.
Bài 3: Trồng cây đậu tương: Về kiến thức trình bày được giá trị kinh tế, điều kiện
ngoại cảnh, các giống đậu tương mới, các giai đoạn sinh trưởng phát triển, kỹ thuật trồng,
chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sản phẩm.
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, tài liệu tham
khảo của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có liên quan. Tuy có nhiều cố
gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong muốn nhận được những ý kiến
tham gia, đóng góp để hoàn thiện giáo trình.
Xin chân thành cảm ơn!
Lào Cai, ngày
tháng 10 năm 2019
Tham gia biên soạn
Chinh

1. Chủ biên: Dương Thị Thảo

GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
Tên mô đun: Trồng một số loài cây công nghiệp
Mã mô đun: MĐ21
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun
-Vị trí: Mô đun này có liên quan chặt chẽ với các môn học và các mô đun khác:
An toàn lao động, Nhân giống cây trồng, Quản lý kinh tế hộ trang trại. Được bố trí học
sau các môn học/mô đun trên.
- Tính chất: là mô đun chuyên môn bắt buộc của nghề Trồng trọt trình độ trung cấp.
-Ý nghĩa và vai trò mô đun: Cung cấp kiến thức và kỹ năng về kỹ thuật trồng và
chăm sóc một số loài cây công nghiệp để người học có thể tự sản xuất ở quy mô hộ gia
đình, HTX.
Mục tiêu của mô đun
- Về kiến thức:
+ Trình bày
được đặc điểm
thực vật học
của cây chè,
cây lạc, đậu
tương.
+ Phân tích được các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất tác động trực tiếp
đến từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của chè, lạc, đậu tương.
-Về kỹ năng: Chọn giống, xác định thời vụ, làm đất, xử lí giống, gieo trồng, chăm
sóc chè và lạc, đậu tương đúng yêu cầu kỹ thuật.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức
tạp trong điều kiện làm việc thay đổi.
+ Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện nhiệm vụ xác định; chịu trách
nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm.
+ Đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các
thành viên trong nhóm.

BÀI 1: TRỒNG CÂY CHÈ
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT
1. GIÁ TRỊ KINH TẾ, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHÈ HIỆN
NAY.
1. Giá trị kinh tế
Chè là một loại thức uống có nhiều giá trị về dinh dưỡng và dược liệu nhờ có các
hợp chất trong lá chè như sau:
-Cafein và một số hợp chất ancanoit ở trong lá chè có khả năng kích thích hệ thần
kinh trung ương, vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường hoạt động của các
cơ bắp trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt mỏi sau khi làm việc căng
thẳng. Mặt khác các loại cafein có trong lá chè không gây kích thích quá mạnh làm suy
nhược thần kinh như cafein ở trong cafe và các loại thức uống khác.
-Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát và chữa nhiều loại bệnh như tả, lỵ,
thương hàn, sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày. Đặc biệt nước chè có khả năng
chống phóng xạ, do vậy có thể coi chè là nước uống của thời đại nguyên tử khi trên trái
đất sự nhiễm xạ ngày càng tăng lên.
-Trong chè có chứa rất nhiều loại vitamin như: Vitamin A, B1, B2, B6, K, PP...
Đặc biệt có nhiều vitamin C trong lá chè tươi, đây là nguồn dinh dưỡng vô cùng quý báu
với cơ thể con người.
-Ngoài giá trị dinh dưỡng và dược liệu, nước chè còn dùng làm chất nhuộm màu
thực phẩm, vừa thay thế cho các chất nhuộm nhân tạo, vừa có giá trị dinh dưỡng đối với
cơ thể con người. Các sản phẩm phụ trên cây chè như dầu hạt chè có thể sử dụng trong
công nghiệp hay làm dầu ăn, lá chè có thể làm thức ăn cho chăn nuôi. Ngoài ra chè còn
có ý nghĩa lớn về việc phân bố sản xuất và lao động. Với nước ta việc phát triển trồng chè
ở vùng trung du và miền núi vừa làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp vừa tận dụng
đựơc đất đai vừa là biện pháp có hiệu quả để phân bổ lại lực lượng lao động giữa các
vùng cho nền kinh tế nước ta phát triển toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
cho nhân dân.
2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè hiện nay
1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới trong những năm gần đây:
Trong năm 2010, lượng chè sản xuất trên toàn thế giới đã vượt qua con số 4 triệu
tấn để đạt mức 4.126.527 tấn. Trong đó Việt Nam là một trong những nước có sản lượng
chè sản xuất đứng thứ 5. Qua thống kê sản phẩm chè của các nước trên thế giới thì thị
phần Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế giới, tiếp theo là Châu phi chiếm 15% và
Nam Mỹ chiếm 2,4%.
Về thị trường tiêu thụ trong giai đoạn gần đây, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính
khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm. Các nước nhập khẩu chính
như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu
chè toàn thế giới.

