Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

các kiểu rừng ở việt nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Thi My Hanh
Ngày gửi: 18h:55' 01-11-2011
Dung lượng: 284.0 KB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích: 0 người
1.Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
1.1 . Điều kiện sinh thái :
- Khí hậu:
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm từ 20 - 25oC , nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất từ 15 - 20 oC.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 mm - 2.500 mm, nhiều vùng có lượng mưa rất cao từ 3.000 mm - 4.000 mm
Chỉ số khô hạn chung: 3 - 0 - 0 Hàng năm không có tháng hạn, tháng kiệt, chỉ có 3 tháng khô.
Độ ẩm không khí tương đối trung bình trên 85% Lượng bốc hơi thường thấp.

- Đất:
Đá mẹ: đá nai (gneiss), phiến thạch mica (micaschiste), phiến sa thạch (gres schisteux
), vi hoa cương (microgranit ), lưu vân (rioolit), hoa cương (granit), huyền vũ (bazan)
v.v…
Đất địa đới của vành đai nhiệt đới ẩm vùng thấp
Đất đỏ vàng Feralit hoàn toàn thành thục, sâu, dày, không có tầng đá ong.
Đất đỏ hung (terra rossa) nhiệt đới phong hoá trên đá vôi và trên đất bồi tụ trong thung
lũng dưới chân các núi đá vôi. Theo Friedland, đây là loại đất đen macgalit.
1.2 . Cấu trúc rừng
a) Cấu trúc tầng thứ
Những hệ sinh thái rừng thuộc kiểu thảm thực vật này có nhiều tầng, cao từ 25 - 30 m, tán
kín rậm bởi những loài cây gỗ lớn lá rộng thường xanh.
Cấu trúc tầng thứ có 5 tầng :
- Tầng vượt tán A1: hình thành bởi những loài cây gỗ cao đến 40 - 50 m, phần lớn thuộc họ
Dầu (Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu (Leguminosae) v.v… Phần lớn
là loài cây thường xanh nhưng cũng có loài cây rụng lá trong mùa khô rét. Tầng này
thường không liên tục, tán cây xoè rộng hình ô, hình tán. 21
- Tầng ưu thế sinh thái A2: Đây còn gọi là tầng lập quần bao gồm cây gỗ cao trung bình từ
20 - 30 m, thân thẳng, tán lá tròn và hẹp, tầng tán liên tục, phần lớn là những loài cây
thường xanh thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Vang (Caesalpiniaceae),
họ Trinh nữ (Mimosaceae),
- Tầng dưới tán A3: cao từ 8 - 15 m, mọc rải rác dưới tán rừng, tán hình nón hoặc hình tháp
ngược. Tổ thành loài cây thuộc các họ Bứa (Clusiaceae), họ Du (Ulmaceae), họ Máu chó
(Myristicaceae), họ Na (Annonaceae), họ Mùng quân (Flacourtiaceae) v.v... Ngoài ra còn
có cây con, cây nhỡ của các loài cây ở tầng A1 và tầng A2 có khả năng chịu bóng.
- Tầng cây bụi B: cao từ 2 - 8 m. Tổ thành loài cây thuộc các họ Cà phê (Rubiaceae), họ
Trúc đào (Apocynaceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Na (Annonaceae), họ Mua
(Melastomaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) v.v…Ngoài ra
còn có những " cây gỗ giả " thuộc họ Dừa (Palmae), họ phụ Tre nứa (Bambusoideae), họ
Sẹ (Scitaminaceae) v.v…Trong tầng này còn có những loài quyết thân gỗ, chịu được bóng
rợp. Tham gia tầng này còn có những cây con, cây nhỡ của những loài cây gỗ lớn ở tầng
A1 , A2 , A3. 24
- Tầng cỏ quyết C: cao không quá 2 m. Tổ thành loài cây thuộc các họ Ô rô (Acanthaceae),
họ Gai (Urticaceae), họ Môn ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Hành tỏi
(Liliaceae) và những loài dương xỉ v.v…Tham gia tầng này còn có những cây tái sinh của
những loài cây gỗ lớn ở tầng A1 , A2 , A3.
Ngoài 5 tầng trên, còn có nhiều thực vật ngoại tầng, chúng tham gia vào tất cả các tầng
trong hệ sinh thái rừng như dây leo, thực vật phụ sinh, thực vật kí sinh. Thực vật ngoại tầng đa
dạng phong phú là một đặc điểm điển hình của rừng mưa nhiệt đới.
Dây leo có thể là thân gỗ hoặc thân cỏ thuộc các họ Đậu (Leguminosae), họ Na
(Annonaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Gắm (Gnetaceae) v.v... Ngoài ra còn có những
loài dây leo điển hình của rừng nhiệt đới thuộc họ Cọ dừa dài hàng trăm mét thuộc các chi
Calamus, Daemonorops đặc hữu của vùng Đông Nam Á.
Thực vật phụ sinh (loài thực vật sống nhờ vào những loài cây khác) gồm những loài cây
thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), họ Môn ráy (Araceae), những loài quyết thuộc các chi
Asplenium, Drynaria, Platycerium, đặc biệt là những loài cây sống nhờ cây kí chủ như loài đa
(Ficus), chân chim (Schefflera) và một loài Fragraea obovata trong họ Loganiaceae.
Thực vật kí sinh bao gồm những loài cây thuộc chi Loranthus trong họ Tầm gửi
(Loranthaceae), chi Balanophora trong họ Cu chó (Balanophoraceae) sống bám trên cành lá và rễ
cây.
1.3 . Ý nghĩa kinh tế, phòng hộ và khoa học
Hệ sinh thái rừng này phân bố rộng trên các tỉnh trung du và miền núi Việt Nam. Trữ lượng gỗ ở rừng nguyên sinh có thể đạt đến 400 - 500 m3/ ha, trong đó có nhiều loài gỗ quý nhiệt đới và là loài bản địa đặc hữu của Việt Nam có giá trị sử dụng cao như đinh, lim, sến, táu v.v…và đặc biệt là có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị như dược liệu quý, nhiều loài cây cho nhựa và tinh dầu v.v…Đây là đối tượng rừng khai thác trong nhiều năm qua và đã cung cấp một khối lượng lớn gỗ xây dựng, nguyên liệu công nghiệp chế biến lâm sản v.v… cho nền kinh tế quốc dân.
. Tuy nhiên, do khai thác chạy theo kế hoạch trong thời kinh tế bao cấp, khai thác không đúng
kĩ thuật, không bảo đảm tái sinh rừng nên diện tích và trữ lượng rừng đã bị suy giảm. Tỉ lệ rừng
thứ sinh nghèo kiệt tăng lên. Trong những năm gần đây, ngành lâm nghiệp đã có chủ trương hạn
chế lượng khai thác gỗ rừng tự nhiên, tiến tới "đóng cửa" rừng tự nhiên. Ngoài ra, nhiều khu rừng
nguyên thuỷ nhiệt đới như Cúc Phương (Ninh Bình), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bạch
Mã (Thừa Thiên - Huế), Cát Tiên (Đồng Nai) v.v…đã , đang và sẽ mang lại nguồn thu nhập lớn
từ du lịch sinh thái.
Hệ sinh thái rừng này phân bố ở hầu hết các vùng đầu nguồn của các con sông lớn ở Việt
Nam. Đây là kiểu hệ sinh thái rừng nhiệt đới điển hình được đặc trưng bởi rừng lá rộng thường
xanh hỗn giao phức tạp nhiều tầng tán. Có thể coi những đặc trưng này là mô hình chuẩn đáp
ứng tối ưu cho yêu cầu phòng hộ đầu nguồn ở miền núi và trung du. Trên thực tế, kiểu hệ sinh
thái rừng này đã và đang giữ vai trò cực kì quan trọng cho việc nuôi dưỡng nguồn nước, bảo vệ
đất, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt cho cả vùng đồng bằng, đô thị và ven biển Việt Nam.

