Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Báo cáo địa lý địa phương An Giang lớp 12A3 trường THPT Tịnh Biên Trần Vi Cường nhóm 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Vi Cường
Ngày gửi: 15h:08' 25-02-2012
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích: 0 người
Báo Cáo Thực Hành

Chủ Đề 2: Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh An Giang
Nhóm 2


Minh Thư (nhóm trưởng, thư ký)
Mỹ Hương (trình bày)
Lý Hùng
Hồng Khuyên
Hồng Lan
Ngọc Huyền
Thúy Huỳnh
Đăng Khoa (kỹ thuật)

12A3
Nội Dung:
Địa Hình
Khí Hậu
Đất
Sông Ngòi
Sinh Vật
Khoáng Sản
Thuận Lợi Và Khó Khăn
I.Địa Hình: gồm có 2 dạng chính là đồng bằng và đồi núi

1/Đồng bằng: chiếm 87% diện tích tự nhiên và là nơi tập trung tới 89% dân cư toàn tỉnh
Đồng bằng phù xa ờ tỉnh An Giang là một bộ phận của Đồng bằng sông Cửu Long, với các đặc trưng sau:
độ nghiên nhhỏ và theo hai hướng chính, hướng từ biên giới Việt Nam và Cam-Pu-Chia đến lộ Cái Sắn, và hướng từ bờ sông Tiền đến giáp ranh tỉnh Kiên Gaing. Độ dốc của hai hướng này từ 0,5 cm/km đến 1cm/km.
Độ cao khá thấp và tương đối bằng phẳng. Cấp có độ cao dưới 1,5m phổ biến nhất.
Đồng bằng hiện còn bị chia cắt bởi hệ thống kênh đào, các tuyến giao thông đường bộ, hệ thông đê bao và các khu dân cư tập trung. Ở An Giang, có thể chia làm hai loại đồng bằng:
a/ Đồng bằng phù sa: gồm 2 khu vực
- Khu vực I: nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, thuộc các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới có dạng cù lao và lòng chảo; cao ở hai gờ sông, thấp dần ờ giữa. Đất chủ yếu là đất cát pha đến thịt nhẹ, thích hợp trồng lúa ,ngô, cây ăn quả....
- Khu vực II: nằm giữa hữu ngạn sông Hậu, thuộc châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn , thị xã Châu Đốc, thành phố Long Xuyên, có một phần nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên. Địa hình hơi nghiêng, cao từ bờ sông Hậu, thấp dần vào nội đồng về phía Kiên Giang. Đất chuyển từ thịt nhẹ đến đất sét, thích hợp trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả.
b/ Đồng bằng ven núi: thuộc Tri Tôn, Tịnh Biên, hình thành trong quá trình phong hoá và xâm thực từ các núi đá, độ cao trung bình từ 5 – 10m, hẹp, độ dốc nhỏ. Hiện nay các đồng bằng ven núi ãa được khai thác hết để trồng lúa, màu, cây ăn quả.....
2/ Đồi núi thấp: chiếm 13% diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố ở Tri Tôn, Tịnh Biên. Đây là nét nổi bật của An Giang so với các tỉnh còn lại của ĐBS Cửu Long.
Dạng núi cao và dốc có nguồn dốc từ mắc-ma là chính; phần lờn là đá cứng. Dạng núi thấp và thoải có nguồn gốc trầm tích và phun trào.
khu vực bảy núi(hay còn gọi là Thất Sơn) gồm các núi: Năm Giếng, núi Két, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Nước, núi Cô Tô tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.
Đất đai của vùng chủ yếu là đất xám, nghèo dinh dưỡng, thoát nước mạnh, dễ bị khô hạn và xói mòn, chủ yếu trồng cây ăn quả và trồng rừng.
3/Cù lao sông:
-khái niệm: là phần đất phát triển ngang được nhô ra do dòng sông dịch chuyển hướng dòng chảy d0i nơi khác.
-Đặc điểm: ở giữa cao và thấp ở 2 bên bờ, như cù lao mỹ Hoà Hưng (Long Xuyên), cù lao Bình Thủy (Châu Phú), cù lao Giêng ( Chợ Mới), cù lao Ma (Tân Châu),...
- thànnh phần đất chủ yếu là cát thô với bột sét mịn. Nơi có cơ cấu cây trồng rất đặc biệt, gồm các loại cây ăn trái và màu


12A3

II. KHÍ HẬU
1/Đặc điểm chung
An Giang nằm ở vĩ độ thấp, có khí hậu nhiệt đới gió mùa thể hiện tính chất cận xích đạo. Trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa, có ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư.

2/Tính Chất Nhiệt Đới Ẩm, Gió Mùa
a/ Nhiệt độ
Nền nhiệt độ cao và ổn định ở 27oC. lượng bức xạ tương đối lớn, tổng lượng nhiệt trung bình năm là 10 000oC. Tổng giờ nắng trung bình năm trên 2400 giờ.
lượng mưa
- Độ ẩm trong năm cao trên 80%. Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1200 – 1300mm
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm.
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, ít mưa, chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa cả năm.



