Violet
Baigiang

Thư mục

BÁO CÁO BIỆN PHÁP NGỮ VĂN 7 CÁNH DIỀU

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần thi thi
Ngày gửi: 03h:57' 23-10-2025
Dung lượng: 9.8 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích: 0 người
ỦY BAN NHÂN DÂN …………..
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ…………

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY KIỂU BÀI LÀM VĂN NGHỊ
LUẬN GIẢI THÍCH CHO HỌC SINH LỚP 7

Họ và tên giáo viên :
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:

 
............., tháng 11 năm 2023

BIỆN
PHÁP:
MỘT SỐ
KINH
NGHIỆM
DẠY KIỂU
BÀI LÀM
VĂN NGHỊ
LUẬN GIẢI
THÍCH
CHO HỌC
SINH LỚP 7

I

II

Phần mở đầu

Nội dung biện pháp

Khả năng áp dụng của biện pháp

III
IV

Hiệu quả, lợi ích thu được

I. Phần mở đầu
Tạo lập một bài văn nghị luận là công việc cần thiết, tạo
nền tảng vững chắc cho học sinh trong quá trình làm văn sau
này. Đặc biệt, nghị luận giải thích là một trong những kiểu
bài khó nhất của chương trình Ngữ văn 7. Đây cũng là kiểu
bài có tính chất tiền đề cho học sinh học tập dạng bài nghị
luận xã hội ở các lớp tiếp theo. Trước yêu cầu đó, là người
giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 7, tôi luôn trăn
trở để tìm ra những giải pháp, phương pháp phù hợp nhằm
mang lại hiệu quả cao trong việc dạy và học. Trong đó, rèn
kỹ năng làm kiểu bài là khâu then chốt. Việc tìm hiểu,
nghiên cứu các biện pháp hình thức để rèn kỹ năng, cách
làm bài văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7 đã và
đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn.

I. Phần mở đầu

Thực trạng
trước khi áp
dụng biện
pháp

Qua thời gian khảo sát thực tế, tôi nhận thấy: Ở
lớp 6 các em học viết các văn bản tự sự, miêu tả - loại văn
bản dùng tư duy hình tượng còn tư duy lôgic với các em thì
rất lạ lẫm các em gặp nhiều khó khăn trong việc trình bày tư
tưởng quan điểm. Lần đầu tiên các em được làm quen với văn
nghị luận và là kiểu bài văn khó, nặng đối với các em.. Lên
lớp 7 các em tiếp tục được rèn luyện kỹ năng làm văn nghị
luận giải thích nhưng do các em phải học nhiều môn và chỉ
chú trọng việc học trên lớp cho xong chương trình nên việc
chuẩn bị một bài nghị luận giải thích cho giờ luyện nói, luyện
tập lập luận học sinh thường chuẩn bị sơ sài hời hợt chỉ mang
hình thức đối phó cho nên mỗi khi nhận đề kiểm tra, học sinh
lúng túng. Những lúc đó các em thường dựa dẫm, lệ thuộc
vào tài liệu tham khảo mà không chú ý đến đề văn đó yêu cầu
như thế nào. Vì thế bài làm văn của các em còn lan man chưa
biết xác định luận điểm chính, chưa biết chia đoạn và lập luận
cho bài văn, dẫn chứng chưa sát với yêu cầu đề bài. Đặc Biệt
bài văn nghị luận giải thích của học sinh chưa có sức thuyết
phục vì các em chưa nắm được bản chất, phương pháp giải
thích

Ưu điểm của biện pháp cũ

Học sinh biết
sử dụng công
nghệ thông
tin, biết tìm tư
liệu tham
khảo để viết
bài

Học sinh biết
hệ thống và
khái quát
những tri
thức về thể
loại văn nghị
luận giải
thích.

Một số học
sinh có tiến
bộ trong
cách hành
văn

Nhược điểm của biện pháp cũ

Học sinh làm
bài một cách
thụ động,
không làm
chủ được kiến
thức, không
nắm được bản
chất, phương
pháp giải
thích

Bài văn luôn
nặng về công
thức, thiếu
màu sắc cá
nhân.

