Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BOI DUONG TV O TIEU HOC

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hà Thị Thuỷ
Ngày gửi: 20h:47' 13-10-2012
Dung lượng: 316.0 KB
Số lượt tải: 33
Số lượt thích: 0 người
Một số vấn đề cơ bản trong phân môn
TV ở Tiểu học.




Hà Thị Thuỷ- Tiểu học TT Tân Dân

Phần I:Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn
Tiếng Việt ở Tiểu học
Từ được cấu tạo bởi các tiếng, có kết cấu chặt chẽ. Từ bao giờ cũng có nghĩa và dùng để đặt câu.
- Nếu xét theo cấu tạo thì từ được chia thành từ đơn và từ phức.
+ Từ đơn: Là từ do một tiếng có nghĩa tạo thành.
Vdụ: mẹ, bà, cỏ, nắng, tóc, mạ, đen, trắng, mỏi, cua…
+ Từ phức: Là từ được cấu tạo từ hai tiếng trở lên ghép lại tạo thành một nghĩa chung.
Vdụ: Xe đạp, hoa loa kèn, hồng hào, đỏ đắn, ngoan ngoãn, sạch sành sanh, mảnh mai, đỏ rực…
1. Từ:
Từ phức được chia làm 2 loại nhỏ là từ ghép và từ láy.
Từ ghép: là các từ mà giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa (các tiếng đều có nghĩa).
VD: Nhà + cửa = nhà cửa, xe + đạp = xe đạp, …..
Từ láy: là các từ mà giữa các tiếng có quan hệ về mặt ngữ âm. (Hay nói cách khác có một bộ phận âm thanh được lặp lại, láy lại).
VD: ngẩn ngơ, ngoan ngoãn, õng ẹo, thơ thẩn …
Trong từ láy, có thể chỉ một tiếng có nghĩa (tiếng gốc), tiếng còn lại không có nghĩa (tiếng láy), hoặc tất cả các tiếng đều không có nghĩa (không xác định được tiếng gốc).
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

- SGK TV4 định nghĩa cấu tạo từ tỏ ra đơn giản, HS Tiểu học dễ tiếp nhận hơn, phù hợp với yêu cầu RKN sử dụng TV cho HS.
+Từ đơn là từ do 1 tiếng có nghĩa tạo thành,
+ Ghép 2 tiếng có nghĩa lại với nhau gọi là từ ghép,
+ Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần giống nhau (hoặc cả âm đầu và vần), đó là từ láy.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Lưu ý trong tiếng Việt có những từ thuần Việt như: tắc kè, bồ hóng, bồ kết… hay những từ vay mượn như: xà phòng, mít tinh... là những từ mà giữa các tiếng không có quan hệ về âm cũng không có quan hệ về nghĩa, GV không nên sử dụng làm ngữ liệu để phân tích. Trong trường hợp học sinh đưa ra giáo viên cần phân tích mặt âm, mặt nghĩa để KL. Cuối cùng, nên kết luận: Đây là một kiểu từ có cấu tạo đặc biệt, sẽ được học sau.
Các từ mà 2 tiếng có sự giống nhau về âm như: chôm chôm, thằn lằn, ba ba, thuồng luồng, đu đủ... có nhiều ý kiến khác nhau khi xác định nhưng theo định nghĩa ở tiểu học thì nên xếp vào từ láy để không làm hoang mang cho HS.
Các kiểu từ như: ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch, ỏn ẻn... đều được xem là từ láy và được giải thích là khuyết âm phụ đầu.
Các từ như cong queo, cuống quýt, kinh coong... cũng là từ láy có phụ âm đầu viết dưới dạng những con chữ khác nhau.

Để xác định đúng từ đơn hay từ phức, các em cần biết sự kết cấu chặt chẽ của từ và biết vạch danh giới giữa các từ.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Căn cứ vào số lần láy người ta chia làm 3 kiÓu từ láy là láy đôi, láy ba, láy tư.