3. chế độ gió mùa
- Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió tín phong Bắc bán cầu thổi theo hướng đông bắc, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết trong dáng ít mưa.
- Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam mang không khí biển nhiệt đới và xích đạo vào, lượng mưa ẩm dồi dào, gây mưa nhiều, cao nhất vào các tháng 8, 9, 10.
- An Giang là tỉnh nằm trong nội địa, ít chịu ảnh hưởng của bão.
12A3
III. Đất Đai
1/ Các loại đất chính
An Giang có diện tích tự nhiên là 353676 ha. Theo đặc điểm thổ nhưỡng và nguồn gốc phát sinh, An Giang có 37 loại đất khác nhau, trong đó có thể chia thành 3 nhóm chính: nhóm đất phù sa, nhóm đất đồi núi, nhóm đất phèn.
a/ Đất phù xa
Nhóm đất phù sa chiếm 72,5% diện tích đất tự nhiên.
Phân bố chủ yếu ở các huyện An Phú, Tân Châu, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, một phần ở thị xã Châu Đốc và TP. Long Xuyên. Đất do phù sa sông Hậu và sông Tiền bồi đấp, hàm lượng dinh dưỡng cao, thích hợp trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả
Trong nhóm đất phù sa thì nhóm đất cồn bãi chủ yếu ven sông Tiền, sông Hậu và một phần nhỏ trên sông Vàm Nao. Toàn tỉnh gồm có 22 cồn sông.
+ cồn trong giai đoạn hình thành và phát triển là: cồn Béo, cồn Tiên ở Vĩnh Hòa, cồn Khánh Bình ở xã Khánh Hòa,…
+ những cồn được hình thành lâu đời và có diện tích lớn : cù lao Ông Hổ, cù lao Phó Ba, cù lao Bình Thủy,…
b/ Nhóm đất phèn
chiếm 18,9% diện tích đất tự nhiên, phân bố nhiền ở vùng tiếp giáp tỉnh Kiên Giang thuộc tứ giác Long Xuyên. Vùng đất này xa sông nên được bồi tụ ít, nhiễm phèn nhiều, thành phân chủ yếu là sét, cát mịn.


c/ Nhóm đất đồi núi
chiếm 8,6% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ ở Thoại Sơn. Đây là nhóm đất dược hình thành từ quá trình phong hóa, xâm thực các đồi núi đá. Đất xám, chua, nghèo dinh dưỡng thích hợp trồng cây ăn quả, trồng rừng.
12A3
IV. SÔNG NGÒI KÊNH RẠCH
1/ Các con sông chính
a/ Sông Tiền
Đoạn qua An Giang dài 82km qua các huyện Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới.
Sông Tiền là trục giao thông thủy quan trọng nhất, là nguồn cung cấp nước và phù xa lớn nhất, đồng thời cũng là con sông có chế độ dòng chảy và diễn biến lòng sông phức tạp nhất.
b/ Sông Hậu
Chảy song song với sông Tiền. Đoạn qua An Giang dài 100km qua Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, Long Xuyên.
Đây là tuyến giao thông thủy quan trọng nối liền trung tâm tỉnh với các huyện, thị xã khác, đồng thời là nguồn cung cấp nước và phù xa chủ yếu cho vùng tứ giác Long Xuyên.
c/ Sông Vàm Nao
Sông chảy ven thị trấn Phú Mỹ, xã Tân Trung (huyện Phú Tân), xã Kiến An, Mỹ Hội Đông (huyện Chợ Mới) theo hướng đông bắc – tây nam.
Có chiều dài 7km nối sông Tiền và sông Hậu, có tác dụng làm cân bằng dòng chảy giữa sông Tiền và sông Hậu.
d/ Sông Bình Di và Sông Châu Đốc.
Sông Bình Di tại xã Khánh Bình thị trấn An Phú, dài 10km
Sông Châu Đốc dài 18 km
Sông ở Bình Di và sông ở Châu Đốc có độ rộng trung bình là 150m, độ sâu trung bình là 7m, có chỗ sâu tới 25m như tại khu vực xã Khánh Bình và thị xã Châu Đốc.