Những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản phẩm chè xanh và chè đen là: Thị
trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn, Pakistan nhập khẩu 126.170 tấn, Hy Lạp
nhập khẩu 81.700 tấn, Iran nhập khẩu 62.000 tấn, và Morocco nhập khẩu 58.000 tấn.).
Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với tổng số lượng
chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000 tấn, và EU với tổng số
lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn.
1.2.2. Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam trong những năm
gần đây
Việt Nam có diện tích trồng chè dao động khoảng 126.000 – 133.000 héc ta và thu
hút khoảng 2 triệu lao động. Trong năm 2011 cả nước có diện tích trồng chè là 133.000
ha; sản lượng (thô) đạt 888.600 tấn; sản lượng (đã chế biến) đạt 165.000 tấn; xuất khẩu là
132.600 tấn.
Việt Nam là nước xuất khẩu và sản xuất chè lớn thứ 5 thế giới, với kế hoạch sản
xuất đạt 1,2 triệu tấn chè thô và xuất khẩu 200.000 tấn chè chế biến vào năm 2015.
Cả nước có khoảng 300 cơ sở chế biến chè có công suất 900 nghìn tấn búp
tươi/năm, trong đó có khoảng 31 nhà máy có quy mô sản xuất lớn 30 tấn búp tươi/ngày
chiếm 47% công suất chế biến; 103 nhà máy có quy mô vừa công suất chế biến 10 đến 28
tấn búp tươi/ ngày chiếm 43%; còn lại là cơ sở chế biến nhỏ công suất từ 3 đến 5 hoặc 6
tấn búp tươi/ngày và các hộ chế biến nhỏ lẻ chiếm khoảng 10% tổng công suất chế biến.
Kết thúc năm 2012, xuất khẩu chè của cả nước đạt 146.708 tấn, trị giá
224.589.666 USD, tăng 9,6% về lượng và tăng 10,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
với thị trường xuất khẩu mở rộng tới gần 100 quốc gia.
Trong đó Pakistan là thị trường Việt Nam xuất khẩu nhiều chè nhất, với
lượng
24.045 tấn, trị giá 45.304.840 USD, tăng 38% về lượng và tăng 39% về trị giá năm
2012, chiếm 20,1% tổng trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam. Tiếp đến là Đài Loan,
lượng chè xuất khẩu sang thị trường này đạt 22.453 tấn, trị giá 29.589.578 USD, tăng
10,4% về lượng và tăng 13% về trị giá; đứng thứ ba là Nga rồi Trung Quốc, Inđônêxia,
Mỹ…
3.
Các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây chè được trồng tập trung chủ yếu ở một số vùng chính sau đây:
-Vùng chè Tây Bắc: Vùng Tây Bắc chè được trồng nhiều ở các tỉnh Sơn La (
1900 ha) và Lai Châu ( 590 ha). Giống chè chủ yếu là giống chè Shan ( Chiếm trên 80%
diện tích) còn lại là chè Trung du ( khoảng 10 % diện tích) và các giống chè khác.
-Vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn: Vùng này gồm tỉnh Hà Giang, Tuyên
Quang, Tây Yên Bái, Hòa Bình và Lào Cai.
Chè được trồng tập trung dưới các hình thức công ty quốc doanh, hộ gia đình.
Giống chè Trung Du (chiếm 91,6% diện tích chè Tuyên Quang, 65% diện tích ở công ty
chè Trần Phú) và giống chè ….
-Vùng chè Trung Du – Bắc Bộ: Gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Cạn,
Phú Thọ, Nam Yên Bái, Hà Tây và Bắc Hà Nội.
Trong đó tỉnh Thái Nguyên có diện tích trồng chè gần 18.000 ha, đứng thứ 2 trong
cả nước, năng suất chè búp tươi bình quân đạt gần 100 tạ/ha, sản lượng gần 200.000 tấn
-Vùng chè miền Trung: Gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Nam với tổng diện tích trên 5 nghìn ha.
-Vùng chè Tây Nguyên: Chè được trồng chủ yếu ở Lâm Đồng, Gia Lai và Đắc
Lắc. Riêng Lâm Đồng là tỉnh có diện tích trồng chè khá lớn của nước ta, với khoảng 23,9
ngàn ha, chiếm gần 19% diện tích chè cả nước; sản lượng chè búp tươi đạt gần 172 ngàn