Ví dụ: Nghiêng nghiêng, đủng đỉnh… (láy đôi)
sạch sành sanh, lú lù lù… (láy ba)
đủng đà đủng đỉnh, hớt hơ hớt hải… (láy tư)
Các kiểu từ láy
Căn cứ vào mức độ láy người ta chia làm láy toàn bộ và láy bộ phận.
Ví dụ: Nghiêng nghiêng, đêm đêm… (láy toàn bộ )
đủng đỉnh, màu mỡ, lúp xúp,… (láy bộ phận)
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Láy toàn bộ
+ Láy toàn bộ có biến đổi thanh: đo đỏ, nhè nhẹ, thinh thích, .
+ Láy toàn bộ có biến đổi vần v thanh: tôn tốt, đèm đẹp, răm rắp.
Lưu ý: SGK TV4 không yêu cầu dạy HS ghi nhớ có mấy kiểu láy như 1 đơn vị kiến thức lí thuyết mà chỉ nhắc thoáng qua trong 1 bài luyện tập (SGKTV4 trang 44), yêu cầu ``xếp các từ láy tìm được vào 3 nhóm``:
+Láy có PÂĐ giống nhau (nhút nhát)
+Láy có vần giống nhau (lao xao)
+Láy có cả âm và vần giống nhau (rào rào.)
Do đó, tùy đối tượng HS lớp mình mà GV xác định mục tiêu dạy học cho phù hợp.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trong Tiếng Việt, nghĩa của từ láy được hình thành từ nghĩa của tiếng gốc theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cường hoặc giảm nhẹ... Từ đó người ta chia từ láy thành hai loại là từ láy có nghĩa giảm nhẹ và từ láy có nghĩa mạnh thêm.
Ví dụ:
-Đẹp -> đẹp đẹp -> đèm đẹp.
-Tôt -> tốt tốt -> tôn tốt.
-Khác -> khác khác -> khang khác.
=>Chúng đều có nghĩa giảm nhẹ so với tiếng gốc.
- Nhỏ -> nhỏ nhoi
- Vàng -> vàng vọt
- .
=> Chúng đều có nghĩa tăng mạnh hơn so với tiếng gốc.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Ghép phân loại (phân nghĩa, chính phụ, .).
Ghép tổng hợp (hợp nghĩa, đẳng lập, song song, láy nghĩa, .).
- Là từ ghép trong đó có 1 tiếng chỉ loại lớn đứng trước và là tiếng chính. Còn tiếng phụ đứng sau có tác dụng phân hoá nghĩa cho tiếng chính đứng trước.
VD: Bà nội, bà ngoại
Xe đạp, xe máy.
- Là từ ghép do 2 tiếng có quan hệ ngang hàng nhau tạo nên. Nghĩa của chúng có tính chất tổng hợp, tổng loại, khái quát.
VD: bàn ghế, sách vở, ăn uống, đi đứng, buôn bán.
Từ ghép trong Tiếng Việt cũng chia làm 2 loại
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
+ 2 tiếng phải cùng từ loại (cùng D-D, Đ-Đ, T-T)
+ 2 tiếng phải cùng phạm trù ngữ nghĩa (cùng chỉ SV, hoạt động, tính chất.).
VD: áo quần, nhà cửa, đêm ngày, buồn vui, thương nhớ, .
+ 2 tiếng phải đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa:
VD: đợi chờ, tươi sáng, trên dưới, trước sau.
-Về nghĩa: biểu thị những SV, hiện tượng mang tính tổng loại, khái quát.
(Cách khác: chỉ những loại lớn hơn, chung hơn, rộng hơn, bao trùm hơn so với loại của mỗi tiếng tạo thành).
Cách nhận diện từ ghép tổng hợp
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
3 tiªu chÝ ®Ó ph©n ®Þnh tõ lo¹i
Từ loại Tiếng Việt
Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, QHT.