Hệ sinh thái rừng nhiệt đới này có tính đa dạng sinh học cao cả về đa dạng nguồn gen, đa
dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Trong hệ sinh thái này có nhiều loài thực vật động vật rừng quý
hiếm, có loài đang bị đe doạ diệt chủng cần được bảo tồn nghiêm ngặt và phát triển. Đây là đối 36
tượng nghiên cứu khoa học của các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và nhiều cơ quan
nghiên cứu trong và ngoài ngành lâm nghiệp. Dưới tấm màn xanh của những hệ sinh thái rừng
nhiệt đới này vẫn còn chứa đựng biết bao điều bí ẩn mà các nhà lâm sinh học Việt Nam chưa phát
hiện được.
1.4 Phân bố :
- Những hệ sinh thái rừng thuộc kiểu thảm thực vật này rất phong phú và đa dạng, phân bố
ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai,
Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên Huế, Quảng Nam, Tây Nguyên v.v…
- Phân bố theo độ cao so với mực nước biển:
Ở miền Bắc: dưới 700 m
Ở miền Nam: dưới 1.000 m
2. Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiêt đới
. Điều kiện sinh thái
- Khí hậu:
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 20o - 25oC
Nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất 15o - 20oC

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 2.500 m
Chỉ số khô hạn (1-3) - (0-1) - (0)
Mùa hạn kéo dài từ 1 - 3 tháng với lượng mưa dưới 50 mm và một tháng có lượng mưa
dưới 25 mm.
Độ ẩm trung bình thấp nhất trên 85%
- Đất:
Đá mẹ: phiến thạch, sa thạch, sa diệp thạch, badan, phù sa cổ, kể cả đất đá vôi hung đỏ,
đất nâu đen v.v…
Đất đỏ vàng Feralit, tầng đất dày
2.2 Cấu trúc rừng
Cấu trúc tầng thứ gồm 3 tầng cây gỗ (A1 , A2 , A3). Điển hình là hai loài cây rụng lá :
Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa ) và Sau sau (Liquidambar formosana). Ngoài ra còn có các
loài cây thuộc họ Dipterocarpaceae, Meliaceae, Leguminosae, Datiscaceae, Moraceae,
Anacardiaceae, Combretaceae, Lauraceae, Burseraceae, Sapindaceae v.v… Chiều cao quần thể
đạt đến 40 m. Nhiều loài cây có bạnh vè.
Tầng dưới tán và tầng cây bụi thưa.
Tầng thảm tươi rậm rạp có các loài quyết (Pteridophyta) và cây họ Dừa (Palmae)
2.3 Ý nghĩa kinh tế, phòng hộ và khoa học
Hệ sinh thái rừng này phân bố tương đối rộng trên lãnh thổ Việt Nam và nằm trong vành
đai núi thấp thuộc đối tượng tác động của ngành lâm nghiệp. Trữ lượng rừng nguyên sinh có thể
đạt đến 300 - 400 m3
/ ha.
Tổ thành rừng có nhiều loài cây rừng nhiệt đới có giá trị trong đó có
nhiều loài cây bản địa đặc hữu của Việt Nam, có nhiều loại thực vật, động vật rừng quý hiếm và
lâm sản nhiệt đới ngoài gỗ lớn như dược liệu quý, nhiều loài cây cho tinh dầu, nhựa, chất béo, ta
nanh v.v…Đây cũng là đối tượng rừng khai thác gỗ xây dựng và cung cấp nguyên liệu cho công 43
nghiệp chế biến lâm sản, đặc biệt là nguyên liệu cho công nghiệp giấy sợi. Tuy nhiên, trải qua
khai thác nhiều lần, phần lớn rừng hiện còn là rừng thứ sinh nghèo nên cần phải được xúc tiến tái
sinh, nuôi dưỡng phục hồi rừng.
Hệ sinh thái rừng này phân bố chủ yếu ở miền núi và trung du. Sự tồn tại của hệ sinh thái
rừng này giữ vai trò cực kì quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, nuôi dưỡng nguồn nước,
bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt cho cả vùng đồng bằng, đô thị và vùng ven biển.
Hệ sinh thái rừng này cũng có tính đa dạng sinh học cao. Có nhiều thực vật và động vật
rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Nhiều vấn đề khoa học như quy luật tái sinh, diễn thế
rừng, quy luật sinh trưởng của cây rừng và rừng nhiệt đới v.v…đang chờ đợi các nhà khoa học
nghiên cứu.
. Phân bố
Hệ sinh thái rừng này phân bố ở Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phú
Thọ, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, Tây Nguyên, miền đông Nam Bộ v.v…
Phân bố theo độ cao so với mực nước biển :
Ở miền Bắc : dưới 700 m
Ở miền Nam : dưới 1.000 m
3. Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi
.3.1. Điều kiện sinh thái
Khí hậu: ngoài chế độ khí hậu chung của khu vực, do địa hình vùng núi đá vôi phức tạp
nên có những đặc điểm khác biệt và tạo nên những tiểu vùng vi khí hậu. Đây là một qui luật phi
địa đới, đặc trưng cho hệ sinh thái nhạy cảm trên núi đá vôi ở Việt Nam.
Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 20o