tấn, sản lượng xuất khẩu gần 10.000 tấn. Thu nhập từ một ha chè của Lâm Đồng cao nhất
nước, trên 280 triệu đồng/ha, đứng đầu về giá xuất khẩu.
2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY CHÈ
1. Rễ chè
Hệ rễ chè gồm rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu. Rễ trụ có thể dài tới 2m nhưng
thường chỉ dài 1m. Rễ trụ dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất đất, chế độ làm đất, bón
phân, tuổi chè và giống. Đất tốt, thoát nước thì bộ rễ ăn sâu rộng hơn. Giống chè thuộc
dạng thân gỗ có rễ trụ ăn sâu hơn dạng thân bụi.
Rễ bên và rễ hấp thu phân bố ở tầng canh tác, ở lớp đất từ 5-50cm phân bố theo
chiều ngang thường gấp từ 1,2 - 2 lần tán chè. Trong điều kiện sản xuất rễ hấp thu tập
trung chủ yếu ở khoảng cách giữa hai hàng chè.

Hình 2.1. Rễ chè
2.2. Thân chè
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là cây đơn trục, thân thẳng, phân
nhánh liên tục tạo hệ thống cành chồi trên cây và hình thành nên tán cây. Tùy theo chiều
cao phân cành, kích thước thân chính và các cành chè mà người ta chia làm 3 loại: thân
bụi, thân gỗ nhỏ và thân gỗ.
-Thân bụi: cây chè không có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành thấp, sát với cổ rễ.
Cành nhỏ, tán chè có dạng bụi, điển hình là các thứ chè Trung Quốc lá nhỏ, chè Nhật
Bản, chè Gruzia.
-Thân gỗ nhỏ (thân bán gỗ): là loại hình trung gian có thân chính tương đối rõ, vị
trí phân cành thường cách mặt đất từ 20-30cm. Điển hình là chè Trung Quốc lá to, ở Việt
Nam là chè Trung du.
-Thân gỗ: là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao. Điển
hình là các thứ chè Ấn Độ, chè Shan.
Cây chè trong tự nhiên không đốn có dạng tán lá đều, căn cứ vào góc độ giữa thân

chính và các cành cấp 1 mà người ta chia làm các dạng tán chè sau.
+ Dạng hình suốt chỉ, cây cao nhưng hẹp tán
+ Dạng hình cầu, nửa cầu: là loại hình trung gian thấp hơn dạng suốt chỉ, tán to
hơn.
+ Dạng hình mâm xôi: to ngang, mặt tán to, rộng.
Tiêu chuẩn chọn giống chè là chọn cây có tán cây càng to càng tốt.

