Bài 12. Một số công trình tiêu biểu của mĩ thuật thời Lý

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Mạnh Hùng
Ngày gửi: 16h:39' 03-10-2008
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 119
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Mạnh Hùng
Ngày gửi: 16h:39' 03-10-2008
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 119
Số lượt thích:
0 người
Bài 12: Thường thức mĩ thuật
MộT Số CÔNG TRìNH TIÊU BIểU
CủA mĩ thuật thời lý
GV: NGUYỄN MẠNH HÙNG
Hãy chọn các nội dung ở cột B cho phù hợp với cột A
Chúc mừng các bạn có đán đúng
I. kiến trúc
Chùa Một Cột - Diên Hựu Tự (Hà Nội)
Quan sát hình ảnh chùa Một Cột và cho nhận xét về công trình kiến trúc này.
Chùa Một Cột (gọi theo Hán-Việt là Nhất Trụ tháp 一柱塔), còn có tên gèc là Diên Hựu Tù (延祐) là một ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Đây là ngôi chùa được coi là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của kinh thành Thăng Long và độc đáo nhất Việt Nam.
Chùa Một Cột - Diên Hựu Tự (Hà Nội)
Chùa được xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049.
Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Truyền thuyết kể lại rằng chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, nhà vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bề tôi và được sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu.
Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng.
Năm 1108, Nguyên phi Ỷ Lan sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời).
Đến thời nhà Trần, chùa đã không phải là ngôi chùa đời nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi: Năm 1249, "...mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ...".
Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955 (do n¨m 1954 giÆc Ph¸p ph¸ chïa)
Theo tài liệu lịch sử, lối kiến trúc một cột có từ trước đời nhà Lý. Ở Hoa Lư, Ninh Bình trong ngôi chùa con gái vua Đinh Tiên Hoàng, có một cây cột đá cao, sáu cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005). Phía trên cột là tòa sen chạm. Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xây điện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột sáu cạnh hình bông sen.
Như vậy, trước khi xây chùa Một Cột, lối kiến trúc đó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền. Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay.
Chùa Một Cột hiện nay bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3 m, mái cong, cét cã đường kính 1,25 m. Tầng trên của cột là hệ thống những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên.
Đài Liên Hoa có mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long chầu nguyệt. Ngôi chùa dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước là c«ng tr×nh kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng một bông sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh.
Quan sát tượng A-di-đà và cho nhận xét
II. Điêu khắc và gốm
* Tượng A-di-đà (chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
Pho tượng được tạc từ khối đá nguyên xanh xám, là tác phẩm điêu khắc xuất sắc của nghệ nhân thời Lý nói riêng và của nền nghệ thuật dân tộc nói chung. Pho tượng được chia làm hai phần rõ rệt:
Phật A-di-đà ngồi xếp bằng , hai bàn tay ngửa, đạt chồng lên nhau để trước bụng , tì nhẹ lên đùi dáng ngồi thoải mái không gò bó. Các nếp của áo choàng bó sát người được buông từ vai xuống tạo nên những đường cong mềm mại , chau chuốt. Thõn ngồi hơi dướn về phía trước, uyển chuyển nhưng lại vững vàng.
1. Điêu khắc
Tượng A-di-đà (chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
Phật Khuôn mặt tượng phúc hậu, dịu hiền mang đậm vẻ đẹp lý tưởng của người phụ nữ Việt Nam: mắt lá dăm, lông mày lá liễu , mũi dọc dừa thanh tú , cổ kiêu ba ngấn và nụ cười kín đáo.
Phật A-di-đà ngự trên bệ đá toà sen được trang trí bằng các hoa văn tinh xảo và hoàn mĩ. Bệ đá gồm hai tầng:
Tầng trên là toà sen hình tròn, như một đoá sen nở rộ với hai tầng cánh, các cánh sen được chạm đôi rụ`ng theo lối đu?c nông, mỏng.
Tầng dưới là đế tượng hình bát giác, xung quanh được chạm trổ nhiều hoạ tiết trang trí hình hoa dây và sóng nước.
* Con rồng thời Lý
Em có nhận xét gì về rồng thời Lý?
Thân dµi uốn khóc hình chữ S, có 12 khúc, đại diện 12 tháng trong năm, biểu trưng cho sự thay đổi thời tiết năm tháng, sự trù phú và phồn vinh của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Thân mềm mại uốn lượn thể hiện sự biến hóa và khả năng thay đổi, dịch chuyển thiên nhiên của con rồng cai quản thời tiết, mùa màng. Trên lưng có vây nhỏ liền mạch và đều đặn.
