Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

báo cáo tự nhiên biển Đông

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tấn Cúc
Ngày gửi: 08h:07' 25-10-2010
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 86
Số lượt thích: 0 người
Học phần
ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN BIỂN ĐÔNG
GVHD: TS Lê Năm HVTH: Lê Thị Hường
Lớp Địa Lý Học K18
Mở đầu
Nội dung
- Cơ sở lý luận
+Một số khái niệm
+Phạm vi
+Mục tiêu phát triển
- Thực trạng
+Thành tựu
+Hạn chế
- Định hướng và giải pháp quy hoạch phát triển
Kết luận
Vịnh Bắc Bộ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có hơn 3200km bờ biển, nước ta là một quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp từ các chiến lược khai thác biển của các nước trên thế giới và nhất là của các nước trong khu vực. Trong thế kỷ 21 - thế kỷ của Biển. Các dân tộc đua nhau ra biển, giành giật lợi ích từ biển. Các quốc gia có biển đều xây dựng chiến lược khai thác biển cho mình.
Biển Đông liên hệ đến sự sống còn của dân ta. Các nguồn tài nguyên và môi trường biển và vùng bờ của đất nước có tầm quan trọng trực tiếp đối với hàng chục triệu người dân nông thôn, đặc biệt đối với hơn 17 triệu dân sống ở các huyện ven biển và các đảo ven bờ. Cho nên, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực bảo vệ và quản lý vùng bờ theo hướng hiệu quả và bền vững, với quan điểm là "nguồn lợi biển và tài nguyên bờ phải được sử dụng dài lâu " vừa thoả mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức chống chịu của các hệ sinh thái, vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Vịnh Bắc Bộ là một trong số các vịnh lớn ,có vai trò - vị trí quan trọng trong biển Đông. Nó gắn liền với quá trình phát triển kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đặc biệt là vai trò quan trọng trong mối quan hệ với Trung Quốc và các nước ASEAN. Do đó việc nghiên cứu, tìm hiểu, đề xuất “Định hướng phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ” là cần thiết

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
+ . Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội (Raanan Weitz, 1995)
+. Quy hoạch phát triển là sự sắp xếp cân nhắc tính toán tìm ra giải pháp tối ưu để nhằm đạt được kết quả cao (mục đích đã đặt ra) hay chính là một hệ thống các biện pháp về tổ chức, biện pháp về kinh tế - kỹ thuật, các chính sách pháp luật, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần.
=>Hai vấn đề trên có liên quan chặt chế với nhau và tác động lẫn nhau, muốn phát triển thì phải có quy hoạch phát triển. Trong cộng đồng xã hội sự phát triển của mỗi cá nhân mỗi tổ chức đều ảnh hưởng tới các cá thể khác trong cộng đồng và sẽ ảnh hưởng chung toàn xã hội hoặc toàn quốc gia. Ngược lại những chủ trương đường lối chính sách của chính phủ về sự phát triển của một quốc gia đều có ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân, tổ chức trong xã hội
2. PHẠM VI CỦA VĐKTVBVBB
Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ là khu vực hợp tác kinh tế giữa các địa phương của Việt Nam và Trung Quốc nằm xung quanh vịnh Bắc Bộ. Đây là một bộ phận của chương trình hợp tác kinh tế "hai hành lang, một vành đai".
=>Phạm vi của vành đai này bao trùm:
- Ba thành phố cấp địa khu của tỉnh Quảng Tây Trung Quốc gồm: Bắc Hải , Khâm Châu , Phòng Thành Cảng 
- Một thành phố cấp địa khu của tỉnh Quảng Đông là Trạm Giang 
- Tỉnh đảo Hải Nam 
- 10 tỉnh, thành Việt Nam gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vàQuảng Trị.
Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ phần thuộc lãnh thổ Việt Nam gồm hai tỉnh, thành phố có tuyến vành đai kinh tế đi qua là Quảng Ninh và Hải Phòng, có diện tích tự nhiên 7.418,8 km2, dân số gần 2,9 triệu người, chiếm 2,24% diện tích tự nhiên và 3,44% dân số cả nước
3. KHÁI QUÁT TIỀM NĂNG CỦA VĐKTVBVTB
- Hải Phòng là trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam nằm trên vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ. Từ lâu, Hải Phòng đã là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc Việt Nam, cửa ngõ thông ra biển của toàn bộ khu vực phía Bắc đất nước. Cụm cảng Hải Phòng có tổng chiều dài cầu cảng trên 5.000m, có khả năng tiếp nhận tàu trên vạn tấn, có 10 cảng chuyên dụng hàng lỏng (xăng, dầu, khí hoá lỏng...), 5 cầu cảng container... Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt rất thuận lợi, nối thông với Hà Nội, Lào Cai, Lạng Sơn. Hải Phòng là điểm nút nằm trên cả “hai hành lang, một vành đai” kinh tế. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đường hàng không nối với các thành phố khác của Việt Nam.
- Hạ Long (Quảng Ninh) là một trong những trung tâm kinh lớn trên Vành đai kinh tế Vịnh Bắc bộ của Việt Nam, có hệ thống cảng biển lớn như Cái Lân, Cửa Ông… có cầu tàu nước sâu trên vạn tấn. Đây cũng là khu vực có công nghiệp khai thác than lớn nhất đất nước, với tổng trữ lượng 3,5 tỷ tấn, cho phép khai thác 30 - 40 triệu tấn/năm (ít nhất cũng khoảng 25 triệu tấn/năm). Đặc biệt, Hạ Long là một trung tâm du lịch rất nổi tiếng, với Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, hàng năm đón hàng triệu lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan, nghỉ mát.
Một
góc
Thành
phố
Hải
Phòng
4. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