Hình 2.2. Các dạng tán chè
3. Cành chè
Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành. Trên cành chia ra nhiều đốt, chiều
dài đốt cành biến đổi từ 1-10cm tùy theo giống, điều kiện sinh trưởng. Đốt cành chè dài
là một trong những biểu hiện của giống chè có khả năng cho năng suất cao. Tùy theo tuổi
của cành chè mà mầu sắc cành chè biến đổi từ mầu xanh thẫm, xanh nhạt, màu đỏ, màu
nâu khi cành già có màu xám.
Tùy theo vị trí tương đối của cành chè với thân chính mà người ta chia các cấp
cành: cành cấp I, cấp II, cấp III. Cũng như đối với các cây lâu năm khác, cành cấp I được
mọc ra từ thân chính, cành cấp II được mọc ra từ cành cấp I, tương tự cành cấp III mọc ra
từ cành cấp II...
Hoạt động sinh trưởng của các cấp cành trên tán rất khác nhau. Theo lý luận phát
triển giai đoạn thì những mầm chè nằm càng sát phía gốc của cây càng có tuổi phát dục
giai đoạn non, sức sinh trưởng mạnh. Những cành chè càng ở phía trên ngọn thì càng có
tuổi phát dục giai đoạn già, sức sinh trưởng yếu, khả năng ra hoa kết quả mạnh hơn.
Những cành chè ở giữa tán thì có sức sinh trưởng mạnh hơn những cành ở rìa tán.
Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè. Với lượng cành chè thích hợp
và cân đối trên tán chè, cây chè sẽ cho sản lượng cao, vượt qua giới hạn đó sản lượng chè
không tăng mà phẩm chất búp giảm do có nhiều búp mù xòe.
Trong sản xuất cần nắm vững đặc điểm sinh trưởng của cành chè để áp dụng các
biện pháp kỹ thuật đốn, hái chè hợp lý, tạo cho cây chè có bọ khung tán to, khỏe, nhiều
búp, có khả năng cho năng suất búp cao.
4. Các loại mầm chè
1.
Mầm dinh dưỡng
Mầm dinh dưỡng là mầm từ đó phát triển thành cành và lá chè. Căn cứ vào vị trí
của mầm dinh dưỡng trên cành chè người ta chia mầm dinh dưỡng thành mầm đỉnh, mầm