C. Về tổng thể, nhiệt độ trung bình tháng
cao nhất của vùng núi đá vôi Việt Nam là tháng 6 và tháng 7, trong khi đó tháng lạnh nhất là
tháng 12 và tháng 1.
Chế độ mưa và độ ẩm: theo đai độ cao thì vùng núi đá vôi của Việt Nam có những chế độ
mưa khác nhau, ở đó, đai thấp có chế độ mưa ẩm với lượng mưa trung bình năm từ 1200 -
2500mm, độ ẩm không khí trung bình 85%. Hiện nay chưa có số liệu khí hậu ở vành đai núi cao.
Thổ nhưỡng: ở đai thấp, khu vực núi đá hình thành trên nền đá mẹ là đá vôi mà thành
phần cơ giới nặng là đất đỏ hung (terra rossa) nhiệt đới. Địa chất đai cao của khu vực núi đá vôi 44
cũng giống như ở đai thấp đó là đá đỏ hung (terra rossa) nhiệt đới nhưng phong hóa trên đá vôi
và đôlômít. Ở những nơi có hiện tượng xói mòn xảy ra, thành phần thổ nhưỡng là đất đen xương
xẩu trên núi đá vôi (rendzina). 45
3.2 Cấu trúc tổ thành thực vật
Tổng quát về khu hệ thực vật rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam:
Hệ thực vật vùng núi đá vôi mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật nhưng đặc
trưng cơ bản là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, đồng thời cũng chịu
nhiều ảnh hưởng của các luồng thực vật khác. Thảm thực vật trên núi đá vôi Việt Nam phân bố
không liên tục tập trung ở vành đai 300 - 1200m so với mặt nước biển.
Hệ thống thảm thực vật núi đá vôi phân bố theo độ cao như sau:
a) Đai thấp dưới 700m:
Thảm thực vật trên núi đá vôi:
Thảm thực vật ít bị tác động:
Rừng kín thường xanh chân núi đá vôi
Rừng kín thường xanh sườn núi đá vôi
Rừng kín thường xanh đỉnh núi đá vôi
Thảm thực vật bị tác động:
Rừng thứ sinh thường xanh núi đá vôi
Trảng bụi và trảng cỏ thường xanh núi đá vôi
Thảm thực vật trên đất phi đá vôi: xen giữa các núi đá vôi:
Rừng thường xanh trên đất phi đá vôi
Trảng cây bụi và trảng cỏ thung lũng núi đá bán ngập nước và ngập nước


b) Đai cao trên 700m:
Thảm thực vật trên đất đá vôi:
Thảm thực vật ít bị tác động:
Rừng cây lá rộng thường xanh thung lũng và chân núi đá vôi
Rừng cây lá rộng thường xanh sườn núi đá vôi
Rừng hỗn giao cây lá rộng lá kim núi đá vôi
Rừng lùn cây lá rộng đỉnh núi đá vôi
Thảm bị tác động (thảm thực vật nhân tác):
Rừng thứ sinh núi đá vôi
Trảng cây bụi trên núi đá vôi
Thảm thực vật quanh hồ Caxtơ:
Thảm thực vật nhân tác
A. Rừng núi đá vôi ở đai thấp dưới 700 m
Phần lớn diện tích rừng núi đá vôi của khu vực miền Trung ở đai độ cao dưới 700 m, trừ
phần phía tây Nghệ An giáp biên giới Việt Lào. Ở miền Bắc, rừng núi đá vôi thuộc đai thấp, có
vùng phân bố rộng ở khu vực Đông Bắc và phần giáp ranh giữa Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, 46
các đảo đá vôi của vịnh Bắc Bộ. Ở miền Nam (Hà Tiên), núi đá vôi chỉ giới hạn ở một vài khối
núi lẻ tẻ, thưa thớt, mọc lên như những hòn đảo, vì thế trong phần này chỉ tập trung mô tả thảm
thực vật núi đá vôi ở miền Bắc là chính.
3.3 . Khu hệ động vật núi đá vôi
Do tính đa dạng và rất đặc biệt về địa hình nên hệ động vật trên núi đá vôi cũng có nhiều
đặc trưng riêng. Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo về khu hệ động vật rừng
núi đá vôi ở Việt Nam. Đỗ Tước (1999) đã khảo sát điều tra khu hệ động vật rừng núi đá vôi ở 10
địa điểm thuộc 10 tỉnh: Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Sơn La, Ninh
Bình, Hải Phòng, Thanh Hoá, Quảng Bình. Kết quả bước đầu đã thống kê được 69 loài và phân
loài thú thuộc 18 họ, 6 bộ chiếm khoảng 40% khu hệ thú của địa phương. Trong đó, có 2 bộ có
tính đa dạng sinh học cao là bộ Dơi và bộ Linh trưởng. Về bộ Gặm nhấm mới chỉ quan sát được
8 loài sóc, còn các loài chuột chưa đủ dẫn liệu.
Đa dạng sinh học phong phú nhất là loài dơi thuộc bộ Chiroptera với khoảng 50 loài sống
trong những hang động lớn ở Hữu Liên (Lạng Sơn), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình). Những
loai dơi này thuộc các họ Dơi lá mũi, Dơi muỗi, Dơi quả, Dơi ma v.v…
Bộ Linh trưởng có 16 loài và phân loài, trong đó có các loài đặc hữu trên núi đá vôi như:
Voọc quần đùi (Trachypethucus trancoisii delacouri), voọc đầu trắng (Trachypithecus trancoisii
phicephalus), voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), vượn đen ( Hylobates concolor), đặc
biệt có nhiều ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Cúc Phương (Ninh Bình), Cát Bà (Hải Phòng).

