Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

bài 41

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lý Nguyệt Cầm
Ngày gửi: 06h:35' 09-04-2015
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích: 0 người
ĐỊA LÍ TỈNH LÂM ĐỒNG
TỔ 4
I.Tài nguyên thiên nhiên
1/thực vật tự nhiên
Là một trong 3 huyện phía nam của tỉnh không có được “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để phát triển KT-XH như ở nhiều địa phương khác trên địa bàn Lâm Đồng, nhưng bù lại, Đạ Tẻh có diện tích rừng lớn lên đến 36.017 ha, chiếm 68,71% diện tích tự nhiên toàn huyện. Trong đó, rừng phòng hộ 5.168 ha, rừng sản xuất 30.849 ha và trong diện tích rừng sản xuất có khá lớn diện tích rừng nghèo kiệt.

Với 52,5%, so với 10 năm trước, tỉnh Lâm Đồng đã giảm khoảng 8% về độ che phủ của rừng. Hiện, tổng diện tích đất có rừng là 513.529ha (phân theo mục đích sử dụng: rừng đặc dụng hơn 82.000ha, rừng phòng hộ hơn 141.000ha, rừng sản xuất gần 268.000ha và phân theo mục đích hình thành: rừng tự nhiên có 454.123ha và rừng trồng 59.406ha). 
 
Trong 12 địa bàn huyện, thành phố của tỉnh Lâm Đồng, độ che phủ rừng cao nhất là huyện Lạc Dương với 85% (gần 111.500ha); huyện có độ che phủ rừng thấp nhất là Lâm Hà với 24,2%; riêng thành phố Đà Lạt có độ che phủ rừng đạt 47,6%. Kết quả điều tra còn cho thấy, tổng trữ lượng các bon trong rừng toàn tỉnh Lâm Đồng đạt gần 34. 899.000 tấn. 
Phân bố rừng
Hiện trạng rừng Lâm Đồng được phân bố như sau:
+Rừng lá rộng :
Rừng trung bình phân bố nhiều ở Lạc Dương, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lộc, Đạ Huoai,… Rừng đã qua khai thác chọn ở cường độ nhẹ.
Rừng nghèo tập trung nhiều nhất ở Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lộc, Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Huoai. Rừng bị khai thác nặng nề, hầu hết phân bố ở những nơi gần dân cư.
Rừng cây lùm là một kiểu phụ lập địa núi cao, cây thấp nhỏ, phân bố chủ yếu ở Lạc Dương, Lâm Hà, Đức Trọng, Bảo Lộc, Di Linh, Đạ Huoai.
Rừng phục hồi là rừng đã qua chặt chọn nhiều lần, có thể còn sót lại những cây lớn của tầng rừng cũ rải rác trên thảm cây nhỏ của tầng dưới
+Rừng hỗn giao lá rộng + lá kim :
Rừng hỗn giao lá rộng + lá kim phân bố ở độ cao dưới 1.000m, có diện tích 37.601,41ha, chiếm 6,07% diện tích đất có rừng. Dạng rừng này có chủ yếu ở Di Linh, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà
+Rừng trồng:
Rừng trồng có 27.326,95ha, phần lớn là rừng thông (24.009,09ha). Các loại cây rừng trồng khác là: tràm bông vàng (1.471,65ha), sao (1.055,14ha), bạch đàn (387,53ha), keo tai tượng (304,75ha), dầu (17,33ha), điều (80,7ha), cây tạp (0,76ha).
2/Động vật hoang dã

Ở Lâm Đồng có 128 họ động vật thuộc 31 bộ bao gồm các nhóm côn trùng, lưỡng thê, bò sát, chim và thú, trong đó có 52 loài côn trùng thuộc 7 bộ. Đã thống kê được 254 loài động vật có xương sống ở cạn, thuộc 67 họ, 24 bộ, trong đó có 16 loài bò sát và ếch nhái, 164 loài chim, 74 loài thú.