(Chuyên đề này chỉ xét DT, ĐT, TT)
Tiêu chí 1: Dựa vào ý nghĩa khái quát của từ:
+ DT chỉ sự vật.
+ ĐT chỉ hoạt động (vật lí, sinh lí, tâm lí).
+ TT chỉ đặc điểm, tính chất, màu sắc.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tiêu chí 2: Dựa vào khả năng kết hợp của từ:
+ Danh từ có khả năng kết hợp với những từ chỉ số lượng đứng trước như: tất cả, những, các, mỗi, mọi. và những từ chỉ định đứng sau như: này, kia, ấy, nọ. (những cái bàn, cái bàn này, tất cả học sinh, học sinh ấy.)
+ Tính từ có khả năng kết hợp vớicác phụ từ chỉ mức độ: hơi, rất, quá, lắm. (Rất đẹp, rất thông minh, tốt lắm...)
+ Động từ có khả năng kết hợp với những phụ từ chỉ mệnh lệnh: Hãy, đừng, chớ. hoặc những phụ từ chỉ thời gian. (Hãy chạy, đừng hút thuốc, đang hát, sẽ mua.)
3 tiªu chÝ ®Ó ph©n ®Þnh tõ lo¹i
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tiêu chí 3: Dựa vào khả năng làm thành phần câu
+ Danh từ thường làm chủ ngữ. Khi làm VN, DT thường phải kết hợp với từ "là". (Bố tôi là bác sĩ)
+ Động từ thường làm VN, và khả năng làm VN của ĐT là không hạn chế. ĐT cũng có thể làm CN, nhưng khi đóng vai trò CN, ĐT mất khả năng kết hợp với: đã, đang, sẽ, cũng, vẫn, cứ, hãy, đừng, chớ. (Đá cầu rất thú vị..)
Một số ĐT trạng thái có thể kết hợp với từ chỉ mức độ: (thích quá, ghét lắm.)
+ Tính từ thường làm VN nhưng khả năng này có hạn chế nhất định. TT chỉ có thể đóng vai trò VN khi có các phụ từ chỉ mức độ: rất, quá, lắm. đi kèm. (Đường này rất trơn.)
3 tiªu chÝ ®Ó ph©n ®Þnh tõ lo¹i
Khi cho HS làm bài tập xác định từ loại, cần HD các em dựa vào cả 3 tiêu chí trên.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trong TV, có những từ khi thì được dùng trong tư cách của từ loại này, khi thì được dùng trong tư cách của từ loại khác.
->Đã có sự chuyển loại của từ.
Sự chuyển loại của từ
VD: Nó bước những bước đi chắc chắn.
ĐT DT
Sự chuyển loại của từ diễn ra ở 2 phương diện:
+ ý nghĩa: Khi chuyển loại, từ mang ý nghĩa khái quát của từ loại khác (ý nghĩa khái quát của từ đã biến đổi).
+ Hình thức: Khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp của từ cũng thay đổi (Mang đặc điểm của từ loại khác).
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
VD: So sánh các cặp sau:
- Nó đang suy nghĩ. -Chỉ trạng thái tâm lí, tư duy.
-Làm VN trực tiếp, kết hợp với phụ từ "đang"
->là ĐT.
- Những suy nghĩ của nó rất sâu.
-Chỉ sự vật trừu tượng.
-Kết hợp với từ chỉ số lượng "những".
-Làm trung tâm CN
->Là DT
Sự chuyển loại của từ
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Hiện tượng chuyển loại thường xảy ra giữa các từ loại sau
- Giữa động từ trở thành quan hệ từ.

VD: Ông cho cháu quyển sách. -> Ông mua cho cháu quyển sách.
ĐT QHT


Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
+ ĐT chuyển thành DT
VD: -Nó hành động rất sáng suốt. Đây là một hành động sáng suốt.
