Tìm kiếm Bài giảng
Bài 6: Bài học cuộc sống - Đọc: Con hổ có nghĩa (Vũ Trinh).

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 22h:28' 16-02-2025
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 540
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 22h:28' 16-02-2025
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 540
Số lượt thích:
0 người
Văn bản
CON HỔ CÓ NGHĨA
(Vũ Trinh)
UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN
ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY
Hai câu tục
ngữ trên có
điểm chung gì
về chủ đề?
Chủ đề: sự biết ơn, sống
có tình, có nghĩa…
I. ĐOC HIỂU CHUNG
1. Đọc
- Gọi hai học sinh (mỗi học sinh đọc một câu chuyện).
- Giọng đọc: to, rõ ràng, dứt khoát, tách bạch từng câu.
- Bà đỡ: người phụ nữ làm nghề đỡ đẻ
- Lạng: đơn vị đo khối lượng thời xưa, xấp xỉ bằng 37,8 g
- Tiều phu: người làm nghề đốn củi
2.Tìm hiểu chung
a.Tác giả
-Vũ Trinh (1759-1828), quê Bắc Ninh.
-Ông sáng tác cả thơ và văn xuôi.
- Sáng tác tiêu biểu: Cung oán thi tập, Sứ Yên thi tập,
Lan Trì kiến văn lục…
b.Tác phẩm
-Thể loại: Truyện truyền kì.
-Xuất xứ:
Là truyện thứ 8 trong 45 truyện ngắn viết bằng chữ
Hán trong Lan Trì kiến văn lục.
-Bố cục: 2 phần.
+Phần 1: Con hổ và bà đỡ Trần.
+Phần 2: Con hổ và bác tiều phu.
Câu chuyện thứ nhất: Hổ cái đau đẻ, hổ đực đi
tìm bà đỡ Trần ở huyện Đông Triều. Bà đỡ đã cho
hổ cái uống thuốc, xoa bóp bụng và giúp hổ đẻ
được. Hổ đực mừng rỡ và đền ơn bà một cục bạc.
Câu chuyện thứ hai: Bác tiều phu ở huyện
Lạng Giang đang bổ củi ở sườn núi thấy một
con hổ bị hóc xương bèn giúp hổ lấy xương ra.
Để tạ ơn, hổ đền ơn bác cả khi sống và khi chết.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Câu chuyện của con hổ với bà đỡ Trần
Con hổ được bà
đỡ Trần giúp đỡ
Đỡ một ca đẻ
khó cho hổ cái.
=> Bà đỡ Trần là
người nhân hậu.
Sự tri ân của con hổ
-Vừa quỳ vừa nhìn bà (thể hiện thái độ biết ơn).
-Tặng khối bạc (tạ ơn bằng vật chất).
-Dẫn ra khỏi rừng (bảo vệ an toàn cho ân nhân).
-Quẫy đuôi tiễn biệt. Bà đỡ đi khá xa, hổ mới gầm lớn rồi
rời đi (vừa quan sát để đảm bảo sự an toàn của ân nhân,
vừa thể hiện tình cảm lưu luyến, trân trọng).
=> Con hổ sống có tình có nghĩa.
Ân nhân: người làm ơn.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Câu chuyện của con hổ với bác tiều
Con hổ được
Sự tri ân của con hổ
bác tiều giúp đỡ
Lấy cái xương
bò hóc trong
họng hổ.
=> Bác tiều là
người nhân hậu.
-Nhìn khuôn mặt bác tiều (để ghi nhớ khuôn mặt ân nhân).
-Mang hươu đến và gầm dữ dội (tặng quà và gửi lời tri ân).
-Đến trước mộ, dụi đầu vào quan tài, gầm gào (đến viếng,
thể hiện lòng thương mến, xót xa đối với ân nhân đã khuất).
-Ngày giỗ lại mang các con thú đến để ở ngoài cửa trong
mấy chục năm liền (tình cảm vững bền, khắc cốt ghi tâm ơn
nghĩa của ân nhân với mình).