Lâm Đồng có 74 loài thú (bổ sung thêm 10 loài so với công bố trước đây của Đặng Huy Huỳnh, năm 1982) thuộc 27 họ, 9 bộ. So sánh với khu hệ thú các tỉnh Tây Nguyên thì thành phần loài thú ở Lâm Đồng khá phong phú. Ở đây có một số loài đặc biệt quý hiếm và là một trong số rất ít nơi được coi là còn những cá thể cuối cùng của tê giác Java, bò xám, nai cà tong ở Việt Nam.
Trong vòng mấy chục năm gần đây, ngoài sự tàn phá rất nặng nề của chất độc hoá học, việc khai thác lâm sản, khai hoang, lập các khu kinh tế mới, di dân tự do cũng đã triệt phá nhiều vạn hecta rừng ở Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng, do đó nguồn gen đa dạng của động, thực vật quý hiếm ở đây đã và đang giảm sút nghiêm trọng. Chim và thú của Lâm Đồng tập trung chủ yếu ở vùng núi Voi (Đức Trọng), vùng Bi Đúp (Lạc Dương), vùng Phi Liêng, Tân Hà (Lâm Hà); đó là những nơi thảm thực vật còn phong phú.
Với thành phần loài phong phú, có tính đặc hữu cao, chim và thú Lâm Đồng là nguồn gen hết sức quý giá đối với cả nước. Cùng với thảm thực vật giàu có, hệ động vật ở Lâm Đồng là thành phần không thể thiếu được tạo nên cảnh quan hấp dẫn một cách đặc thù với các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí của con người. Giá trị của chim và thú ở Lâm Đồng còn thể hiện ở chỗ chúng đã thu hút những người yêu thiên nhiên, các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đến đây.


Bảng thống kê VQG ở Tây Nguyên
=> Tự nhiên Lâm Đồng có những nét đặc trưng riêng là vùng đất cao nguyên badan màu mỡ , khí hậu khá thuận lợi để phát triển ngành nông nghiệp ( với nhiều loại cây , quả , hoa độc đáo có giá trị xuất khẩu cao ) bên cạnh đó do điều kiện địa hình nên Lâm Đồng có nhiều phong cảnh đẹp thuận lợi phát triển ngành du lịch
II.Khoáng sản
Theo kết quả điều tra thăm dò, Lâm Đồng có 25 loại khoáng sản, trong đó bauxite, bentonite, cao lanh, đá Granít, thiếc, diatomite và than bùn trữ lượng lớn, có khả năng khai thác ở quy mô công nghiệp.
Phân bố chính : bô xít ( Bảo Lâm , Bảo Lộc ) , Cao lanh ( Bảo Lộc , Đà Lạt) , đất sét (Di Linh , Đơn Dương)
Ý nghĩa : tuy không phong phú , đa dạng (ngoại trừ bô xít) song nguồn tài nguyên khoáng sản ở Lâm Đồng phần nào góp phần phát triển cho các ngành công nghiệp của tỉnh (ví dụ : SX gạch , ngói , đá xây dựng …) đáp ứng một số nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh.
III.Dân cư và lao động
1/Phân bố dân cư
+Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2010 là 1.204.8869 người, trong đó dân số nông thôn 747.011 người, chiếm 62 %. Mật độ dân số 123 người/km2
Lâm Đồng là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau cư trú và sinh sống, trong đó đông nhất người Kinh chiếm khoảng 77%, đến nguời K’Ho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%, Nùng chiếm gần 2%, Tày chiếm 2%, Hoa chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% ..., còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới 1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh. 
Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư ở đây chưa ổn định và liên tục biến động, hiện tượng di dân tự do trong những năm qua từ các tỉnh khác nhau trong cả nước hội tụ về Lâm Đồng tuy có giảm nhưng vẫn còn lớn, bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 có khoảng 5.000 người di cư tự do vào Lâm Đồng.