nách, mầm ngủ và mầm bất định.
* Mầm đỉnh
Mầm đỉnh là mầm dinh dưỡng nằm ở vị trí tận cùng của cành chè. Mầm đỉnh
thường sinh trưởng mạnh (gọi là ưu thế sinh trưởng đỉnh) thường lấn át sinh trưởng của
các mầm khác phía dưới. Mầm đỉnh không phát sinh liên tục quanh năm, do đặc tính di
truyền hay khi gặp điều kiện không thuận lợi như rét, hạn, dinh dưỡng kém thì mầm đỉnh
cũng ngừng sinh trưởng chuyển sang trạng thái ngủ nghỉ gọi là búp mù xòe.
* Mầm nách
Là mầm dinh dưỡng nằm ở các nách lá. Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên đa số
các mầm nách ở trạng thái ngủ nghỉ do sự kìm hãm của mầm đỉnh. Mầm nách chỉ thực sự
được phát triển khi mầm nách được hái đi. Tùy theo các vị trí của mầm nách trên cành
chè mà chúng có ưu thế sinh trưởng khác nhau. Những mầm nách ở phía trên chiếm ưu
thế sinh trưởng mạnh hơn những mầm nách ở phía dưới.
* Mầm ngủ
Mầm ngủ là những mầm dinh dưỡng nằm ở các bộ phận đã hóa gỗ của các cành
một năm hoặc già hơn. Mầm ngủ thường ở trạng thái ngủ nghỉ, chúng chỉ thực hoạt động
trở lại khi có tác nhân hóa học (chất kích thích sinh trưởng) hay tác nhân cơ giới (đốn, uốn
cành... ). Những mầm ngủ ở phía dưới có tuổi phát dục giai đoạn non, khi được phát động
trở lại thường sức sinh trưởng mạnh. Đây là cơ sở tiến hành biện pháp đốn lửng đốn đau.
* Mầm bất định
Là mầm dinh dưỡng nằm ở phía gốc, cổ rễ của chè. Nó chỉ được phát triển thành
các cành mới khi cây chè được đốn trẻ lại. Trong trường hợp đốn trẻ lại cành chè như
mọc từ dưới đất lên, có sức sinh trưởng mạnh (do tuổi phát dục giai đoạn non).
2.4.2. Mầm sinh thực
Mầm sinh thực là mầm từ đó phát triển thành hoa, quả chè. Mầm sinh thực nằm ở
nách lá chè. Bình thường mỗi nách lá có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp
nhiều hơn, tạo thành chùm nụ hoa ở nách lá.
Mầm sinh thực và mầm dinh dưỡng cùng nằm ở nách lá chè. Mầm sinh thực ở hai
bên, mầm dinh dưỡng ở giữa vì thế quá trình sinh trưởng của hai loại lá mầm này thường
mâu thuẫn nhau. Khi mầm dinh dưỡng phát triển mạnh thì mầm sinh thực phát triển yếu
đi và ngược lại. Đối với chè thu hoạch búp người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ
thuật nhằm hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực. Trong khi tiến hành giâm cành
chè, người ta tiến hành loại bỏ hai nụ chè ở nách lá chè của hom chè giâm tạo điều kiện
cho mầm dinh dưỡng phát triển thành cầy chè mới.
2.5. Búp chè
Búp chè là một đoạn non của cành chè được hình thành từ các mầm dinh dưỡng.
Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh và nội
tại. Kích thước búp chè thay đổi theo giống, chế độ bón phân, các biện pháp canh tác và
điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu).
Búp chè là nguyên liệu chế biến ra các loại chè do vậy búp chè có quan hệ chặt
chẽ đến năng suất và chất lượng chè.
Búp chè được chia làm hai loại: búp mù xòe và búp bình thường.
- Búp bình thường là búp gồm 1 tôm hai hay 3 lá thật non. Búp bình thường có
khối lượng biến động từ 0,8-1,2g đối với chè Shan và từ 0,5-0,6g đối với chè Trung du.
Búp chè càng non phẩm chất chè càng tốt.

- Búp mù xòe là búp phát triển không bình thường, không có tôm mà chỉ có 2-3 lá
non. Khối lượng búp mù xòe chỉ bàng 1/2 búp bình thường, tỷ lệ búp mù xòe càng cao
chất lượng chè càng kém. Có nhiều nguyên nhân làm cho búp mù xòe: do đặc tính sinh
vật học cây chè, do thời tiết không thích hợp (nắng, hạn, rét), do đất đai (đất xấu), do
canh tác không hợp lý...

2.6. Lá chè
Lá chè mọc cách trên cành chè, mỗi đốt có một lá, lá chè thường thay đổi về hình
dạng, màu sắc, kích thước tùy theo giống, điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác.
Lá chè là loại lá đơn, nguyên, có hệ gân lá rất rõ. Những gân chính của lá chè
không mọc ra tận mép lá, mà nối với nhau thành mạng. Rìa lá có răng cưa, hình dạng
răng cưa, đầu lá, mầu sắc lá số đối gân chính, hình dạng lá là các chỉ tiêu phân loại giống.
Những giống chè có mặt lá gồ ghề, mỏng, màu xanh sáng thường có khả năng cho năng
suất cao.
Trên cành chè có các loại lá sau:
*Lá vảy ốc: Lá vẩy ốc là những lá hình vẩy rất nhỏ, có mầu nâu cứng. Lá vẩy ốc
là bộ phận bảo vệ điểm sinh trưởng của mầm chè khi nó ở trạng thái ngủ nghỉ. Số lượng
lá vẩy ốc thường 3-4 lá trên một điểm sinh trưởng ở vụ đông và 1-2 lá ở vụ hè.
*Lá cá: Lá cá là lá thứ nhất nhưng phát triển không hoàn toàn, thường dị hình
hay có dạng hơi tròn, không có hoặc có rất ít răng cưa ở mép lá.
Về cấu tạo giải phẫu, lá cá có lớp mô dậu và mô khuyết ít hơn lá thật, số diệp lục ít
hơn, hàm lượng tanin ít hơn từ 1-2%.
*Lá thật: Lá thật là lá phát triển bình thường gồm cả đầu lá, gân lá và răng cưa
thường là lá thứ 2, thứ 3 trở đi.