ĐT DT
+ TT chuyển thành DT
VD: - C/s của anh ấy khá khó khăn, nhưng anh ấy sẽ vượt qua khó khăn đó. TT DT

+ DT chuyển thành TT
VD: Việt Nam là quê hương tôi. Trang phục của bạn rất Việt Nam.
DT TT

Hiện tượng chuyển loại thường xảy ra giữa các từ loại sau
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
*§¹i tõ:
- Đại từ là từ dùng để xưng hô hay để thay thế DT, ĐT, TT (hoặc cụm DT, cụm ĐT, cụm TT ) trong câu cho khỏi lặp lại các từ ngữ ấy.
+Đại từ dùng để xưng hô (đại từ xưng hô , đại từ xưng hô điển hình ) : Là từ được người nói dùng để tự chỉ mình hay chỉ người khác khi giao tiếp .
Đại từ xưng hô thể hiện ở 3 ngôi :
+ Đại từ chỉ ngôi thứ nhất ( chỉ người nói ) : tôi, ta, tớ, chúng tôi, chúng ta,...
+ Đại từ chỉ ngôi thứ hai ( chỉ người nghe ) : mày, cậu, các cậu, ...
+ Đại từ chỉ ngôi thứ ba ( người được 2 người ở ngôi thứ nhất và thứ 2 nói tới) : họ, nó, hắn, bọn họ, chúng nó,...
*Quan hệ từ (QHT)- (Tuần 11- Lớp 5):
- QHT là từ nối các từ ngữ hoặc các câu, nhằm thể hiện mối quan hệ giữa những từ ngữ hoặc những câu ấy với nhau.
- Các QHT thường dùng là : và, với, hay, hoặc, nhưng ,mà, thì, của, ở, tại, bằng, như, để, về,...
- Nhiều khi, từ ngữ trong câu được nối với nhau bằng 1 cặp QHT. Các cặp QHT thường dùng là :
+ Vì...nên...; Do...nên...; Nhờ ...nên... ( biểu thị quan hệ nguyên nhân- kết quả ).
+ Nếu ...thì...; Hễ... thì... (biểu thị quan hệ giả thiết, điều kiện - kết quả ).
+ Tuy ...nhưng...; Mặc dù... nhưng... (biểu thị quan hệ tương phản, nhượng bộ, đối lập ).
+ Không những... mà còn...; Không chỉ... mà còn... (biểu thị quan hệ tăng tiến ).
*Ghi nhớ :
*Cấu tạo từ: Tõ phøc Tõ l¸y L¸y ©m ®Çu


L¸y vÇn
Tõ ®¬n Tõ ghÐp TGPL
L¸y ©m vµ vÇn

TGTT L¸y tiÕng

2. Câu và các thành phần câu.
Theo chương trình SGK hiện hành thì:
- Khụng phõn cõu theo m?c dớch phỏt ngụn v c?u t?o.
- D?y HS l?n lu?t v? cỏch d?t câu k?, cõuh?i , câu khi?n, câu c?m theo cỏc mụ hỡnh c?u trỳc cõu (ai lm gỡ, ai th? no, ai l gỡ?).
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Sự khác nhau giữa ba kiểu câu
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Các thành phần trong câu
Chủ ngữ: Là một trong hai thành phần chính của câu, nêu lên đối tượng thông báo của câu, có quan hệ qua lại với thành phần vị ngữ.
Cấu tạo của chủ ngữ:
Chủ ngữ thường được tạo bởi một từ, Ví dụ:
Biển luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời.
Mười ba là con số không đẹp.
Hiền lành là cha quỷ quái.
Đối với tôi thì thế là quá tốt rồi.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Cấu tạo của chủ ngữ:
Chủ ngữ có cấu tạo là một tổ hợp từ, Ví dụ:
- Cụm danh từ: Một trăm cây bạch dương giống nhau cả một trăm.