Toàn thị trấn có khoảng 20.000 người(40% dân số toàn huyện), dân cư sống tập trung tại các khu phố phía Đông (bờ sông Đạ Tẻh). Tập trung tại các khu phố 1a, 1b, 1c, 2a,2b,2c,2d,3A,4a,4b,4c,5a,5b,5c và 6A (với diện tích khoảng 3.5km2) tập trung khoảng 60% dân cư toàn thị trấn Và hầu hết các cơ quan, công sở, trường học, chợ của huyện và thị trấn đều tập trung tại khu vực này. Dân cư thị trấn có nhiều tộc người với 13 dân tộc khác nhau trong đó đông nhất là người Việt, sau đó là người Tày, Nùng... Châu Mạ, K`Ho.
2/Tình hình phát triển văn hóa,giáo dục,y tế
* Văn hóa
Lâm Đồng là một vùng đất cổ, có cảnh quan địa mạo đa dạng, cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều dân tộc anh em thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me và ngữ hệ Malayô – Pôlynêxia lần lượt đến sinh sống trên mảnh đất Nam Tây Nguyên này.
Vùng đất Lâm Đồng còn lưu  giữ nhiều dấu tích văn hoá, lịch sử của các dân tộc.
Trong nhiều năm qua, nhiều di tích lịch sử được quan tâm tiếp cận nghiên cứu, nổi tiếng nhất là khu di tích Cát Tiên.
Văn học dân gian khá phong phú nhưng văn học viết của Lâm Đồng còn hết sức non trẻ.
Nghệ thuật ở Lâm Đồng được hình thành trên nền văn hoá Việt, văn hoá các dân tộc thiểu số bản địa và một phần của văn hoá các tộc người thiểu số phía Bắc. Sự phối hợp giữa các yếu tố văn hoá này với nhau tạo thành nét riêng cho văn hoá Lâm Đồng nói chung và nghệ thuật nói riêng.


Trong 5 năm qua (2001-2005), sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã có những chuyển biến đáng kể. Mạng lưới trường, lớp được duy trì và phát triển với hình thức đa dạng, rộng khắp trên toàn tỉnh. Quy mô giáo dục không ngừng tăng lên và đang được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, khắc phục tình trạng mất cân đối về cơ cấu lớp học, bậc học. Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa. Cơ sở vật chất kỹ thuật tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã được củng cố và nâng cấp. Hiện nay, Lâm Đồng đã có một hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng, được hình thành các cấp học và trình độ từ mầm non đến đại học. Hệ thống giáo dục đang từng bước được xã hội hóa đa dạng về loại hình, phương thức và huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục. Nền giáo dục ở Lâm Đồng cơ bản đáp ứng được mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài góp phần đắc lực để phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá tỉnh nhà.
* Quy mô giáo dục:
Giáo dục mầm non: Trong những năm thời kỳ 2001-2005, các địa phương trong tỉnh đã tích cực vận động gia đình đưa trẻ đến lớp. Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 48.607 trẻ đi học mầm non, tăng 21,79% so với năm học 2000-2001, tăng bình quân mỗi năm khoảng 4,02%. Tuy nhiên, mức độ tăng không đồng đều giữa  các năm học, từ năm học 2000-2001 đến năm học 2003-2004 tăng không đáng kể, riêng năm học 2004-2005 tăng mạnh ( tăng 13,25%) so năm học 2003-2004. Hiện nay các loại hình nhà trẻ và mẫu giáo ngoài công lập phát triển mạnh và hầu hết các địa phương số trẻ em đi nhà trẻ và mẫu giáo đã tăng so với các năm học trước.
Giáo dục phổ thông: Quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm, tiến dần đến ổn định do thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nên độ tuổi dân số trong độ tuổi 6-10 tuổi giảm dần trong những năm gần đây (trong 5 năm qua đã giảm 2,5%). Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 127.739 học sinh tiểu học, giảm 14,77% so với năm học 2000-2001 (giảm 22.144 học sinh), giảm bình quân 3,15% mỗi năm .
Số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thổng tăng khá nhanh trong những năm gần đây do ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh phối hợp với các địa phương tập trung chỉ đạo để hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2007. Năm học 2005-2006 có 99.203 học sinh trung học cơ sở, tăng 27,26% so với năm học 2000-2001 ( tăng 21.248 học sinh), mức tăng bình quân hàng năm đạt 4,94%. Sè học sinh trung học phổ thông lµ 44.538 häc sinh, tăng 63,27% so với năm học 2000-2001 (tăng 17.260 học sinh), tăng bình quân hàng năm 10,3%.