4.1. Mục tiêu chung

Phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ thành khu vực kinh tế năng động, có sức thúc đẩy cả vùng Bắc Bộ và trở thành động lực trong hợp tác phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật với Trung Quốc và các nước ASEAN, đồng thời kết nối với các khu vực ven biển khác trong cả nước tạo thành một vành đai kinh tế ven biển phát triển nhanh, thúc đẩy và gắn kết với các vùng khác trong nội địa cùng phát triển.
4.2. Mục tiêu chủ yếu
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông trong vành đai kinh tế, đặc biệt là tuyến trục chính ven biển từ Móng Cái đến Đồ Sơn và các cảng biển, sân bay... để nối kết với hai hành lang kinh tế Việt - Trung và khu vực ven biển Nam Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế, tạo điều kiện mở rộng giao thương và hợp tác phát triển với Trung Quốc và ASEAN một cách chủ động, hiệu quả.
- Tập trung phát triển vùng động lực và các đô thị trung tâm dọc vành đai kinh tế, tạo sự bứt phá thúc đẩy toàn vành đai kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tương xứng với vùng ven biển Nam Trung Quốc.
- Hình thành và phát triển một số ngành kinh tế chủ lực gồm du lịch biển – đảo cao cấp, đóng tàu, nhiệt điện, khai khoáng, hóa dầu, nuôi trồng và chế biến thủy sản… đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế gấp 1.4-1.5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP cả nước.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VÙNG KTVBVBB
1.Thành tựu
Trong quy hoạch phát triển đến năm 2020 của Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ theo Quyết định 34/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quảng Ninh - Hải Phòng là 2 chủ thể chính trong chiến lược này được xác định là điểm kết nối với 2 hành lang kinh tế Việt - Trung và khu vực biển Nam Trung Quốc.
Quảng Ninh - Hải Phòng chính là đầu mối để tạo điều kiện mở rộng giao thương và hợp tác phát triển giữa Việt Nam với Trung Quốc và ASEAN một cách chủ động, hiệu quả. Theo Quyết định 34, phấn đấu đến năm 2020 vành đai kinh tế này đóng góp khoảng 6,5-7% GDP cả nước. Sớm nắm bắt chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngay từ năm 2005, Quảng Ninh - Hải Phòng đã chủ động xây dựng chương trình hợp tác phát triển toàn diện.
Để phát huy vai trò là 2 cực tăng trưởng quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, từ năm 2005 đến nay Quảng Ninh - Hải Phòng đã duy trì tốt việc hợp tác phát triển toàn diện trên các lĩnh vực
Lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng ký kết chương trình hợp tác giai đoạn 2009 – 2015
* Trong công tác lãnh đạo
chỉ đạo của 2 địa phương thường xuyên có sự trao đổi thông tin, có sự chú trọng đến chính sách quy hoạch, kế hoạch, định hướng đầu tư để mỗi bên phát huy lợi thế. Đón nhận tinh thần chỉ đạo này các doanh nghiệp Quảng Ninh - Hải Phòng tiến hành thành lập các chi nhánh, mở văn phòng đại diện, thực hiện liên doanh liên kết đầu tư.
Tại Quảng Ninh đã có nhiều doanh nghiệp của Hải Phòng tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh như: Nhà máy Cơ khí chế tạo Hà Lân, Công ty Sao Vàng, Công ty TNHH Thuỷ sản Nam Hải, Công ty TNHH Vạn Tường…
* Trên lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch
có sự hợp tác khá toàn diện trong đó việc khai thác tiềm năng du lịch của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rất được chú trọng.
Một trong những điểm nhấn của ngành du lịch Quảng Ninh và Hải Phòng được nhắc đến nhiều nhất vẫn là du lịch biển. Với những giá trị đặc sắc đã được UNESCO công nhận, Vịnh Hạ Long của Quảng Ninh và đảo Cát Bà của Hải Phòng đã thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn.
  Sức hấp dẫn của du lịch Quảng Ninh và Hải Phòng được thể hiện qua kết quả hoạt động kinh doanh với tốc độ tăng trưởng đi lên ở mỗi năm. Theo số liệu thống kê được công bố tại hội nghị đánh giá kết quả hợp tác giữa 2 địa phương vừa tổ chức dịp tháng 8/2009 ở Hạ Long, tổng lượng khách du lịch của hai địa phương đạt 8,2 triệu lượt trong năm 2008. Trong đó, khách du lịch quốc tế 3,1 triệu lượt; khách lưu trú 2,4 triệu lượt. Tổng doanh thu đạt 3.560 tỷ đồng
Vịnh hạ Long
Khu du lịch Đồ Sơn- Hải Phòng
khu du lịch nước suối khoáng nóng Tiên Lãng – Hải Phòng
* Trên lĩnh vực công nghiệp
Sở Công Thương (Quảng Ninh) đã tạo điều kiện cho Công ty Xi măng Hải Phòng triển khai dự án khai thác sét núi Na (Yên Hưng) làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng.
Hiện Công ty đang làm thủ tục để tiến hành khai thác đá tại mỏ đá Phương Nam (Uông Bí). Các đơn vị của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đảm bảo cung cấp khoảng 303.000 tấn than/tháng cho hoạt động của Nhà máy Phân bón DAP và Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng.
Tổng Công ty Tàu thuỷ Phà Rừng - Nam Triệu đã đẩy mạnh đầu tư vào địa bàn huyện Yên Hưng và đã có dự án đầu tư cụ thể như đầu tư mở rộng sản xuất của Công ty CP Công nghiệp tàu thuỷ Sông Chanh, đầu tư sản xuất nhà máy thuỷ và đóng tàu Đồng Bái…