Con gái tôi tên là Việt Phương.
- Cụm động từ: Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết.
Hút thuốc lá, hay cáu giận là thói quen xấu.
- Cụm tính từ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
- Cụm từ đẳng lập: Tre, nứa, trúc, mai, vầu giúp người trăm công
ngàn việc khác nhau.
- Cụm từ cố định: Rán sành ra mỡ là bản tính của người keo kiệt.
Chỉ tay năm ngón là thói thường của những kẻ có
quyền lực.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Vị ngữ: Là một trong hai thành phần chính của câu, nêu lên đặc trưng của đối tượng, chứa đựng nội dung thông báo của chủ thể mà chủ ngữ biểu thị, có quan hệ qua lại với thành phần chủ ngữ.
Cấu tạo của vị ngữ:
Về mặt nghĩa, vị ngữ thường nêu đặc trưng (về hành động, trạng thái, tính chất) của vật, hiện tượng được nói ở chủ ngữ. Do đó về cấu tạo, vị ngữ thường là động từ, cụm động từ, tính từ, cụm tính từ. Khi vị ngữ là danh từ thì trước đó thường có từ là. (Cậu ta là học sinh.)
Tuy nhên trong ngữ cảnh cụ thể có thể bỏ từ là trước danh từ. (Cô ấy giáo viên trường Tiểu học Tân Dân đấy.)
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Cấu tạo của vị ngữ:
Vị ngữ là động từ, cụm động từ: Hôm qua, nó khóc.
Trước ngày khai trường, mẹ không ngủ được.
Vị ngữ là tính từ, cụm tính từ: Cùng trên một mảnh vườn, sao lời cây ớt cay, lời cây sung chát, lời cây cam ngọt, lời cây móng rồng thơm như mít chín.
Vị ngữ có cấu tạo: là + danh từ (cụm danh từ): Bồ các là bác chim ri, chim ri là dì sáo sậu.
VN là cụm từ đẳng lập: Mùi nước mưa mới ấm, ngòn ngọt, ngai ngái.
- VN là cụm chủ vị: Người nào người nấy mặt xanh như tàu lá chuối.
Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò như một gã nghiện thuốc phiện.
- VN là cụm từ cố định: Cô ấy rán sành ra mỡ.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Vị trí của chủ ngữ và vị ngữ
Thông thường thì chủ ngữ bao giờ cũng đứng trước vị ngữ. Vị ngữ đứng liền sau chủ ngữ, giữa chúng không cần ngăn cách bằng dấu phẩy hay liên từ nào. Tuy nhiên, có khi VN đặt trước CN để phục vụ một mục đích tu từ nào đó.
- Đã tan tác những bóng thù hắc ám
VN CN
Đã sáng lại trời thu tháng tám.
VN CN
- Thật vĩ đại cái trầm lặng đầy tin tưởng của những con người!
VN CN
Để hướng dẫn HS tìm CN, VN cần hướng dẫn HS đặt câu hỏi, đồng thời giáo viên phải nắm chắc các kiến thức về định ngữ và bổ ngữ .
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trạng ngữ là TPP bổ sung ý nghĩa tình huống cho câu. Cụ thể là cho biết thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích diễn ra sự việc hoặc cách thức, phương tiện thể hiện hoạt động nói trong câu.
Về vai trò ngữ pháp, TN chỉ là 1 TPP, không bắt buộc có mặt trong câu.
Về cấu tạo, TN là 1 cụm từ có hoặc không có quan hệ từ đứng trước.
VD : -Có quan hệ từ : Vào lúc 6h, Nam về quê.
-Không có quan hệ từ : Hôm qua, Nam về quê
Về vị trí, TN có thể đứng trước, giữa, sau nòng cốt câu.
VD : -Vào lúc 6h, Nam về quê.
-Nam về quê vào lúc 6h.