Bộ Ăn thịt (Carnivora) có 8 loài như gấu ngựa, các loài cầy và mèo rừng. 54
Bộ Guốc chẵn (Artiodactyla) có 5 loài như hươu xạ, mang, sơn dương, lợn rừng và chào
vao.
Theo Đỗ Tước (1999), có 7 loài và phân loài hoàn toàn sống trong rừng núi đá vôi là : vooc
đầu trắng, vooc mông trắng, vooc gáy trắng, hươu xạ, don, vooc má trắng, dơi iô. Trong đó có 4
loài thú đặc hữu là vooc mũi hếch, vooc đầu trắng, vooc mông trắng, vooc gáy trắng. Thú rừng
núi đá có 26 loài quý hiếm chiếm 37% tổng số loài thú quý hiếm ở Việt Nam.
Về chim: thảm thực vật núi đá vôi có hệ chim phong phú trong đó đa dạng nhất là bộ Sẻ
(Passeriformes). Nơi đây qui tụ các loài quí hiếm như gà lôi trắng (Lophura nycthemera), cú lợn
rừng (Phodilus badius ), ác là ( Pica pica), gà lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis)

Lưỡng cư, bò sát có 17 loài trong đó rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah) là loài đặc hữu,
có giá trị kinh tế cao cùng với rùa hộp trán vàng (Cistoclemmys galbinifrons), rùa núi vàng
(Indotestudo elongata) là những loài đang ở tình trạng nguy cấp, tất cả 17 loài này đều là những
loài quí hiếm ghi tên trong Sách đỏ, CITES.
Nhắc đến động vật sống trên đất đá vôi không thể không nói đến côn trùng. Chúng là một
thành phần quan trọng làm nên tính đa dạng cho hệ sinh thái nhạy cảm này bởi chúng phần lớn là
những loài chỉ thị, chỉ còn tồn tại nếu còn rừng.
Bốn bộ côn trùng chủ yếu là bộ Cánh vảy
(Lepidoptera), bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Cánh thẳng (Orthoptera) và bộ Hai cánh (Diptera),
trong đó các loài chỉ thị thuộc phân họ Bọ rùa (Cassidinae), họ Côn trùng cánh cứng ăn lá
(Chrysomelidae - Coleoptera) và bọ ngựa (Mantis religiosa).
3.4 . Ý nghĩa kinh tế, phòng hộ và khoa học
Về kinh tế, rừng núi đá vôi có nhiều loài cây có giá trị kinh tế như bách vàng, hoàng đàn,
mun sọc, nghiến, pơ mu, kim giao, thông Pà Cò v.v…Nhiều loài động vật núi đá vôi có giá trị
kinh tế và khoa học như vooc đầu trắng, vooc mông trắng, vooc gáy trắng, hươu xạ, don, vooc
má trắng, dơi iô v.v… Ngoài ra, còn có nhiều loài cây làm dược liệu như: đẳng sâm (Codonopsis
javanica), kim ngân (Lonicera dasystyla), củ bình vôi (Stephania rotunda), một lá (Nervilia
fordii), thuỷ bồn thảo (Sedum sp), kim anh (Rosa laevigata), thổ sâm (Talinum patens) v.v…
Rừng núi đá vôi còn có nhiều cây cảnh , đặc biệt là các loài phong lan như lan hoà thảo hoa vàng,
vẩy rồng, hài vệ nữ v.v…và tạo nên những hòn non bộ đầy ý nghĩa nhân văn và hướng thiện.
Cảnh quan rừng núi đá vôi cũng tạo nên những hang động nổi tiếng như động Hương Tích - động
đẹp nhất trời Nam, động Phong Nha - Kẻ Bàng và vịnh Hạ Long đã được công nhận là di sản
thiên nhiên của thế giới v.v…
Hệ thống các hồ Caxtơ tự nhiên mà lớn nhất là hồ Ba Bể, hồ ở
Thăng Hen (Cao Bằng), những hang nước ngọt lộ thiên ở Quảng Bình… cùng với nhiều vẻ đẹp
hùng vĩ, rừng núi đá vôi Việt Nam đã, đang và sẽ là những nơi có nhiều tiềm năng để phát triển
du lịch sinh thái.
Về ý nghĩa phòng hộ, với diện tích rừng, kể cả trảng cây bụi, trảng cỏ trên núi đá vôi đã
đóng góp phần đáng kể vào độ che phủ rừng của cả nước. Trong lòng núi đá vôi chứa đựng
những dòng sông ngầm với lưu lượng nước lớn giữ vai trò điều tiết nguồn nước. Hàng trăm nghìn
con suối đổ ra các sông ở miền Trung và miền Bắc nước ta được bắt nguồn từ những khối núi đá
vôi. Do đó, hệ sinh thái này còn có nhiệm vụ điều tiết nước và các chế độ thủy văn, khí hậu cho
những vùng hạ lưu lân cận.
Về ý nghĩa khoa học: Nhiều vùng rừng núi đá vôi đã được quy hoạch xây dựng thành
vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Rừng núi đá vôi tập trung nhiều loài thực vật có giá trị
về kinh tế và khoa học, bao gồm các loài cây lá rộng như : mun sọc (Diospyros dasyphylla), đinh
vàng, đinh thối, trai lí, kiền kiền, lát hoa v.v… và các loài cây lá kim như : hoàng đàn, nghiến, pơ
mu, kim giao, thông Pà Cò, thiết sam giả, thiết sam giả lá ngắn, hoàng đàn giả v.v... trong đó có
nhiều loài đã được ghi vào sách đỏ. Nhiều loài động vật quý hiếm như hươu xạ, sơn dương, voọc
mông trắng, voọc đầu trắng, voọc mũi hếch, vượn đen, gà lôi trắng, cú lợn rừng, ác là, gà lam
đuôi trắng, rắn hổ chúa, rùa hộp trán vàng, rùa núi vàng v.v…
Thảm thực vật trên núi đá vôi là
một hệ sinh thái đặc biệt và rất nhạy cảm, do đó mọi tác động tới hệ sinh thái này sẽ gây ra những
biến đổi không thể lường trước được, đặc biệt đây còn là nơi có tiềm năng đa dạng sinh học rất
cao. Vì thế nghiên cứu thảm thực vật đá vôi mang một ý nghĩa khoa học quan trọng. Có nhiều
loài mới cả động và thực vật trong thời gian gần đây được công bố là thành phần của hệ sinh thái
rừng núi đá vôi.
3.5 . Phân bố
Diện tích rừng núi đá (chủ yếu là núi đá vôi) ở Việt Nam có 1.152.200 ha, trong đó diện
tích rừng che phủ 396.200 ha (34,45%),(theo Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 1999). Núi đá vôi
phân bố trong 24 tỉnh và thành phố nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung
Bộ. Các tỉnh có núi đá vôi là: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình.
Nguyễn Huy Phồn và cộng sự (1999) đã phân vùng núi đá vôi thành 5 vùng như sau :
- Vùng Cao Bằng - Lạng Sơn
- Vùng Tuyên Quang - Hà Giang
- Vùng Tây Bắc - Tây Hoà Bình - Thanh Hoá
- Vùng Trường Sơn Bắc
- Vùng quần đảo
Phân bố theo vĩ độ: từ Hà Tiên đến Cao Bằng (23o
B), chủ yếu từ Quảng Bình (17o
B) trở
ra.
Phân bố theo đai độ cao từ vài chục mét lên đến 1.200 m so với mực nước biển.
.4. Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên
4.1 . Điều kiện sinh thái
- Khí hậu
a) Vành đai khí hậu á nhiệt đới núi thấp
Đây là vành đai khí hậu còn chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa. Vành đai khí hậu này ở
miền Bắc từ 700 - 1.600 m và ở miền Nam từ 1.000 - 1.800 m so với mực nước biển.
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15o
- 20o
C
Nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất dưới 15o
C
ở miền Bắc và dưới 20o
C ở
miền Nam
Nhiệt độ không khí trung bình tháng trong năm giao động từ 5o
- 20o
C
Lượng mưa trung bình hàng năm : 600 - 1.200 mm
Chỉ số khô hạn : ( 4 - 6 ) ( 1 - 2 ) ( 1 )
Mùa khô từ 4 - 6 tháng, mùa hạn từ 1 - 2 tháng và có 1 tháng kiệt.
. Phân bố
Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên có hai loại :
- Hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt đới núi thấp phân bố chủ yếu ở vùng núi như Yên Châu,
Mộc Châu (Sơn La), Nghệ An, Hà Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng) v.v…
- Hệ sinh thái rừng lá kim ôn đới núi cao trung bình phân bố chủ yếu ở Sa Pa (Lào Cai),
Tuần Giáo (Lai Châu) Hà Giang, Tây Côn Lĩnh (Cao Bằng), Chư Yang Sinh (Nam Trung
Bộ), Lâm Đồng v.v…
Phân bố theo độ cao so với mực nước biển : 56
- Phân bố rừng lá kim á nhiệt đới :
Ở miền Nam, phân bố thông nhựa (Pinus merkusii) ở độ cao từ 600 - 1.000 m. Phân bố
thông ba lá (Pinus kesiya ) ở độ cao trên 1.000 m, ở một số địa phương có thể xuống thấp hơn. Ở
miền Bắc, thông nhựa phân bố xuống vùng thấp gần biển như Nghệ An, Quảng Ninh. Thông ba
lá xuất hiện ở Hoàng Su Phì ( Hà Giang ) ở độ cao khoảng trên 1.000 m.
- Phân bố rừng lá kim ôn đới:
ở miền Bắc trên 1.600 m và ở miền Nam trên 1.800 m so với mực nước biển.
5 Hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu (rừng khộp, dry dipterocarp forest)
5.1
5.1 . Điều kiện sinh thái
Những nhân tố sinh thái sau đây tham gia vào quá trình hình thành rừng khộp :
- Khí hậu :
Khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông lạnh nhưng có một mùa khô điển hình.
Tổng tích nhiệt hàng năm từ 7.500 - 9.000o
C. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm từ 21o
-
27o
C. Nhiệt độ không khí tối cao dưới 40o
C. Nhiệt độ không khí tối thấp không dưới 10o
C.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.200 - 1.800 mm. Chế độ mưa ẩm rất khắc nghiệt.
Khí hậu có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm đến 90% tổng
lượng mưa cả năm. Mùa khô khắc nghiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Hàng năm có
4 - 6 tháng khô, 1 - 2 tháng hạn, 1 tháng kiệt.
Điều kiện thuỷ văn cũng gây ảnh hưởng đến chế độ nước của rừng khộp. Trong mùa khô,
nước mặt và nước ngầm ở rừng khộp rất cạn kiệt. Hệ thống sông suối ở cao nguyên không nhiều
như đồng bằng. Nước là vấn đề quan trọng đối với Tây Nguyên, nhất là trong mùa khô. Mùa mưa
lại mưa tập trung gây úng ngập hình thành nên những nhóm kiểu lập địa rừng khộp khác nhau.
Độ ẩm không khí trung bình năm 80 - 85%, trong mùa khô độ ẩm không khí chỉ có 72 -
73%.
- Đất :
Đất rừng khộp thuộc loại xấu, chủ yếu là các loại đất xám đỏ phát triển trên đá bazan,
granit có tầng đất mỏng, kết vón mạnh, có nơi đang xuất hiện đá ong. Do xói mòn tầng đất mặt,
nhiều nơi có đá lộ trên mặt đất. Cháy rừng hàng năm tiêu huỷ lớp phủ thực bì. Do vậy, tầng đất
mặt mỏng và khô cứng, thậm chí có nơi không có tầng A, có nơi không có tầng B, tầng C lộ gần
mặt đất. Cấu tượng đất bị phá vỡ. Mùa mưa đất kết dính gây úng nước, mùa khô lượng bốc hơi
mặt đất nhanh, không có khả năng giữ độ ẩm, dễ gây hạn hán.
5.2 . Cấu trúc rừng
Khu hệ thực vật rừng khộp có liên quan đến khu hệ thực vật Malaixia - Inđônêxia với tổ
thành loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế. Khu hệ thực vật rừng khộp bao gồm 309
loài cây thuộc 204 chi, 68 họ, trong đó có hơn 90 loài cây gỗ với 54 loài cây gỗ lớn, gỗ trung
bình.
Ngoài những loài cây họ Dầu chiếm ưu thế còn có đại diện của một số họ khác như: cẩm
xe (Xylia xylocarpa) thuộc họ Mimosaceae, lọng bàng (Dilleniahe terosepala) thuộc họ
Dilleniaceae, đẻn (Vitex pendencularia) thuộc họ Verbenaceae, mai xiêm (Ochrocarpus sp) thuộc
họ Cheriaceae, mà ca (Buchanania arborescens) thuộc họ Anacardiaceae v.v…. Ở điều kiện lập
địa tốt, có thể xuất hiện một số loài cây có giá trị như giáng hương (Pterocarpus macrocarpus ),
cẩm lai (Dalbergia bariensis) v.v…Ven sông suối có thể gặp một số loài như dầu nước, sao đen
v.v… nhưng với số lượng ít và không phải là loài cây điển hình của rừng khộp.