* Trong lĩnh vực giao thông vận tải
Việc kết nối tuyến đường 18 với đường 5, tuyến phà Gia Luận - Tuần Châu nối TP Hạ Long với huyện Cát Hải là một minh chứng cụ thể cho sự hợp tác giao thông vận tải giữa Quảng Ninh và Hải Phòng. Hai bên đã phối hợp quy hoạch hệ thống bến xe, bến tàu vận tải hàng hoá, hành khách, tạo điều kiện để các doanh nghiệp Hải Phòng xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới Việt - Trung. Hai bên thống nhất bố trí sắp xếp và điều hành hoạt động của các bến xe, tuyến xe khách đi lại giữa 2 địa bàn.
Mỗi ngày có trên 200 chuyến xe chuyên chở khoảng 2.300 lượt khách, 2 chuyến tàu thủy chờ khoảng 100 lượt khách đi lại giữa 2 tỉnh, thành phố. Để tăng thêm sự gắn bó bền chặt, hữu cơ giữa 2 địa phương tại hội nghị hợp tác 5 tỉnh, thành phố Việt - Trung đã thống nhất thông qua Biên bản ghi nhớ hội nghị việc thúc đẩy, nâng cao năng lực tuyến đường bộ, đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Đặc biệt là quá cảnh từ cảng Hải Phòng, Quảng Ninh sang Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) và ngược lại qua cửa khẩu Lào Cai và cửa khẩu Móng Cái.
Trong tương lai khi Khu công nghiệp Đầm Nhà Mạc trên địa bàn huyện Yên Hưng giáp ranh với cảng Lạch Huyện của TP Hải Phòng hoàn thành sẽ hợp lực tạo thành một khu vực phát triển động lực trong vùng.
=> Hợp tác phát triển giữa Quảng Ninh - Hải Phòng không chỉ khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương mà còn thể hiện rõ vai trò là hai cực tăng trưởng quan trọng trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ
Trong chương trình hợp tác phát triển giai đoạn 2009- 2015, 2 địa phương tiếp tục nghiên cứu việc đầu tư đa ngành, liên ngành trên các lĩnh vực cả 2 cùng có lợi thế như cảng biển, hạ tầng du lịch, giao thông, công nghiệp… Đáng chú ý là hợp tác quốc tế nhằm khai thác hiệu quả tuyến đường vận chuyển hàng hoá Côn Minh (Trung Quốc) - Quảng Ninh - Hải Phòng thông qua hệ thống cảng biển từ Trung Quốc vào các nước ASEAN và ngược lại được đặc biệt chú trọng.
Theo chương trình hợp tác đã được ký kết, hai bên sẽ cùng triển khai đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các trục giao thông ven biển như: Móng Cái Hạ Long - Hải Phòng - Ninh Bình; các tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài - Hạ Long để đưa vào sử dụng trước năm 2015; nghiên cứu xem xét việc xây dựng tuyến cao tốc Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình để kết nối với vành đai kinh tế các tỉnh phía Nam, mạng cao tốc trong cả nước cũng như hệ thống đường cao tốc ven biển Nam Trung Quốc…
Với điều kiện cơ sở hiện có trên lĩnh vực du lịch, 2 địa phương sẽ xây dựng đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng du lịch. Trong bối cảnh hiện nay, khi triển khai thực hiện chiến lược biển Việt Nam và Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, hợp tác giữa Quảng Ninh và Hải Phòng không còn mang ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giữa 2 địa phương mà còn là đầu tàu kéo theo sự phát triển năng động của cả vùng kinh tế khu vực phía Bắc, hướng đến hiệu quả lâu dài và toàn diện của trục kinh tế ven biển, của đất nước hướng mặt ra biển Đông.
2. Hạn chế
- Có vị trí trọng yếu, nhưng việc khai thác nguồn lợi gần bờ Hải Phòng - Quảng Ninh chưa tương thích, đảm bảo theo hướng bền vững. Môi trường vùng bờ Hải Phòng - Quảng Ninh có chiều hướng biến đổi theo hướng xấu, tài nguyên cạn kiệt, tác động bất lợi mục đích phát triển lâu dài, an sinh xã hội trong vùng. Trong đó, nguy cơ xói lở bờ biển, lũ lụt, suy thoái hệ sinh thái, ô nhiễm, giảm sút đa dạng sinh học và giá trị bảo tồn thiên nhiên đáng lo ngại.
- Vùng bờ Hải Phòng - Quảng Ninh có vai trò, chức năng quan trọng với các loài và đa dạng sinh học, nơi cung cấp thủy sản, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, dịch vụ cảng biển, hàng hải, khai khoáng, đồng thời là chỗ dựa sinh kế của các cộng đồng dân cư ven biển…
Thời gian qua, vùng bờ này chỉ quản lý theo ngành, theo từng vấn đề môi trường, tài nguyên riêng rẽ, nảy sinh mâu thuẫn lợi ích trong phát triển. Việc phát triển nuôi trồng thủy sản lồng bè trên biển Cát Bà mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết nhiều việc làm, tạo sản phẩm cho xã hội. Nhưng do phát triển tràn lan, thiếu quy hoạch, quản lý chưa theo kịp thực tế, dẫn tới ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng hoạt động du lịch, gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học biển.
- Hoạt động hàng hải góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, phục vụ xuất nhập khẩu, nhưng gây ra những hệ lụy về môi trường do sự cố tràn dầu, hành vi xả chất thải công nghiệp, sinh hoạt ảnh hưởng xấu đến hệ sinh vật đáy biển.