Hình 2.5. Cấu tạo giải phẫu lá chè
Cấu tạo giải phẫu lá thật gồm có:
-Lớp biểu bì: gồm những tế bào nhỏ, dày, cứng xếp thành một lớp có tác dụng
bảo vệ lá.
- Lớp mô dậu: gồm từ 1-3 lớp tế bào sắp xếp đều nhau chứa nhiều diệp lục.
-Lớp tế bào mô khuyết: gồm các tế bào sắp xếp không đều nhau, ở trong đó có
nhiều tế bào đá các tinh thể oxalat canxi.
Lá chè có tỷ lệ giữa mô khuyết và mô dậu càng lớn thì cây chè có khả năng chống
chịu càng tốt với điều kiện ngoại cảnh.
Lá chè mọc trên cành chè theo các thế lá khác nhau: thế lá rủ, thế lá ngang, thế lá
xiên và thế lá úp. Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè năng suất cao. Lá
chè có tuổi thọ trung bình là một năm.
2.7. Hoa, quả chè
Cây chè 2, 3 tuổi đã có thể ra hoa, kết quả lần đầu, hoa chè mọc ra từng mầm sinh
thực ở nách lá chè.
Hoa chè là hoa lưỡng tính, trong hoa có 5-9 cánh màu trắng, có khi phớt hồng. Bộ
nhị đực gồm 100-400 cái, thường thì 200-300 cái. Chỉ nhị ở phía gốc dính với nhau từ 35 cái. Bao phấn có hai nửa gồm 4 túi phấn. Hạt phấn hình tam giác, khi chín có màu vàng
hoặc vàng kim. Bầu nhụy có 3-4 ô trong đó chứa 3-4 noãn, phía ngoài có lông tơ, núm
nhụy chẽ ba. Ở gốc bầu nhụy có tuyến mật làm thành một vòng tròn gọi là đĩa. Khi hoa
nở tiết ra mật ngọt và mùi thơm dễ dẫn dụ côn trùng.
Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1-4 hạt. Quả chè có dạng hình tròn, tam giác,
vuông tùy theo số hạt. Khi còn non quả chè có màu xanh, khi chín chuyển sang mầu xanh
thẫm hoặc nâu. Khi vỏ chín vỏ quả nứt ra.
Hạt chè có vỏ sàng bên ngoài màu nâu cứng. Kích thước hạt chè to, nhỏ phụ thuộc
vào giống và kỹ thuật chăm sóc. Hạt chè có khối lượng từ 0,6-2g, thường là từ 1-1,6g. Vỏ
hạt chè gồm 6-7 lớp tế bào đá tạo thành lớp vỏ cứng, phía trong là lớp vỏ lụa mỏng, có
màu nâu, có nhiều gân, có tác dụng vận chuyển nước và dinh dưỡng. Nhân chè có 2 lá
mầm và phôi (mầm) chè. Lá mầm chiếm 3/4 khối lượng hạt chè, là nơi dự trữ dinh dưỡng
gồm 10% protein, 32% lipit, 31% gluxit. Dưới tác dụng của ánh sáng lá mầm hình thành
diệp lục. Hạt chè có hiện tượng đa phôi.