Số học sinh
có tiến bộ
trong cách
hành văn
đạt không
nhiều

Bảng khảo sát trước khi áp dụng
Lớp

Sĩ số Giỏi

Khá

Trung

Yếu

bình

7C

30

SL

%

SL

%

SL

0

0

4

13,3 18

%

SL

60,1 8

%
26,6

Xuất phát từ ưu nhược điểm và kết quả khảo sát tôi đã mạnh
dạn lựa chọn kinh nghiệm: Dạy kiểu bài làm văn nghị luận
giải thích cho học sinh lớp 7

II. Nội dung của biện pháp
1. Mục đích của biện pháp
Tìm ra một con đường gần nhất và hiệu quả nhất đến
với kĩ năng viết bài của học sinh. Đối với môn Ngữ văn, học
tập là để hướng đến năng lực cơ bản là nói và viết. Kĩ năng
viết được xem là sản phẩm quan trọng của người học văn.
Đó chính là công cụ cho bất kì ai thuộc bất kỳ lĩnh vực nào
trên hành trình cuộc sống của mỗi người, giúp học sinh xác
định rõ cách thức tiến hành, nội dung cơ bản cần có trong
một bài văn nghị luận giải thích và giúp học sinh tự tin hơn
trước mỗi đề văn.

2. Nội dung

Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững bản chất, yêu cầu,
phương pháp của bài văn nghị luận giải thích. Chú trọng rèn cho học
sinh một số kĩ năng cơ bản cho học sinh giúp học sinh làm tốt kiểu bài
nghị luận giải thích trong sáng, dễ hiểu. Không nên dùng những điều
không ai hiểu để giải thích những điều người ta chưa hiểu.

Cách thức thực hiện

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy phép lập luận giải thích, dẫn
chứng khác với lập luận chứng minh ở chỗ:
+ Về mục đích và mức độ, dẫn chứng chỉ đóng vai trò phụ trợ, bổ
sung, làm nổi bật một số lí lẽ.
+ Về số lượng, nó ít hơn hẳn và không cần liên tục, thường xuyên, liền
mạch.
+ Trong giải thích thường có chứng minh và ngược lại, trong chứng
minh, cũng cần phải giải thích. Người dạy cần tìm hiểu kỹ vấn đề giải
thích cho kĩ hơn, phải đi từ cái sâu xa đến cái cụ thể, rõ ràng. Những
tri thức này có lẽ chưa thể có được ở học sinh. Giáo viên đưa ra một
số ví dụ hướng dẫn học sinh làm rõ mục đích, yêu cầu, bố cục và
phương pháp của bài văn nghị luận giải thích.

Các bước thực hiện

Bước 1: GV cho HS tìm hiểu phần kiến thức Ngữ văn ở Bài 5 sách NV Cánh Diều HKI và bài 8 sách Ngữ văn Cánh Diều HKII
Bước 2: GV cho HS tìm hiểu phần định hướng trang 35 sách Ngữ văn Cánh Diều tập 1 và trang 7, trang 47 sách Ngữ văn Cánh
Diều tập 2
Bước 3: Hướng dẫn HS nắm vững đặc điểm chung, bố cục, phương pháp và kỹ năng làm bài văn nghị luận giải thích thông qua
các ví dụ:
Ví dụ 1: Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm chung của văn nghị luận
Cho đoạn văn: “ Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiếng nói của mình. Và để tin tưởng
hơn nữa vào tương lai của nó. Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói
rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế
cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thoả mãn cho
yêu cầu của đời sống văn hoá nước nhà qua các thời kỳ lịch sử.” ( Sự giàu đẹp của tiếng Việt - Đặng Thai Mai ) trang 49 sách
Cánh Diều tập 2)
Đây là một đoạn văn giải thích rất hay, đặc sắc. Vấn đề cần giải thích là vẻ đẹp của tiếng Việt. Là vấn đề trừu tượng, rất khó
làm rõ. Bởi vậy, tác giả chọn cách giải thích gián tiếp từ nguồn gốc, từ những nguyên nhân tạo ra vẻ đẹp đó. Đó là cách giải thích
rất thông minh, sáng tạo. Đặng Thai Mai đúng là bậc thầy trong việc giải thích. Như vậy, chúng ta có thể đưa ra kết luận về yêu
cầu của giải thích: Người ta có thể giải thích bằng nhiều cách, có thể giải thích bằng trực tiếp, có thể bằng gián tiếp. Có những
vấn đề có thể dùng tư liệu có sẵn để giải thích, nhưng cũng có những vấn đề trừu tượng( như đoạn văn của Đặng Thai Mai) thì
cần sự thông minh, đưa ra lý lẽ phù hợp để giải thích vấn đề.