Rừng khộp còn gọi là rừng thưa cây họ dầu (Dipterocarpaceae). Mật độ rừng thưa, tán cây
không giao nhau. Trong mùa khô, cây rụng lá từ 3 - 4 tháng. Mật độ cây từ đường kính 10 cm trở
lên từ 100 - 150 cây/ha đến 300 - 350 cây/ha. Rừng thường chỉ có một tầng cây gỗ, nơi sinh 62
trưởng tốt đạt chiều cao 20 - 25 m, nơi sinh trưởng xấu chỉ cao 7 - 8 m. Tầng thảm tươi không
rậm rạp.
5.3 . Ý nghĩa kinh tế, phòng hộ và khoa học
Với diện tích khoảng hơn nửa triệu hécta. Rừng khộp là một nguồn tài nguyên rừng đặc
biệt của Tây Nguyên nói riêng và của cả nước nói chung. Rừng khộp có những loài cây gỗ lớn có
giá trị, tài nguyên lâm sản ngoài gỗ như dầu nhựa, tananh, dược liệu v.v…và tài nguyên động vật
khác. Các loài cây rừng khộp có tính thích nghi cao với khô hạn và lửa rừng, khó có thể tìm ra
loài cây nào khác thay thế. Đây là sản phẩm của tự nhiên đã được chọn lọc qua một quá trình lịch
sử lâu dài.
Rừng khộp giữ vai trò phòng hộ môi trường và bảo vệ đất Tây Nguyên.
Về ý nghĩa khoa học, rừng khộp là một hệ sinh thái rừng độc đáo chỉ có ở Tây Nguyên và
làm phong phú thêm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam.
5.4 Phân bố
Rừng khộp phân bố tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai. Ngoài ra còn có ở Di Linh (Lâm
Đồng) và những đám rừng khộp nhỏ phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Sông Bé, Tây Ninh
v.v...
Về vĩ độ: rừng khộp phân bố từ vĩ độ 14o
B (Gia Lai) đến vĩ độ 11o
B (Tây Ninh).
Về độ cao so với mực nước biển : rừng khộp phân bố tập trung ở độ cao từ 400 - 800 m.
.6. Hệ sinh thái rừng ngập mặn
6.1. Điều kiện sinh thái và quần thể cây ngập mặn
Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố sát ngay ven biển và chịu ảnh hưởng nhiều bởi các
nhân tố sinh thái như: khí hậu, thuỷ văn (dòng nước, độ mặn v.v…), địa hình, sản phẩm bồi tụ
. Phân bố
Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Nam thuộc 28 tỉnh và thành phố.
Phan Nguyên Hồng (1999) đã chia vùng phân bố rừng ngập mặn Việt Nam thành 4 khu vực với
12 tiểu khu và xác định điều kiện sinh thái cho từng tiểu khu :
a) Khu vực I: ven biển Đông Bắc

Khu vực này được chia thành 3 tiểu khu :

Tiểu khu 1: từ Móng Cái đến Cửa Ông, bờ biển dài khoảng 55 km. Tiểu khu này gồm lưu
vực cửa sông Kalong, lưu vực vịnh Tiên Yên - Hà Cối và vùng ven bờ cửa sông Tiên Yên
- Ba Chẽ.