Đầu rồng là phần rất đặc biệt, hoàn toàn khác rồng Trung Hoa. Nó có bờm dài, râu cằm, không sừng (như rồng Trung Hoa). Mắt lồi to, hàm mở rộng, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước. Đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn (có người gọi là mào lửa) chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa. Lưỡi mảnh rất dài.
Miệng rồng luôn ngậm viên châu, ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc rồng hay cầm ngọc bằng chân trước. Viên châu tượng trưng cho tính nhân văn, tri thức và lòng cao thượng. Đầu rồng luôn hướng lên đớp lấy viên ngọc thể hiện tinh thần tôn trọng các giá trị nhân văn cao quý, theo đuổi sự uyên bác và tinh thần cao thượng
Thiếu hiện vật về Hà Nội
Rồng Trung Quốc
Rồng Châu Âu
Rồng thời Lý
Gạch trang trí hình rồng thời Lý
(1010-1225).
Hiện trường khai quật Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long
Gạch lát nền hình hoa cúc thời Lý
(1010-1225).
Quan sát những đồ gốm và cho nhận xét
Bát men ngọc có hoạ tiết hoa sen, Bảo tàng lịch sử –Hà Nội
Bình gốm hoa nâu, trưng bày tại bảo tàng Lịch sử – Hà Nội.
Nghệ thuật gốm thời Lý đã phát triển mạnh và đạt đến đỉnh cao
Có các trung tâm lớn và nổi tếng về gốm như Thăng Long, Bát Tràng, Thổ Hà, Thanh Hoá...
Chế tạo được các men gốm quý hiếm như gốm men ngọc, men lục, men da lươn, men trắng ngà, men hoa nâu, men hoa lam.
Hình vẽ trang trí là hình tượng bông sen, đài sen hay lá sen cách điệu được khắc nổi hoặc chìm.
Xương gốm mỏng, nhẹ, chịu được nhiệt độ lửa cao. Dáng nhẹ nhõm, thanh thoát, trau chuốt, mang vẻ đẹp trang trọng, quý phái
2. Gốm
Tuần sau các em chuẩn bị giấy, chì, màu, tìm hiểu nội dung bài 13: Vẽ tranh đề tài bộ đội.
Sưu tầm những hình ảnh về quân đội nhân dân Việt Nam
MộT Số CÔNG TRìNH TIÊU BIểU
CủA mĩ thuật thời lý
GV: NGUYỄN MẠNH HÙNG
Hãy chọn các nội dung ở cột B cho phù hợp với cột A
Chúc mừng các bạn có đán đúng
I. kiến trúc
Chùa Một Cột - Diên Hựu Tự (Hà Nội)
Quan sát hình ảnh chùa Một Cột và cho nhận xét về công trình kiến trúc này.
Chùa Một Cột (gọi theo Hán-Việt là Nhất Trụ tháp 一柱塔), còn có tên gèc là Diên Hựu Tù (延祐) là một ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Đây là ngôi chùa được coi là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của kinh thành Thăng Long và độc đáo nhất Việt Nam.
Chùa Một Cột - Diên Hựu Tự (Hà Nội)
Chùa được xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049.
Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Truyền thuyết kể lại rằng chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, nhà vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bề tôi và được sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu.
Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng.
Năm 1108, Nguyên phi Ỷ Lan sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời).
Đến thời nhà Trần, chùa đã không phải là ngôi chùa đời nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi: Năm 1249, "...mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ...".
Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955 (do n¨m 1954 giÆc Ph¸p ph¸ chïa)
Theo tài liệu lịch sử, lối kiến trúc một cột có từ trước đời nhà Lý. Ở Hoa Lư, Ninh Bình trong ngôi chùa con gái vua Đinh Tiên Hoàng, có một cây cột đá cao, sáu cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005). Phía trên cột là tòa sen chạm. Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xây điện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột sáu cạnh hình bông sen.
Như vậy, trước khi xây chùa Một Cột, lối kiến trúc đó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền. Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay.
Chùa Một Cột hiện nay bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3 m, mái cong, cét cã đường kính 1,25 m. Tầng trên của cột là hệ thống những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên.
Đài Liên Hoa có mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long chầu nguyệt. Ngôi chùa dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước là c«ng tr×nh kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng một bông sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh.