Các bước thực hiện

Ví dụ 2: Rèn cho học sinh nắm vững yêu cầu, bố cục của bài văn

nghị luận giải thích
(Bài 2 trang 8 sách Cánh Diều tập 2)
Nếu với đề bài giải thích câu tục ngữ “ Học ăn, học nói, học gói,
học mở” mà chỉ giải thích tập trung làm cho người đọc hiểu rõ “học”
của con người thì sẽ chỉ nêu được một mặt của vấn đề. Vì hiểu đúng
nghĩa của từ “học” ở đây là chịu khó, chăm chỉ để tìm hiểu, tìm tòi,
học hỏi những điều hay, việc làm tốt cho gia đình, xã hội. Hay, với đề
bài giải thích ý nghĩa câu nói của nhà văn lớn M.Gorki “ Sách mở ra
trước mắt tôi những chân trời mới” như thế nào cho rõ vấn đề cốt lõi
là “ Tác dụng của việc đọc sách” không phải là dễ. Người làm cần xác
định tư liệu cần có để giải thích ngay trong việc tìm hiểu đề và tìm ý.
Vậy, chúng ta cần xác định xem trong đề bài vấn đề nghị luận cần
hiểu đúng là gì? Có những mặt, những khía cạnh nào? Ý nghĩa là gì ?
nếu không nắm vững những điều cơ bản đó, chắc chắn người viết sẽ
lạc đề, xa đề, chẳng hạn như lạc sang loại đề lập luận chứng minh, vì
chứng minh dễ thực hiện hơn giải thích

Các bước thực hiện

Ví dụ 3: Rèn cho học sinh các phương pháp, kĩ năng làm bài văn
giải thích
Việc xác lập luận điểm cho bài văn giải thích giúp người làm
văn đúng hướng, đúng thể loại tránh lạc đề, thiếu ý, thiếu mạch lạc.
Hướng dẫn học sinh xác lập được hệ thống luận điểm phù hợp xem
như bài văn đã thành công được một nửa. Đặt câu hỏi để tìm luận
điểm cho bài văn nghị luận là một giải pháp hiệu quả. Cần hướng dẫn
học sinh biết cách đặt và trả lời câu hỏi tương ứng với từng phần trong
bài là cách các em dễ dàng xác lập luận điểm cho bài văn. Hệ thống
câu hỏi trong bài nghị luận giải thích có ba nhóm tương ứng với ba ý
lớn của bài văn giải thích. Có thể mô tả trong bảng hệ thống và minh
họa kèm theo hai đề cụ thể sau đây:
Với hai đề bài: Giải thích thế nào là Lòng nhân hậu, vị tha (Bài 1
trang 36 sách Cánh Diều tập 1) và Giải thích câu tục ngữ “ học ăn
học nói học gói học mở”, người dạy có thể đặt và trả lời câu hỏi để tìm
hệ thống luận điểm cho phần thân bài như sau:

Các bước thực hiện
 

 Câu hỏi

 Vận dụng

 Xác lập luận điểm

vào cụ thể
 Nhóm câu

 ? Nghĩa là gì ? Câu hỏi

 ?Lòng nhân hậu, vị

 - Nhân hậu, vị tha là luôn yêu

hỏi 1

làm rõ vấn đề

tha nghĩa là gì? ? Học thương, bao dung, giúp đỡ cho mọi
ăn, học nói học gói

người

học mở là gì? Học

- Đi nhiều, giao hoà với đời sống sẽ

một sàng khôn là gì ?

học hỏi được nhiều điều bổ ích, tích
luỹ được nhiều tri thức để trưởng
thành

 Nhóm câu

 ? Vì sao? Có tác dụng

 ? Vì sao cần phải có

 - Mỗi người đều có thể mắc sai lầm

hỏi 2

gì? ý nghĩa gì đối với

lòng nhân hậu, vị tha? hoặc gặp khó khăn trong cuộc sống.