2. Các kênh, rạch, hồ
a/ Rạch tự nhiên
Rạch Long Xuyên, dài 28km, bắt đầu từ sông Hậu tại thánh phố Long Xuyên chảy theoi hướng đông bắc – tây nam và đổ ra cửa Rạch Giá (Kiên Giang). Đây là tuyến giao thông thủy quan trọng và là một trong những trục tưới tiêu chính của An Giang nói riêng và cả vùng tứ giác Long Xuyên nói chung.
Rạch Ông Chưởng dài 20km, lấy nước từ sông Tiền ngay tại đầu thị trấn Chợ Mới, chảy theo hướng đông bắc – tây nam, cuối cùng đổ vào sông Hậu ở cù lao Mỹ Hòa Hưng. Đây là tuyến giao thông thủy hoạt động quanh năm và là một trục tưới tiêu chính của huyện Chợ Mới
Ngoài ra còn có các rạch tự nhiên như: Cái Tắc, Cái Đầm (Phú Tân), Mặc Cần Dưng, Chắc Cà Đau (Châu Thành), Cần Thảo (Châu Phú)
b/ Kênh đào
Kênh Thoại Hà, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng tây nam, đổ ra vịnh Thái Lan tại cửa Rạch Giá.
Kênh Vĩnh Tế, dài 91km, bắt đầu từ tả ngạn sông Châu Đốc tới sông Giang Thành ở thị xã Hà Tiên (Kiên Giang).
Kênh vĩnh An, dài 17km, là trục giao thông thủy nối liền giữa hai trung tâm thương mại Tân Châu và Châu Đốc.
Ngoài ra còn có các con kênh đào lớn khác có giá trị kinh tế cao như: kênh Thần Nông (huyện Phú Tân), kênh Trà Sư (huyện Tịnh Biên).
c/ Hồ
Một số hồ tự nhiên và hồ nhân tạo cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, góp phần cải tạo môi trường sinh thái như: hồ Nguyễn Du (TP. Long Xuyên), hồ Soài So (huyện Tri Tôn), hồ An Hảo, Ô Tức Sa (huyện Tịnh Biên),….
12A3
V. SINH VẬT
1/Thực vật
Có 583 ha diện tích từng tự nhiên và 14034 ha diện tích rừng trồng, tập trung chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên.
Có nhiều loài cậy quý như: căm xe, dầu, sao, kiền kiền, cẩm lai, …
Ngoài ra còn có diện tích rừng chàm phát triển ở cùng đất ngặp nước thuộc Tri Tôn, Tịnh Biên…
Giúp điều hòa khí hậu, cản dóng chảy, giúp tồn đọng phù sa, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái…
2/ Động vật
a/ Động vật tự nhiên
Có các loài chim, cò như: chim sẻ, chích chòe, sáo, cò trắng, cò lủa, cuốc…
Ngoài ra còn có các loài thủy sinh như tôm càng xanh, cá tra, cá bông lau, cá lóc, cá linh, cá rô….
b/ Hệ động vật nuôi
Chủ yếu là nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt, đà điểu, cá sấu, baba, tôm…
phất triển nghề nuôi cá bè, cá hầm, nuôi cá trong chân ruộng lúa….
VI. KHOÁNG SẢN
1/ Vật liệu xây dựng
Đá gra-nit trữ lượng khoảng 11 triệu m3, phân bố ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn. Chủ yếu được dùng làm đá trải đường, đá xây dựng, đổ bê tông, đá ốp lát,…
Đất sét gạch ngói với trữ lượng 40 triệu m3, phân bố ở Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới. Chủ yếu được dùng trong sản xuất gạch ngói.
Cát xây dựng: cát vàng phục vụ cho xây dựng ở Tân Châu. Tổng lượng khai thác hàng năm gần 2 triệu m3, trên sồng Tiền và sông Hậu.
2/ Than bùn: Trữ lượng khoảng 16,4 triệu tấn, phân bố ở Tịnh Biên, Tri Tôn, đáp ứng nhu cầu sản xuất phân hữa cơ vi sinh, a xic hu –mic.

3/ Cao lanh: trữ lượng 2.5 triệu tấn, tập trung ở Tri Tôn. Đây là nguồn vật liệu làm sứ cách điện cao cấp.

4/ Quặng mô-lip-đen: trử lượng 11 triệu m3 được người nhật khai thác cách đây hơn 40 năm ở núi Sam, ngoài ra còn có ở núi Trà Sư, núi Két.
5/ Đi-a-tô-mit: trữ lượng 800 000 – 1000 000 tấn. Phân bố ở xã Lê Trì huyện Tri Tôn.

6/ Nước Khoáng thiên nhiên: dọc theo trục đứt gãy phân núi Phú Cường và núi Dài, núi Cấm, và núi Dài có 6 điểm lo655 nước khoáng: núi Cậu, An Cư nằm về phía bắc núi Phú Cường, Soài Chết, suối Vàng, Sà Lôn và Tà Pạ. Tại các điểm này, nước có tổng độ khoáng hòa từ 500mg/l đến 2750mg/l
12A3
Thuận Lợi:
- Điạ hình đồng bằng phù sa màu mỡ => phát triển nông nghiêp
Khí hậu: cận xích đạo có mùa khô kéo dài thuận lợi cho việc phơi sấy sản phẩm, bảo quản nông sản.
- Sông ngòi, kênh rạch dày đặt =>cung cấp nước tưới tiêu, sinh hoạt, giao thông đường biển, nuôi trồng thủy sản, bồi đấp phù sa.
- Tài nguyên khoáng sản phong phú => phát triển KT-XH

Khó Khăn
- Thiên tai lũ lụt han hán dễ gây dịch bệnh
Mùa khô kéo dài gây thiếu nước.
Chúc Buổi Báo Cáo Thành Công
 
Gửi ý kiến