*  Mạng lưới trường lớp:
Mạng lưới trường tiếp tục được củng cố và phát triển. Hầu hết các địa phương trong tỉnh đều đã có hệ thống trường, lớp ngoài công lập.
Giáo dục mầm non: Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 160 trường mầm non so với năm học 2000-2001 số trường tăng tang thêm 57 trường. Quy mô trường học tăng ở hầu hết ở các loại trường, trong đó trường hệ công lập tăng nhanh, từ 29 trường năm học 2000-2001 tăng lên  82 trường năm học 2005-2006, tăng 182,76% ( tăng 53 trường).
Giáo dục phổ thông:  Năm học 2005-2006 cả tỉnh có 247 trường tiểu học, tăng 2 trường so năm học 2000-2001; có 105 trường trung học cơ sở, tăng 26 trường so năm học 2000-2001; 22 trường trung học phổ thông, tăng 9 trường; 20 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở, tăng 8 trường và 29 trường liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, tăng 9 trường so năm học 2000-2001. Cùng với sự biến động về trường thì số lớp cũng có sự biến động đáng kể. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh có 4.309 lớp tiểu học, giảm 777 lớp so năm học 2000-2001; số lớp trung học cở sở là 2.511 lớp, tăng 576 lớp và 1.086 lớp phổ thông, tăng 438 lớp  so năm  học 2000-2001. Xu hướng trong những năm tới, số lớp cấp tiểu học tiếp tục giảm, số lớp cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông sẽ tăng lên
*  Phổ cập giáo dục :
Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được duy trì và phát triển. Toàn tỉnh đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và phổ cập tiểu học từ năm 1997, đến nay 12/12 huyện, thị, thành phố vẫn giữ được chuẩn xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Công tác phổ cập trung học cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh. Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 82/145 xã, phường, thị trấn hoàn thành hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, tăng 53 xã so năm học 2000-2001; nâng tỷ lệ số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập cấp trung học cơ sở trên tổng số xã, phường, thị trấn từ 21,01% năm học 2000-2001 lên 56,55% năm học 2005-2006. Phấn đấu đến năm học 2007-2008, toàn tỉnh sẽ hoàn thành xong chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
* Chất lượng và hiệu quả giáo dục :
Hệ thống trường, lớp ngày càng mở rộng và được bố trí hợp lý nên số học sinh bỏ học giảm rõ rệt thể hiện qua công tác duy trì sĩ số. Tỉ lệ giảm sĩ số chung cả 3 cấp học giảm từ 3,31% năm học 2000-2001 xuống còn 2,22% năm học 2004-2005 ; trong đó cấp tiểu học giảm từ 1,95% xuống 1,26%, cấp trung học cơ sở giảm từ 4,69% xuống 3,02% và cấp trung học phổ thông giảm từ 4,81% xuống còn 3,32%.
Tỷ lệ hoàn thành cấp học qua các năm học đối với tiểu học xu hướng tăng lên, từ 99,14% năm học 2000-2001 đến 99,92% năm học 2004-2005; cấp trung học phổ thông cũng tăng từ 84,16% năm học 2000-2001 lên 85,69% năm học 2004-2005. Riêng cấp trung học cơ sở, tỷ lệ tốt nghiệp  giảm xuống từ 96,06% năm học 2000-2001 còn 93,48% năm học 2004-2005. Nhìn chung tỷ lệ hoàn thành các cấp học không ổn định qua các năm học, không đồng đều giữa các cấp học do công tác đổi mới phương pháp dạy và học đã được triển khai  nhưng chưa đồng bộ; cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhất là đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm, thiết bị thực hành còn thiếu thốn; công tác phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu một số trường chưa được quan tâm đúng mức. Ngoài ra trong những năm qua, các khối tiến hành thay sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo nhưng việc tiếp cận và triển khai giảng dạy theo nội dung sách mới của không ít giáo viên còn lúng túng. 