Ví dụ

cuộc sống?. Nhóm câu

? Tác dụng của nhân

Vì thế cần phải nhân hậu, vị tha mới

hỏi giải thích tầm quan

hậu, vị tha ?

mong cuộc sống ngày càng tốt đẹp. -

trọng của vấn đề với

Nhân hậu, vị tha tạo cho con người

cuộc sống.

lòng yêu thương, tha thứ, mang

Điều kiện để thực hiện
- Về phía học sinh: Cần có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. Chuẩn bị bài
trước khi đến lớp. Trau dồi khả năng tự học, tự nói ở nhà trước khi đến lớp.
- Về phía giáo viên: Cần có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, tâm
huyết với nghề. Luôn tích cực tự học, tự bồi dưỡng, trau dồi, học hỏi kinh
nghiệm giảng dạy từ đồng nghiệp, bổ sung kiến thức, kỹ năng, phương
pháp dạy học mới, tích cực sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học, khéo léó, gần
gũi học sinh để hiểu tâm tư nguyện vọng của HS, biết lắng nghe, chia sẻ,
giúp đỡ HS khi các em gặp khó khăn; tìm tòi thiết kế xây dựng bài giảng
cho phù hợp với nhận thức của HS. Bản thân giáo viên cũng là một tấm
gương về kĩ năng nói và lắng nghe học sinh.
- Về phía phụ huynh: Cần quan tâm nhiều hơn nữa trong việc phối kết hợp
giáo dục con em với nhà trường và địa phương.
- Về phía nhà trường và các cấp quản lý giáo dục: Đối với chương trình
giáo dục phổ thông mới thì mỗi lớp học cần có ti vi, máy chiếu... phục vụ
nhu cầu học tập, ngoại khóa cho học sinh.

Tính mới, sự khác biệt

Trong các bài học trước, nội dung kiến thức mà tôi rèn luyện
cho học sinh là kiểu bài làm văn nghị luận nói chung. Trong bài
viết này, tôi chủ yếu hướng dẫn học sinh kỹ năng làm bài văn nghị
luận giải thích. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới về phương pháp trong
dạy học môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở, tôi đã bổ sung, đưa ra
các giải pháp để rèn học sinh kỹ năng viết đoạn văn giải thích, kỹ
năng đưa dẫn chứng khi giải thích, kỹ năng lập dàn bài, kỹ năng
xác định và triển khai luận điểm cho bài làm văn nghị luận giải
thích.

III. Khả năng áp dụng của biện pháp:
- Biện pháp được áp dụng cho chương trình Ngữ văn lớp 6.7 bộ sách
Cánh Diều
- Biện pháp được áp dụng tại các lớp 6.7, Trường trung học cơ sở

IV. Hiệu quả, lợi ích thu được
Kết quả trước khi áp dụng biện pháp
Lớp
7C

Sĩ số
30

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

0

0

4

13,3

18

60,1

8

26,6

Kết quả sau khi áp dụng biện pháp đối với lớp 7C năm học 2023-2024
Lớp
7C

Sĩ số
30

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

01

3,3

8

26,6

17

56,8

13,3

26,6

Qua bảng thống kê trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy HS có kết quả học tập tiến
bộ rõ rệt sau khi áp dụng biện pháp này. Số học sinh có kĩ năng làm bài chưa tốt
giảm từ 26,6% xuống còn 13,3 %, ngược lại số học sinh có kĩ năng làm bài tốt
tăng từ 13,3 %lên 39,9% . Với kết quả đạt được như trên là tiền đề để tôi tiếp
tục áp dụng các kinh nghiệm đó vào rèn kĩ năng nói và nghe cho học sinh.
468x90
 
Gửi ý kiến