Tiểu khu 2: từ Cửa Ông đến Cửa Lục, bờ biển dài khoảng 40 km.

Tiểu khu 3: từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn, bờ biển dài khoảng 55 km.
b) Khu vực II: ven biển đồng bằng Bắc Bộ

Khu vực này được chia thành 2 tiểu khu :

-

Tiểu khu 1: từ mũi Đồ Sơn đến cửa sông Văn Úc

-

Tiểu khu 2: từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường thuộc khu vực bồi tụ của hệ sông
Hồng.
c) Khu vực III: ven biển Trung Bộ từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tầu.

Khu vực này được chia thành 3 tiểu khu :

-

Tiểu khu 1: từ Lạch Trường đến mũi Ròn

-

Tiểu khu 2: từ mũi Ròn đến mũi đèo Hải Vân

-

Tiểu khu 3: từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tầu
d) Khu vực IV: ven biển Nam Bộ

Khu vực này được chia thành 4 tiểu khu:-

Tiểu khu 1: từ mũi Vũng Tầu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển Đông Nam Bộ)

-

Tiểu khu 2: từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng sông Cửu
Long)

-

Tiểu khu 3: từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (ven biển tây nam bán đảo Cà
Mau)

-

Tiểu khu 4: từ cửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nãi, Hà Tiên (ven biển phía tây
bán đảo Cà Mau)
3.6.2. Điều kiện sinh thái và quần thể cây ngập mặn

Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố sát ngay ven biển và chịu ảnh hưởng nhiều bởi các
nhân tố sinh thái như: khí hậu, thuỷ văn (dòng nước, độ mặn v.v…), địa hình, sản phẩm bồi tụ
v.v…
a) Khu vực I: Ven biển Đông Bắc

Đây là vùng có đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, địa hình phức tạp.

-

Về khí hậu:

Đây là vùng khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng
trong năm biến động lớn (15 - 30o C). Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng (16o5 C), nhiệt độ
thấp nhất tuyệt đối xuống đến 1oC. Nhiệt độ là nhân tố chủ đạo không chỉ ảnh hưởng đến sinh
trưởng mà còn ảnh hưởng đến tổ thành loài cây rừng ngập mặn. Một số loài cây ngập mặn ở miền
Nam không thấy xuất hiện ở đây.

Lượng mưa trung bình hàng năm : 1.800 - 2.500 mm

Mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10-11

Tháng khô nhất trong năm là tháng 1 nhưng vẫn có lượng mưa tới 34 mm (Móng Cái) và
20 mm (Hòn Gai). Nhờ vậy mà có lượng nước ngọt phong phú hơn so với miền Nam, thuận lợi
cho các loài cây ngập mặn sinh trưởng.
-

Về thuỷ văn:

Thuỷ triều mang tính chất nhật triều đều. Chế độ thuỷ triều ở đây lớn nhất trên toàn bờ
biển Việt Nam. Mực nước thuỷ triều đạt đến 4 - 4,5 m nên ảnh hưởng của nước triều mặn vào sâu
trong đất liền tạo điều kiện cho dải rừng ngập mặn phân bố rộng hơn. Độ mặn trung bình năm
của nước biển tương đối cao (26 - 27,5%) và ít biến động. Độ mặn giảm trong tháng 8 nhưng vẫn
đạt đến 20,8 - 21,5%.

-

Về địa hình:

Tiểu vùng này có nhiều đảo ngoài vịnh Hạ Long ngăn cản ảnh hưởng của bão và gió mùa
Đông Bắc nên tác động của sóng biển bị giảm đáng kể, phù sa được cố định lại ở bờ biển thuận
lợi cho các loài cây ngập mặn sinh trưởng phát triển.

-

Về đất:

Đất trầm tích bãi biển nghèo, lớp bồi tụ mỏng, chủ yếu là cát nhỏ và cát bột, tỉ lệ Fe2O3 /
FeO = 1, cao hơn nhiều so với rừng ngập mặn Nam Bộ, pH = 4 - 6 đất nghèo phốt pho, nhiều
H2S, bãi triều bị xâm thực v.v…nên phân bố rừng ngập mặn bị thu hẹp.

-

Quần thể cây ngập mặn:

Điều kiện sinh thái trên đây đã làm cho khu hệ thực vật ngập mặn ở đây tương đối phong
phú và có khả năng chịu mặn cao. Có loài chỉ phân bố ở khu vực I mà không có ở các khu vực
khác như chọ, hếp Hải nam. đâng, vẹt dù, trang là loài cây phổ biến ở đây nhưng lại rất ít thấy
xuất hiện ở rừng ngập mặn Nam Bộ.
Tiểu khu 1 : từ Móng Cái đến Cửa Ông

Về khí hậu:

Đây là vùng khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh. Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ không khí
trung bình dưới 20oC. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 - 2.400 mm, thậm chí lượng
mưa ở Tiên Yên lên đến trên 3.000mm/năm.