* Y tế
Thời kỳ 2001-2005, ngân sách Trung ương và địa phương đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác y tế, nên hệ thống bệnh viện, trạm xã, phòng khám đa khoa được nâng cấp, sửa chữa, xây mới nên cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, toàn tỉnh cú 181 cơ sở y tế Nhà nước, trong đó có 12 bệnh viện, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, 21 phòng khám đa khoa khu vực, 145/145 xã có trạm y tế (trong đó 129 trạm độc lập và 16 trạm hoạt động lồng ghép). Số giường bệnh trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay có 2.402 giường, bình quân một nghìn dân đạt 2,08 giường vào năm 2005 với công suất sử dụng giường bệnh đạt 84,92%. Ngoài ra, để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân ngày một tốt hơn, bệnh viện tuyến tỉnh đã trang bị máy CT Scanner, máy chạy thận nhân tạo, bộ khám điều trị nội soi Tai-Mũi-Họng; có 8/10 bệnh viện tuyến huyện đã có gây mê, bàn mổ, đèn mổ, bộ dụng cụ trung phẩu, bộ dụng cụ phẫu thuật sản khoa; 100% xã có tủ lạnh để lưu trữ vaccin; 127/145 trạm y tế có kính hiển vi.
Mạng lưới y tế cơ sở với các trạm y tế tuyến xã, phường, thị trấn là chủ yếu đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động y tế dự phòng và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Trong quá trình đổi mới và phát triển, ngành Y tế đã thiết lập được mạng lưới y tế xã, phường rộng khắp từ tỉnh xuống cơ sở, từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
*  Phát triển nhân lực:
Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 557 bác sĩ, 83 dược sĩ đại học, 730 y sĩ và kỹ thuật viên và 276 dược sĩ trung học và kỹ thuật viên dược. Tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân tăng lên đáng kể từ 4,39 bác sĩ năm 2000 tăng lên 4,81 bác sĩ năm 2005. Ngoài số lượng y, bác sĩ, dược sĩ, còn một đội ngũ y tá, dược tá,  nữ hộ sinh đã góp phần đáng kể trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân những năm vừa qua. Tuy nhiên, số cán bộ y tế giữa các vùng không đồng đều, trong đó ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người thì số bác sĩ còn ít.
* Y tế dự phòng và công tác phòng chống dịch bệnh :
Ngành Y tế đã chủ động triển khai phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch nên tình hình bệnh dịch nói chung ổn định. Đặc biệt là phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) và dịch cúm gia cầm lây qua người. Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế trong những năm vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Chương trình phòng chống bệnh sốt rét các năm qua đã có những tiến bộ rất khả quan, hàng năm không để xảy ra dịch trên địa bàn toàn tỉnh, giảm mức độ lưu hành sốt rét từ 6,75% năm 2001 xuống còn 1,73% năm 2004, phấn đấu năm 2005 không có trường hợp tỷ vong do sốt rét gây ra .
Chương trình phòng chống bệnh sốt xuất huyết tiếp tục được quan tâm và thu được kết quả đáng kể. Số người bị sốt xuất huyết đã giảm nhiều trong những năm qua, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trên 100.000 dân từ 16,75 năm 2001 xuống còn 4,8 năm 2004 và 4,1% năm 2005. Đặc biệt liên tục từ năm 2001 đến nay không có trường hợp tử vong do sốt xuất huyết.
Chương trình phòng chống lao được thực hiện bằng các chiến dịch truyền thông về bệnh lao, đồng thời triển khai rộng rãi mạng lưới chống lao. Tuy nhiên, trong các năm gần đây số bệnh nhân mắc lao mới có xu hướng tăng từ 38,36 trên 100.000 dân năm 2001 tăng lên 41,39 trên 100.000 dân năm 2005. Hiện nay, ngành đang quản lý, điều trị 100% bệnh nhận lao mới phát hiện, tỷ lệ bệnh nhân lao điều trị khỏi đạt 88%.