=> Con hổ sống có tình có nghĩa (biết ơn với những người
đã cưu mang, giúp đỡ mình).
Em cảm nhận được điều gì về tiếng gầm của hai con hổ ở phần cuối mỗi câu
chuyện?
-Con hổ thứ nhất “gầm lớn”:
Một lời chào tới ân nhân.
-Con hổ thứ hai “gầm gừ, gào lớn”:
+ “Gầm gừ”: Lời “tâm sự” với ân nhân.
+ “Gào lớn”: Thể hiện nỗi đau thương trong lòng đối với ân nhân đã khuất.
2. Bài học đạo lí
Mượn hình tượng con hổ có nghĩa, tác phẩm đã gửi
gắm bài học đạo lí nào cho con người?
- Có lòng nhân ái: yêu thương giúp đỡ nhau trong
cuộc sống.
-Sống ân nghĩa thuỷ chung, nhận ơn phải biết trả ơn.
+ Con vật còn có nghĩa huống chi là con người.
+ Ngay cả những đối tượng hung tợn, đáng sợ (thậm
chí là dã thú) khi nhận được sự giúp đỡ cũng biết ơn
và trả ơn.
So sánh cái nghĩa giữa hai con hổ?
-Giống: cả hai con hổ đều đền ơn đáp nghĩa.
-Khác:
+Con hổ thứ nhất: Đền ơn một lần.
+Con hổ thứ hai: Đền ơn mãi mãi (lúc sống và cả lúc chết).
=> Kết cấu truyện không phải trùng lặp mà để nâng cấp chủ đề tư tưởng, có
thêm ý nghĩa mới.
3.Nghệ thuật
-Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ.
-Xây dựng hình tượng mang ý nghĩa giáo huấn.
-Đan xen yếu tố thực và kì ảo.
-Kể chuyện tưởng tượng sinh động.
-Tình huống truyện hấp dẫn.
-Kết cấu truyện có sự nâng cấp.
Giáo huấn: Dạy bảo điều hay lẽ phải.
LUYỆN TẬP
Nêu cảm nghĩ về một chi tiết em thấy ấn tượng nhất trong truyện.
CON HỔ CÓ NGHĨA
(Vũ Trinh)
UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN
ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY
Hai câu tục
ngữ trên có
điểm chung gì
về chủ đề?
Chủ đề: sự biết ơn, sống
có tình, có nghĩa…
I. ĐOC HIỂU CHUNG
1. Đọc
- Gọi hai học sinh (mỗi học sinh đọc một câu chuyện).
- Giọng đọc: to, rõ ràng, dứt khoát, tách bạch từng câu.
- Bà đỡ: người phụ nữ làm nghề đỡ đẻ
- Lạng: đơn vị đo khối lượng thời xưa, xấp xỉ bằng 37,8 g
- Tiều phu: người làm nghề đốn củi
2.Tìm hiểu chung
a.Tác giả
-Vũ Trinh (1759-1828), quê Bắc Ninh.
-Ông sáng tác cả thơ và văn xuôi.
- Sáng tác tiêu biểu: Cung oán thi tập, Sứ Yên thi tập,
Lan Trì kiến văn lục…
b.Tác phẩm
-Thể loại: Truyện truyền kì.
-Xuất xứ:
Là truyện thứ 8 trong 45 truyện ngắn viết bằng chữ
Hán trong Lan Trì kiến văn lục.
-Bố cục: 2 phần.
+Phần 1: Con hổ và bà đỡ Trần.
+Phần 2: Con hổ và bác tiều phu.
Câu chuyện thứ nhất: Hổ cái đau đẻ, hổ đực đi
tìm bà đỡ Trần ở huyện Đông Triều. Bà đỡ đã cho
hổ cái uống thuốc, xoa bóp bụng và giúp hổ đẻ
được. Hổ đực mừng rỡ và đền ơn bà một cục bạc.
Câu chuyện thứ hai: Bác tiều phu ở huyện
Lạng Giang đang bổ củi ở sườn núi thấy một
con hổ bị hóc xương bèn giúp hổ lấy xương ra.