- Việc khai thác bừa bãi san hô, các nhóm vỏ xác ở vùng biển gần bờ phục vụ dịch vụ du lịch, nhưng lại phá vỡ sự bền vững của tầng đáy mà phải mất nhiều năm mới tái tạo lại được. Đây là những mâu thuẫn cần được giải quyết trong thời gian tới đối với công tác quản lý, khai thác nguồn lợi vùng bờ Hải Phòng - Quảng Ninh.

- Kinh tế biển nói chung và vùng bờ nói riêng ở Hải Phòng - Quảng Ninh phát triển với quy mô chưa tương xứng tiềm năng, lợi thế và còn nhiều hạn chế, thách thức. Sức cạnh tranh dịch vụ cảng biển thấp, hệ thống cảng biển, kho bãi phát triển thiếu quy hoạch, manh mún, kết nối giao thông đường sắt, bộ, thủy nội địa, hàng không thiếu đồng bộ, nguy cơ quá tải
- Ngành vận tải biển phát triển chậm so với tốc độ tăng trưởng hàng hóa XNK; quy mô đội tàu nhỏ, cơ cấu chưa hợp lý.
Giao thông thiếu đồng bộ từ quy hoạch đến đầu tư cơ sở hạ tầng, vận tải sắt, bộ, thủy nội địa năng lực yếu, chưa được quan tâm đúng mức, khối lượng vận tải chủ yếu qua đường bộ, nguy cơ mất ATGT, ô nhiễm môi trường.
Ngành đóng tàu phát triển nóng, chủ yếu là gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, hiệu quả sử dụng đất chưa cao, nguy cơ ô nhiễm môi trường.
- Ngành thủy sản hạn chế ở cả ba lĩnh vực, chưa phát huy lợi thế, khai thác xa bờ yếu, nuôi biển và nuôi công nghiệp chưa mạnh, chế biến chưa gắn với phát triển nguồn nguyên liệu.
- Du lịch phát triển chậm, hạ tầng thiếu, yếu, sản phẩm chưa phong phú, hoạt động du lịch chưa có hình thức phù hợp với thời tiết, khí hậu phía Bắc.
III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Lộ trình thực hiện quy hoạch
+ Giai đoạn 2009 – 2010. Hình thành cho được một số lãnh thổ động lực; xây dựng một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế; xúc tiến thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước vào các công trình trọng điểm, vùng động lực… tạo điều kiện để phát triển nhanh trong giai đoạn sau.
+ Giai đoạn 2011-2020. Tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế. Xây dựng xong những hạng mục quan trọng trong các khu kinh tế, KCN. Xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào hoạt động Đặc khu kinh tế song phương Móng Cái, sân bay Vân Đồn, các khu du lịch, các trung tâm vui chơi giải trí cao cấp… để phát triển tăng tốc trong giai đoạn sau 2020
2. Định hướng, phát triển các vùng động lực
- Tập trung xây dựng hoàn chỉnh trục giao thông nòng cốt như tuyến giao thông ven biển Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng-Ninh Bình.