-Cái hình ảnh trong tôi về cô, đến bây giờ, vẫn còn rõ nét.
->Ở các vị trí khác nhau, TN đều tách khỏi nòng cốt câu bằng dấu phẩy hoặc quan hệ từ.
->Trong các vị trí của TN, vị trí đầu câu là hay gặp nhất.
Trạng ngữ
Lưu ý: SGK lớp 4 chỉ nêu TN đứng đầu câu. Nếu có HS đặt được câu có TN ở vị trí khác, GV vẫn chấp nhận và khuyến khích các em.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Các loại trạng ngữ
- Trạng ngữ chỉ thời gian: Chỉ thời gian xảy ra sự tình nêu trong câu. Thời gian có thể xác định, cũng có thể là hằng định hay phiếm chỉ. Thời gian có thể chỉ một thời điểm hay một thời đoạn.
Ví dụ:
Bây giờ Hoa đã là chị rồi. (Thời điểm - hiện tại)
Hồi ấy, tôi còn non nớt lắm. (Thời điểm - quá khứ)
Sang năm, tôi sẽ xin chuyển về công tác gần nhà. (Thời điểm - tương lai)
Từ đầu năm đến giờ, chẳng mấy khi tôi có ở nhà. (Thời đoạn - xác định)
Thỉnh thoảng, nó lại bật lên tiếng khóc. (Thời gian - phiếm định)
Hằng ngày, Sẻ ta ở trong tổ ăn hạt kê một mình. (Thời gian - hằng định)
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trạng ngữ chỉ không gian (nơi chốn): Không gian mà trạng ngữ biểu thị có thể là không gian cụ thể (rộng hay hẹp), cũng có thể là không gian phiếm chỉ (không cụ thể).
Ví dụ:
Xa xa, một tiếng hú vọng lên. (Không gian rộng, không cụ thể)
Dưới vành mũ, cái mặt hắn bè ra. (Không gian hẹp)
Ngoài miền Bắc, CN - VN. (Không gian rộng, cụ thể)
Các loại trạng ngữ
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trạng ngữ chỉ tình huống: Loại TN này thường được cấu tạo bởi tổ hợp: QHT + Danh từ (hoặc cụm Dtừ).
VD: Giữa sống chết, người lính không có gì ngoài tình yêu thương đùm bọc của người xung quanh.
Trong tấm áo dài màu thanh thiên từ ngày may chưa bao giờ xỏ tay, bà trẻ đẹp đến nỗi chính ông Phán còn phải ngạc nhiên.
Qua hàng nước mắt, tôi nhìn theo mẹ và em trèo lên xe.
Trong nhiều tình huống, TN chỉ tình huống được cấu tạo là động từ, cụm ĐT; TT, cụm TT:
VD: Chưa nghe hết câu, tôi đã ...
Đàng hoàng trong bộ quân phục, tôi như lấy lại được sinh khí.
Các loại trạng ngữ
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Các loại trạng ngữ
TN chỉ cách thức, phương tiện: nêu cách thức thực hiện hành động hay phương tiện để chủ thể thực hiện hành động.
Vdụ: Chân tay run lên như điện giật, ông trợn mắt hỏi không ra tiếng.
Từng nhát một, cối giã gạo nổi lên tiếng ken két thong thả.
Anh muốn làm việc một cách thẳng thắn, tự do.
Lại hai nách hai con, chị bế chúng vào ngồi trong chõng.
Bằng sắc mặt ôn hòa và dễ dãi, Nghị Quế nhìn vào mắt chị Dậu.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Nó hát bằng cả trái tim. Nó đến trường bằng xe đạp.
Khi đứng ở cuối câu, TN chỉ phương tiện không cần ngăn cách bằng dấu phẩy.
Ngoài ra còn hai loại trạng ngữ nữa là:
TN chỉ nguyên nhân: Chỉ ra ng.nhân, lí do xảy ra sự tình nêu trong câu.