Để tạ ơn, hổ đền ơn bác cả khi sống và khi chết.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Câu chuyện của con hổ với bà đỡ Trần
Con hổ được bà
đỡ Trần giúp đỡ
Đỡ một ca đẻ
khó cho hổ cái.
=> Bà đỡ Trần là
người nhân hậu.
Sự tri ân của con hổ
-Vừa quỳ vừa nhìn bà (thể hiện thái độ biết ơn).
-Tặng khối bạc (tạ ơn bằng vật chất).
-Dẫn ra khỏi rừng (bảo vệ an toàn cho ân nhân).
-Quẫy đuôi tiễn biệt. Bà đỡ đi khá xa, hổ mới gầm lớn rồi
rời đi (vừa quan sát để đảm bảo sự an toàn của ân nhân,
vừa thể hiện tình cảm lưu luyến, trân trọng).
=> Con hổ sống có tình có nghĩa.
Ân nhân: người làm ơn.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Câu chuyện của con hổ với bác tiều
Con hổ được
Sự tri ân của con hổ
bác tiều giúp đỡ
Lấy cái xương
bò hóc trong
họng hổ.
=> Bác tiều là
người nhân hậu.
-Nhìn khuôn mặt bác tiều (để ghi nhớ khuôn mặt ân nhân).
-Mang hươu đến và gầm dữ dội (tặng quà và gửi lời tri ân).
-Đến trước mộ, dụi đầu vào quan tài, gầm gào (đến viếng,
thể hiện lòng thương mến, xót xa đối với ân nhân đã khuất).
-Ngày giỗ lại mang các con thú đến để ở ngoài cửa trong
mấy chục năm liền (tình cảm vững bền, khắc cốt ghi tâm ơn
nghĩa của ân nhân với mình).
=> Con hổ sống có tình có nghĩa (biết ơn với những người
đã cưu mang, giúp đỡ mình).
Em cảm nhận được điều gì về tiếng gầm của hai con hổ ở phần cuối mỗi câu
chuyện?
-Con hổ thứ nhất “gầm lớn”:
Một lời chào tới ân nhân.
-Con hổ thứ hai “gầm gừ, gào lớn”:
+ “Gầm gừ”: Lời “tâm sự” với ân nhân.
+ “Gào lớn”: Thể hiện nỗi đau thương trong lòng đối với ân nhân đã khuất.
2. Bài học đạo lí
Mượn hình tượng con hổ có nghĩa, tác phẩm đã gửi
gắm bài học đạo lí nào cho con người?
- Có lòng nhân ái: yêu thương giúp đỡ nhau trong
cuộc sống.
-Sống ân nghĩa thuỷ chung, nhận ơn phải biết trả ơn.
+ Con vật còn có nghĩa huống chi là con người.
+ Ngay cả những đối tượng hung tợn, đáng sợ (thậm
chí là dã thú) khi nhận được sự giúp đỡ cũng biết ơn
và trả ơn.
So sánh cái nghĩa giữa hai con hổ?
-Giống: cả hai con hổ đều đền ơn đáp nghĩa.
-Khác:
+Con hổ thứ nhất: Đền ơn một lần.
+Con hổ thứ hai: Đền ơn mãi mãi (lúc sống và cả lúc chết).
=> Kết cấu truyện không phải trùng lặp mà để nâng cấp chủ đề tư tưởng, có
thêm ý nghĩa mới.
3.Nghệ thuật
-Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ.
-Xây dựng hình tượng mang ý nghĩa giáo huấn.
-Đan xen yếu tố thực và kì ảo.
-Kể chuyện tưởng tượng sinh động.
-Tình huống truyện hấp dẫn.
-Kết cấu truyện có sự nâng cấp.
Giáo huấn: Dạy bảo điều hay lẽ phải.
LUYỆN TẬP
Nêu cảm nghĩ về một chi tiết em thấy ấn tượng nhất trong truyện.








Hay quá ạ