Đồng thời, xem xét việc xây dựng tuyến cao tốc Quảng Ninh-Hải Phòng - Ninh Bình để kết nối Quảng Ninh với Hải Phòng và kết nối VĐKT với các tỉnh phía Nam, mạng cao tốc trong cả nước cũng như hệ thống đường cao tốc ven biển Nam Trung Quốc.
- Quy hoạch yêu cầu, chú trọng phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp quan trọng... để tạo thành một dải vùng động lực.
Điển hình như phát triển Khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh) với chức năng chính là Khu du lịch sinh thái biển - đảo chất lượng cao tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Quy hoạch xây dựng khu kinh tế Vân Đồn - Quảng Ninh
Khu công nghiệp Đình Vũ – Cát Hải
- Phát triển Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng) thành một trong những trung tâm kinh tế giao thương quốc tế hiện đại của Vùng Bắc Bộ và cả nước, đồng thời là cửa mở ra biển chủ yếu của 2 hành lang, một vành đai kinh tế.

- Phát triển Khu công nghiệp Hải Hà (Quảng Ninh) thành khu trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn; thành phố Hải Phòng thành Trung tâm dịch vụ cảng và vận tải biển lớn, hiện đại, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới; thành phố Hạ Long thành Trung tâm phát triển của VĐKT. Lấy phát triển du lịch và dịch vụ làm trọng tâm để thúc đẩy các ngành khác và hạn chế dần khai thác than công nghiệp.

- Tương tự, xây dựng thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái, là điểm khởi đầu của VĐKT. Đây sẽ là Trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và là Trung tâm công nghiệp chế biến, chế tác và lắp ráp xuất khẩu.
Một góc Khu kinh tế Vân Đồn
3. Định hướng phát triển các ngành kinh tế chủ đạo
- Ưu tiên phát triển ngành công nghiệp cơ bản, then chốt, các ngành có giá trị gia tăng cao, kết hợp với phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp khoảng 18-19%. Đến năm 2020, cơ bản vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ có nền công nghiệp lớn và hiện đại trong khu vực.
- Tập trung nguồn lực và chính sách ưu đãi cho một số ngành như công nghiệp than, nhiệt điện, đóng tầu, cơ khí chế tạo...
Cụ thể:
+ Về công nghiệp than: quản lý chặt chẽ tình trạng khai thác than trái phép, đồng thời giảm dần xuất khẩu than.
+ Đối với công nghiệp điện: đẩy nhanh tiến độ thi công và đưa vào hoạt động các nhà máy Uông Bí II, Cẩm Phả I, II
+ Về công nghiệp đóng tàu: Tiếp tục nâng cấp và mở rộng các nhà máy đóng tàu Phà Rừng-Bạch Đằng, Nam Triệu. Hoàn thiện Khu công nghiệp đóng tàu Cái Lân, nhà máy đóng tàu Hạ Long nhằm đáp ứng từ 80-85% nhu cầu sửa chữa tầu sông của Vùng Bắc Bộ và 40-50% nhu cầu đóng mới, sửa chữa của cả nước.