Quan sát tượng A-di-đà và cho nhận xét
II. Điêu khắc và gốm
* Tượng A-di-đà (chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
Pho tượng được tạc từ khối đá nguyên xanh xám, là tác phẩm điêu khắc xuất sắc của nghệ nhân thời Lý nói riêng và của nền nghệ thuật dân tộc nói chung. Pho tượng được chia làm hai phần rõ rệt:
Phật A-di-đà ngồi xếp bằng , hai bàn tay ngửa, đạt chồng lên nhau để trước bụng , tì nhẹ lên đùi dáng ngồi thoải mái không gò bó. Các nếp của áo choàng bó sát người được buông từ vai xuống tạo nên những đường cong mềm mại , chau chuốt. Thõn ngồi hơi dướn về phía trước, uyển chuyển nhưng lại vững vàng.
1. Điêu khắc
Tượng A-di-đà (chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
Phật Khuôn mặt tượng phúc hậu, dịu hiền mang đậm vẻ đẹp lý tưởng của người phụ nữ Việt Nam: mắt lá dăm, lông mày lá liễu , mũi dọc dừa thanh tú , cổ kiêu ba ngấn và nụ cười kín đáo.
Phật A-di-đà ngự trên bệ đá toà sen được trang trí bằng các hoa văn tinh xảo và hoàn mĩ. Bệ đá gồm hai tầng:
Tầng trên là toà sen hình tròn, như một đoá sen nở rộ với hai tầng cánh, các cánh sen được chạm đôi rụ`ng theo lối đu?c nông, mỏng.
Tầng dưới là đế tượng hình bát giác, xung quanh được chạm trổ nhiều hoạ tiết trang trí hình hoa dây và sóng nước.
* Con rồng thời Lý
Em có nhận xét gì về rồng thời Lý?
Thân dµi uốn khóc hình chữ S, có 12 khúc, đại diện 12 tháng trong năm, biểu trưng cho sự thay đổi thời tiết năm tháng, sự trù phú và phồn vinh của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Thân mềm mại uốn lượn thể hiện sự biến hóa và khả năng thay đổi, dịch chuyển thiên nhiên của con rồng cai quản thời tiết, mùa màng. Trên lưng có vây nhỏ liền mạch và đều đặn.
Đầu rồng là phần rất đặc biệt, hoàn toàn khác rồng Trung Hoa. Nó có bờm dài, râu cằm, không sừng (như rồng Trung Hoa). Mắt lồi to, hàm mở rộng, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước. Đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn (có người gọi là mào lửa) chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa. Lưỡi mảnh rất dài.
Miệng rồng luôn ngậm viên châu, ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc rồng hay cầm ngọc bằng chân trước. Viên châu tượng trưng cho tính nhân văn, tri thức và lòng cao thượng. Đầu rồng luôn hướng lên đớp lấy viên ngọc thể hiện tinh thần tôn trọng các giá trị nhân văn cao quý, theo đuổi sự uyên bác và tinh thần cao thượng
Thiếu hiện vật về Hà Nội
Rồng Trung Quốc
Rồng Châu Âu
Rồng thời Lý
Gạch trang trí hình rồng thời Lý
(1010-1225).
Hiện trường khai quật Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long
Gạch lát nền hình hoa cúc thời Lý
(1010-1225).
Quan sát những đồ gốm và cho nhận xét
Bát men ngọc có hoạ tiết hoa sen, Bảo tàng lịch sử –Hà Nội
Bình gốm hoa nâu, trưng bày tại bảo tàng Lịch sử – Hà Nội.
Nghệ thuật gốm thời Lý đã phát triển mạnh và đạt đến đỉnh cao
Có các trung tâm lớn và nổi tếng về gốm như Thăng Long, Bát Tràng, Thổ Hà, Thanh Hoá...
Chế tạo được các men gốm quý hiếm như gốm men ngọc, men lục, men da lươn, men trắng ngà, men hoa nâu, men hoa lam.
Hình vẽ trang trí là hình tượng bông sen, đài sen hay lá sen cách điệu được khắc nổi hoặc chìm.
Xương gốm mỏng, nhẹ, chịu được nhiệt độ lửa cao. Dáng nhẹ nhõm, thanh thoát, trau chuốt, mang vẻ đẹp trang trọng, quý phái
2. Gốm
Tuần sau các em chuẩn bị giấy, chì, màu, tìm hiểu nội dung bài 13: Vẽ tranh đề tài bộ đội.
Sưu tầm những hình ảnh về quân đội nhân dân Việt Nam
 








Các ý kiến mới nhất