VD: Vì lười, nó bị cô giáo phê bình.
TN chỉ mục đích: Nêu lên cái đích mà chủ thể cần đạt được.
VD: Để chống trộm, các cơ quan đã trang bị thiết bị báo động.
Một só vấn đề cơ bản về từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Phần II: Tập làm văn
A:Một số kiểu bài trong phân môn:T?p lm van:
1) Bài tập về phép viết câu.
2) Bài tập về phép viết đoạn.
3) Luy?n vi?t ph?n m? bi.
4) Luy?n vi?t ph?n k?t bi.
5) Luy?n tỡm ý cho ph?n thõn bi.
6) Viết cả bài văn.
1* Bài tập về phép viết câu:
Câu văn là một bộ phận của bài văn. Vì vậy, muốn có một đoạn văn hay thì phải có các câu văn hay. Muốn viết được câu văn hay, ngoài việc dùng từ chính xác, câu văn cần phải có hình ảnh. Có hình ảnh, câu văn sẽ có màu sắc, đường nét, hình khối
*Với cùng một nội dung thông báo, song với mỗi cách viết lại có một cách hiểu khác nhau.
VD: Với nội dung: Con sông chảy qua một cánh đồng, ta có thể diễn tả bằng nhiều cách như sau :
- Con sông nằm uốn khúc giữa cánh đồng xanh mướt lúa khoai. (Vẻ đẹp thuần tuý).
- Con sông khoan thai nằm phơi mình trên cánh đồng xanh mướt lúa khoai. (Vẻ đẹp khoẻ khoắn).
- Con sông hiền hoà chảy qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai.( Vẻ đẹp hiền hoà).
- Con sông lặng lẽ dấu mình giữa cánh đồng xanh mướt lúa khoai.(Vẻ trầm tư).
- Con sông mềm như một dải lụa vắt ngang qua ánh đồng xanh mướt lúa khoai.(Vẻ đẹp thơ mộng)
Như vậy, ý của câu văn hoàn toàn phụ thuộc vào ngụ ý của người viết .Với mỗi một cách diễn đạt khác nhau lại cho một giá trị biểu cảm khác nhau.
2.Bài tập về phép viết đoạn:
*Đoạn văn là một bộ phận của bài văn. Một bài văn hoàn chỉnh phải có ít nhất 3 đoạn: Mở bài(MB), thân bài(TB) và kết bài(KB).Phần MBvà KB người ta thường trình bày thành 1 đoạn. Riêng phần TB, ta có thể tách thành 23 đoạn, tuỳ theo từng yêu cầu của đề.
*Đoạn văn gồm nhiều câu văn được liên kết chặt chẽ cả về nội dung và hình thức( ý và lời). Vì vậy, khi viết đoạn, chúng ta cần đảm bảo được sự liên kết chặt chẽ đó . Sự liên kết về ý thể hiện ở chỗ nội dung của mỗi câu cùng hướng về, nói về một đối tượng .Sự liên kết về lời thể hiện ở các phép liên kết câu( phép lặp, phép thế, phép nối, phép liên tưởng,...). Đoạn nào không bảo đảm được sự liên kết đó thì đoạn văn sẽ trở lên lộn xộn, thiếu mạch lạc.
* Các đoạn văn trong một bài văn lại liên kết với nhau thành một bài văn hoàn chỉnh. Liên kết đoạn văn là làm cho nội dung bài văn( văn bản) chặt chẽ và liền mạch. Cách liên kết đoạn cũng tương tự như liên kết câu. Ta có thể dùng từ ngữ có tác dụng nối, dùng câu nối,...và có thể liên kết theo không gian hoặc thời gian.
B:Một số dạng bài văn cơ bản ở Lớp 4,5.
1-Văn miêu tả: Tả đồ vật.
Tả loài vật.
Tả cây cối.
Tả cảnh.
Tả người.
2-Thể loại kể chuyện.