+ Các ngành công nghiệp khác: Phát triển công nghiệp chế biến nông – thủy sản, xây dựng một số cơ sở chế biến hiện đại, tạo các sản phẩm chất lượng cao cung cấp cho các đô thị, khu du lịch trong vành đai và xuất khẩu.
Chuần bị điều kiện để sau năm 2010 triển khai xây dựng nhà máy hóa lọc dầu trong vành đai kinh tế (Tại khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải hoặc khu công nghiệp Hải Hà)
+ Du lịch: VĐKT chú trọng phát triển du lịch nhanh và bền vững đặc biệt là khu du lịch Hạ Long; khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí Đồ Sơn; khu du lịch sinh thái nghr dưỡng cao cấp đảo Cát Bà gắn với khu du lịch Hạ Long. Đến năm 2010, thu hút khoảng 7,5 triệu lượt khách du lịch.
+ Về thương mại - dịch vụ: phát triển mạnh dịch vụ vận tải đường thủy, khai thác tối đa lợi thế “cửa mở” để phát triển đa dạng các dịch vụ cảng và vận tải biển.
=>phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên vành đai kinh tế tăng bình quân trên 20% (giai đoạn 2011-2020).
+ Ngành thủy sản: Với lợi thế có chiều dài bờ biển, VĐKT sẽ đẩy mạnh khai thác thủy hải sản xa bờ, nhất là ở ngư trường Bạch Long Vĩ, ngư trường giữa Vịnh… nâng tỷ trọng đánh bắt xa bờ lên 65-70%. Xuất khẩu thủy sản vào năm 2010 đạt 600-700 triệu USD.
. Phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi trồng hải sản trên biển với công nghệ tiên tiến, bảo đảm vệ sinh môi trường và phát triển bền vững
. Ưu tiên phát triển mạnh nuôi cá và đặc sản biển theo hướng công nghiệp kết hợp với phát triển du lịch, nhất là ở khu vực Bái Tử Long, Cô Tô, Vân Đồn, Tiên Yên và quanh đảo Cát Bà… từng bước xây dựng ngành nuôi trồng hải sản trên biển ở vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đạt trình độ tiên tến trong khu vực.
. Xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm dịch vụ nghề cá lớn của Vịnh Bắc Bộ, Trung tâm sản xuất giống, sản xuất thức ăn, Trung tâm KH _ KT , chế biến, thương mại và xuất khẩu thủy sản của vùng Bắc Bộ
4. Giải pháp phối hợp chung giữa hai nước
- Phối hợp lập quy hoạch chung về phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên lãnh thổ của cả 2 nước
- Đẩy nhanh kế hoạch hợp tác xây dựng hệ thống giao thông trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ như tuyến đường cao tốc Hải Phòng - Hạ Long – Móng Cái; Hà Nội – Hải Phòng; Hà Nội – Hạ long….
- Hợp tác đẩy mạnh tự do hóa thương mại và tiện lợi hóa thông quan. Hai bên cùng tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy tự do hóa thương mại trong VĐKTVBVBB
……………
5. Các giải pháp riêng đối với Việt Nam
- Tạo bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là lao động trẻ tại chỗ, nhất là cho các ngành có lợi thế như khai khoáng, đóng tàu, du lịch, thủy sản …
- Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường đặc biệt là môi trường Vịnh Hạ Long, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá các thế mạnh và cơ hội đầu tư của vành đai kinh tế
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư đặc biệt là các tập đoàn lớn, doanh nghiệp lớn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh tại VĐKTVBVBB
- Khuyến khích khu vực dân cư và tư nhân đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất , nhất là trong các lĩnh vực: nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch, dịch vụ…
KẾT LUẬN
No_avatar
that la mot tai lieu tham khao hay,mot giao vien mien nui da tung la hoc vien cua tay Lê Năm
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