Về thuỷ văn:

Tiểu vùng này chỉ có sông suối nhỏ ngắn dốc, ít phù sa. ở vùng này, động lực triều và
động lực sóng giữ vai trò quan trọng. Nằm trong vịnh kín, có hệ thống đảo chắn gió nên phù sa
chảy ra cửa sông được ngưng đọng lại ở bờ biển tạo ra những bãi triều phẳng. Dòng chảy ven bờ
khá phức tạp, chảy theo hướng đông bắc - tây nam đem theo nguồn giống đến bãi triều. Do vậy
mà phân bố các loài cây ngập mặn tương đối đồng đều. Chế độ nhật triều. Thuỷ triều tương đối
thuần nhất, biên độ triều khoảng 4 m. Do lòng sông dốc nên cây ngập mặn không phân bố sâu
vào nội địa. Độ mặn nước biển tương đối cao ( độ mặn trung bình năm tại Cửa Ông là 26,6% ),
thích hợp với những loài cây chịu mặn cao.

Nhiệt độ và nước là hai nhân tố hạn chế tính đa dạng về tổ thành loài cây rừng ngập mặn
và khả năng sinh trưởng của chúng. Đây là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc.
Nhiệt độ không khí, nước và đất xuống thấp và kéo dài trong thời kì gió mùa. Tác động này đã
hạn chế sinh trưởng cây rừng ngập mặn và làm cho chúng có kích thước nhỏ hơn so với loài cây
rừng ngập mặn ở Nam Bộ.

Về địa hình:

Hệ thống đảo ven bờ biển che chắn nên tác động của sóng yếu.

Về đất:

Sản phẩm bồi tụ mỏng, đá vỡ, cuội, sỏi, cát. Trầm tích tầng mặt có thành phần cát khô là
chính. Đất ngập mặn nhưng không nhiều chất hữu cơ.
Quần thể cây ngập mặn:

Trên bãi mới bồi xuất hiện quần thể mắm biển thuần loài, có nơi hỗn giao với sú, muối
biển v.v…

Trên các bãi triều ngập trung bình hình thành các quần thể hỗn giao các loài đâng, trang,
vẹt dù, sú v.v…

Trên các bãi triều cao quần thể vẹt dù chiếm ưu thế.

Các loài cây như vẹt dù, đâng, mắm biển cao nhất cũng chỉ đạt đến 8 - 10 m, nhỏ hơn
nhiều so với cây rừng ngập mặn ở Cà Mau.
Tiểu khu 2: từ Cửa Ông đến Cửa Lục

Về khí hậu:

Đây cũng là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh. Hàng năm có 4 tháng
nhiệt độ không khí trung bình dưới 20oC. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 - 2.400 mm.

Về thuỷ văn:

Vùng này ít cửa sông, sông ngắn, độ phù sa thấp, lưu lượng nước ít. Do vậy, bãi triều ven
biển hẹp. Chế độ nhật triều . Độ mặn biến động từ15 - 25%.

Về địa hình:

Có hệ thống đảo che chắn nên tác dụng của sóng yếu. Trong lục địa, núi tiếp cận sát với
biển, địa hình lồi lõm.

Về đất:

Sản phẩm bồi tụ mỏng, nhiều cát, sỏi, đá. Đất ngập mặn nhưng không có nhiều chất hữu

Quần thể cây ngập mặn:

Hình thành các quần thể hỗn giao đâng, vẹt dù, trang v.v…nhưng chiều cao chỉ đạt từ 2 -
3 m, sú và mắm biển chỉ cao trên dưới 1 m.

Trên những bãi lầy nhiều đá sỏi và cát thô xuất hiện quần thể mắm biển chiếm ưu thế.

Rừng ngập mặn ở đây không phát triển rộng mà chỉ hình thành nên những giải rừng hẹp
ven bờ biển.
- Tiểu khu 3 : từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn

Về khí hậu:

Tuy là khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh nhưng nhiệt độ nước biển cao hơn so với tiểu
khu 1 và 2. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 - 2.000 mm.

Về thuỷ văn:

Nhiều sông lớn thuộc hệ thống sông Thái bình như sông Bạch Đằng, sông Chanh, sông
Kinh Thầy, sông Cấm v.v…và các kênh rạch đã đưa phù sa ra ngoài cửa sông và hình thành nên
những đảo nổi tạo điều kiện cho các loài cây ngập mặn xuất hiện và phát triển. Chế độ nhật triều.
Độ mặn nước biển biến đổi theo mùa, mùa khô 20% nhưng mùa mưa từ 9 - 15%.
Về địa hình:

Vùng này có địa hình bằng phẳng hơn tiểu khu 1 và 2, ít chịu ảnh hưởng của sóng lớn do
có hệ thống đảo che chắn.

Về đất:

Sản phẩm bồi tụ ở đây dày, nhiều bùn sét (50 - 60 %- ), ít cát. Trầm tích ở đây cùng
phong phú hơn tiểu khu 1 và 2, thuận lợi cho rừng ngập mặn sinh trưởng phát triển và có kích
thước lớn hơn.

Quần thể cây ngập mặn:

Trên bãi triều lầy xuất hiện quần thể mắm trắng và sú

Trên bãi triều ngập trung bình xuất hiện quần thể đâng, vẹt dù, trang v.v…

Trên bãi triều cao xuất hiện quần thể tra, giá, vạng hôi v.v…

Các quần thể cây ngập mặn trên đây đều có kích thước nhỏ.
b) Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ

-

Về khí hậu:

Tuy là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh nhưng nền nhiệt độ ở đây cao hơn
khu vực I. ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc yếu hơn khu vực I. Hàng năm có khoảng 2 tháng
nhiệt độ không khí trung bình dưới 20oC. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất trong năm thường
trên 10oC. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.300 - 1.900 mm.

-

Về thuỷ văn:

Đây là vùng bồi tụ của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thuộc vùng bờ biển đồng
bằng Bắc Bộ. Vùng ven biển này có cả q
 
Gửi ý kiến