Hình 2.6. Hoa và quả chè
2.8. Tổng chu kỳ phát dục của cây chè
Cây chè thuộc loại cây lâu năm, kể từ khi thụ phấn thụ tinh trên cây mẹ cho đến
khi cây già cỗi và tự chết có thể kéo dài tới hàng trăm năm. Cả quá trình đó bao gồm 5 giai
đoạn:
*Giai đoạn phôi thai: Kể từ lúc thụ phấn đến khi hạt chín trên cây mẹ hoặc từ khi
mầm được phân hóa đến lúc tạo thành một cành giâm. Đây là giai đoạn đầu tiên của cây
chè chủ yếu nằm ở vườn chè giống lấy hạt hoặc lấy cành.
*Giai đoạn chè con: Kể từ khi gieo hạt, giâm cành đến khi cây ra hoa đầu tiên.
Đối với chè hạt khoảng từ 1-2 năm, chè giâm khoảng 3-6 tháng. Giai đoạn này cần chăm
sóc tốt.
*Giai đoạn chè non: Kể từ năm thứ 2 đến năm thứ 4 sau trồng, từ lúc cây có hoa
lần đầu đến khi cây thành thục các chức năng sinh lý có bộ khung tán ổn định. Cây có sự
sinh trưởng dinh dưỡng chiếm ưu thế đạt cân bằng giữa bộ phận trên mặt đất và dưới mặt
đất. Giai đoạn này yêu cầu chăm sóc tốt, đặc biệt khâu đốn hái, tạo hình nhằm cho cây
sau này có bộ tán rộng.
*Giai đoạn trưởng thành: Từ khi cây có bộ khung tán ổn định đến lúc chè già,
trong cả một thời kỳ kinh doanh dài từ 20-30 năm. Cây chè có khả năng sinh trưởng và
phát dục mạnh, khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt nhất. Do vậy cần lưu ý các
khâu kỹ thuật quan trọng như: chăm sóc, bón phân, đốn hái, phòng trừ sâu bệnh...
*Giai đoạn già cỗi: Kể từ lúc cây bắt đầu thay tán chè đến khi cây tự chết. Trong
giai đoạn này hoạt động sinh trưởng của cây yếu dần, cành nhỏ, búp ít, ra hoa quả nhiều,
cây có biểu hiện tàn lụi tự nhiên rồi chết dần. Gai đoạn này có thể dùng biện pháp đốn trẻ
lại để cải tạo cây chè già cũng có hiệu quả tốt.
3. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY CHÈ
Những cây chè hoang dại đầu tiên được tìm thấy ở các vùng thuộc Ấn Độ, Trung
Quốc, miền Bắc Việt Nam, nói chung là những vùng cận nhiệt đới có khí hậu đặc trưng
là nóng và ẩm. Cây chè rất thích hợp ở các vùng này. Những điều kiện ngoại cảnh chủ
yếu bao gồm:
1. Đất đai và địa hình
Về đất đai cây chè không yêu cầu nghiêm ngặt lắm. Song đất trồng chè thích hợp
nhất phải là đất tốt nhiều mùn, chua, tơi xốp có tầng canh tác dày, mực nước ngầm sâu...

Nói chung chè sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao thường các loại đất tốt có hàm
lượng mùn trên 2%, N tổng số trên 0,2%, kali dễ tiêu 10-15mm/100g đất và có đủ các
nguyên tố vi lượng...
Ở Việt Nam chè được trồng trên nhiều loại đất, nhất là ở vùng Tây Nguyên có đất
đỏ bazan. Theo tài liệu của Trung Quốc cho biết cây chè ưa đất chua có độ pH 4,5-5,5 và
kỵ Ca++, nếu nồng độ Ca++ trong đất lớn hơn 0,2% thì cây chè có thể bị ngộ độc và chết.
Tóm lại tính chất đất ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của
chè.
Về địa hình cũng ảnh hưởng rất lớn đến cây chè. Cây chè thường thích hợp với
những sườn đất dốc có độ dốc từ 8-100, tối đa không quá 250. Theo Donadze (Liên Xô)
những cây chè ở sườn dốc phía Nam được tích lũy hàm lượng tanin và chất hòa tan nhiều
hơn ở hướng Bắc, Đông, Tây. Về độ cao của mặt đất trồng chè so với mặt biển cũng ảnh
hưởng lớn đến phẩm chất chè. Độ cao đất trồng chè càng tăng thì phẩm chất chè càng tốt.
Ở nước ta vùng trồng chè Mộc Châu, Lâm Đồng có độ cao trên 800m đều cho sản phẩm
chè có chất l
 
Gửi ý kiến