3-Thể loại văn viết thư.
C:Một số biện pháp nghệ thuật khi viết văn:
So sánh.
Nhân hoá.
Điệp từ, điệp ngữ.
Đảo ngữ.

D:Phương pháp chung khi làm bài Tập làm văn(TLV):
a.Đọc kĩ đề bài:
b.Tìm ý - Lập dàn bài:
c.Viết thành một bài văn hoàn chỉnh:
d.Đọc lại bài làm:
E:Các bước để làm bài văn cảm thụ.
Để làm được một bài tập về CTVH đạt kết quả tốt, các em cần thực hiện đầy đủ cácc bước sau:
*Bước 1: Đọc kĩ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập (yêu cầu phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì?...)
*Bước 2: Đọc và tìm hiểu về câu thơ (câu văn) hay đoạn trích được nêu trong đề bài.
- Đọc : Đọc diễn cảm, đúng ngữ điệu (có thể đọc thành tiếng hoặc đọc thầm). Việc đọc đúng, đọc diễn cảm sẽ giúp mạch thơ, mạch văn thấm vào tâm hồn các em một cách tự nhiên, gây cho các em những cảm xúc, ấn tượng trước những tín hiệu nghệ thuật xuất hiện trong đoạn văn, đoạn thơ.
- Tìm hiểu: Dựa vào yêu cầu cụ thể của bài tập như cách dùng từ, đặt câu, cách dùng hình ảnh, chi tiết, cách sử dụng biện pháp nghệ thuật quen thuộc như so sánh, nhân hoá,...cùng với những cảm nhận ban đầu qua cách đọc sẽ giúp các em cảm nhận được nội dung, ý nghĩa đẹp đẽ, sâu sắc toát ra từ câu thơ (câu văn).
*Bước 3: Viết đoạn văn về CTVH (khoảng 7- 9 dòng) hướng vào yêu cầu của đề bài. Đoạn văn có thể bắt đầu bằng một câu “mở đoạn” để dẫn dắt người đọc hoặc trả lời thẳng vào câu hỏi chính; tiếp đó, cần nêu rõ các ý theo yêu cầu của đề bài: cuối cùng, có thể “kết đoạn” bằng một câu ngắn gọn để “gói” lại nội dung cảm thụ.
G:Thế nào là một bài văn hay?
Một bài văn hay phải đạt được 3 yêu cầu: Nội dung, hình thức và cách trình bày.
a)Nội dung:
-Ý tưởng phải ăn khớp với đề bài.
-Ý tưởng phải đúng, mới và đặc biệt.
-Ý tưởng phải súc tích ( chứa nhiều ý trong một hình thức diễn đạt ngắn gọn).
-Ý tưởng phải xếp đặt có thứ tự và mạch lạc.
-Ý tưởng cuối cùng (ở phần kết bài) phải khái quát được các ý đã nêu ra.
b)Hình thức:
-Viết đúng từ vựng (sử dụng đúng từ ngữ).
-Viết đúng nội dung (đặt câu đúng ngữ pháp, có đủ CN, VN).
-Viết đúng dấu câu (sử dụng đúng các dấu câu đã được học).
c)Trình bày:
-Chữ viết phải rõ ràng, ngay ngắn, đẹp; viết hoa đúng chỗ, các đoạn văn được phân bố hợp lí (không nên quá dài hoặc quá ngắn).
Các nội dung trên tôi đã viết còn chưa sâu,
còn nhiều thiếu sót.
Kính mong sự đóng góp và bổ sung của các đồng chí giúp tôi hệ thống lại đầy đủ những kiến thức cơ bản trong phân môn TV ở Tiểu học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tân Dân, ngày 6 tháng 8 năm 2012
Người viết: Hà Thị Thuỷ
GV :Trường Tiểu học TT Tân Dân.
Xin chào và hẹn gặp lại!
 
Gửi ý kiến