Nhìn chung các chương trình quốc gia phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã được triển khai trong nhiều năm qua và thực hiện có kết quả. Ngoài các chương trình trên, những năm qua ngành Y tế còn thực hiện một số chương trình khác như: Chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi; chương trình nuôi con bằng sữa mẹ; chương trình phòng chống thiếu máu do thiếu sắt; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường. Các chương trình này đã đạt được kết quả nhất định trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng ngừa bệnh tật và hạn chế các bệnh gây dịch như bệnh tả, dịch hạch, thương hàn.
* Công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân:
Trong những năm qua, chất lượng công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân từng bước được tăng cường. Số người đến khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế ngày càng tăng; năm 2005 có 2.553,6 ngàn lượt người đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế  Nhà nước, tăng 92,27% so năm 2001, bình quân hàng năm tăng 18,43%; số bệnh nhân điều trị nội trú 112,1 ngàn người, tăng 35,06% so năm 2001.
Các dịch vụ chăm sóc nội trú và các dịch vụ miễn phí dành cho người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội khác ngày càng được quan tâm, đảm bảo tính công bằng trong việc được hưởng các dịch vụ y tế cho mọi người dân. Thực hiện các quyết định của Nhà nước về khám chữa bệnh cho người nghèo, đặc biệt là thực hiện việc khám chữa bệnh theo phương thức thực thanh, thực chi theo Quyết định số 142/QĐ-UB của UBND tỉnh Lâm Đồng, tính từ tháng 6/2002 đến tháng 6/2004 ngành y tế Lâm Đồng đã khám, chữa bệnh cho 493.968 lượt người nghèo, đồng bào dân tộc với tổng kinh phí chi trả 19,53 tỷ đồng trong tổng số kinh phí 24,41 tỷ đồng để tổ chức khám chữa bệnh miễn phí chi người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn toàn tỉnh.
TTO - Chiều 25-3, bác sĩ Đồng Sỹ Quang - Trưởng phòng nghiệp vụ y dược, Sở Y tế Lâm Đồng cho biết 16 học sinh lớp 4B bị nhiễm cúm A/H1N1 trước đó 8 ngày đã được xuất viện.
Các bác sĩ trong phòng cách ly kiểm tra sức khỏe cho 16 em học sinh có biểu hiện sốt hàng loạt - Ảnh: C.Thành
Theo bác sĩ Quang, do đây là dạng cúm mùa, có khả năng lây lan nhanh trong cộng đồng nên Trung tâm y tế dự phòng Lâm Đồng kết hợp với Đội y tế dự phòng thuộc TTYT huyện Đạ Tẻh đã tiến hành phun xịt tiêu độc, khử trùng trên diện rộng đối với tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đạ Tẻh. Tới thời điểm này, công tác tiêu độc khử trùng, phòng tránh cúm đã cơ bản hoàn thành.
Trước đó, vào chiều 18-3, hàng loạt học sinh của lớp 4B Trường cấp 1, 2 Xuân Thành (Phân hiệu Bình Hòa, xã Đạ Pal, huyện Đạ Tẻh) bất ngờ có triệu chứng sốt, họ, đau họng.
Sau đó, chỉ trong một buổi chiều 16/18 em thuộc lớp 4B đã được Trung tâm y tế Đạ Tẻh đưa về điều trị cách ly để tìm nguyên nhân gây bệnh.
Tới ngày 22-3, viện Pasteur đã có kết luận mẫu bệnh phẩm 16 học sinh bị sốt cao chưa rõ nguyên nhân mà Trung tâm y tế huyện Đạ Tẻh gửi dương tính với cúm A/H1N1.
Hiện Sở y tế Lâm Đồng, Trung tâm y tế Đạ Tẻh vẫn tiếp tục giám sát chặt chẽ tình hình dịch cúm tại Đạ Tẻh, đồng thời khuyến cáo người dân ngay khi có các triệu chứng như ho, sốt, sổ mũi, đau đầu, mệt mỏi cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được chữa trị, xử lý kịp thời.
CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ LẮNG NGHE
Gửi ý kiến