Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

can bang sinh thai

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Y Muxe Liêng
Ngày gửi: 16h:19' 09-09-2011
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 390
Số lượt thích: 0 người
BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 4
CHỦ ĐỀ:
CÂN BẰNG SINH THÁI
Thế giới muôn màu
CÂN BẰNG SINH THÁI LÀ GÌ?
HÃY GIẢI ĐÁP!
VÌ SAO MẤT CÂN BẰNG SINH THÁI?
I. Mất cân bằng sinh thái
Một số nguyên nhân và biểu hiện mất cân bằng sinh thái


Các quá trình tự nhiên như: núi lửa, động đất, sóng thần, bão, lũ lụt,...
Sự cân bằng của hệ sinh thái bị phá vỡ do quá
trình tự nhiên và nhân tạo.
Các quá trình nhân tạo chính là các hoạt động sống của con người như:
tiêu diệt một loại thực vật hay động vật, hoặc làm tăng nhanh số lượng và chất lượng một cách đột ngột của một loài nào đó trong hệ sinh thái như đưa vào hệ sinh thái một hay nhiều loại sinh vật mới lạ (các loài ngoại lai)
Việt nam đã nhập 41 loài động vật thủy sinh lạ trong vòng 50 năm qua. Bộ thủy sản cho biết có 7 loài cần được theo dõi nghiêm ngặt do tác hại của chúng (ốc bươu vàng, cá tỳ bà, cá nheo Âu, cá hổ, rùa tai đỏ , cá xấu Cuba, chuột hải ly)


7.loài động vật thủy sinh
VD: Cá hổ pirama (còn gọi là cá kim cương, cá răng, tên khoa học là Serralmus nattereri). là loài cá có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ, thuộc loại ăn thịt, hung dữ. Đã được đưa vào thị trường cá cảnh nước ta vào khoảng thời gian 1996-1998. khi chúng có mặt trong sông, hồ thì động vật thủy sinh bị tiêu diệt toàn bộ, tác hại khó mà lường hết được.
VD: loài cầy mangut nhỏ được đưa tới Ấn Độ để kiểm soát nạn chuột. Nhưng rất mau chóng chúng đã triệt hại một số loài chim, bò sát và lưỡng cư ở vùng này.





Hay loài kiến "mất trí" đã tiêu diệt 3 triệu con cua trong 18 tháng trên đảo Giáng sinh, ngoài khơi Ấn Độ Dương.
Loài cầy Mangut
Phá vỡ nơi cư trú vốn đã ổn định từ trước tới nay của các loài sinh vật.
- Ðưa vào các hệ sinh thái tự nhiên các hợp chất nhân tạo mà sinh vật không có khả năng phân huỷ như các loại chất tổng hợp, dầu mỡ, thuốc trừ sâu, kim loại độc hại v.v... làm nhiễm độc và gây ô nhiễm môi trường sống của sinh vật


HÃY XEM MỘT VIDEO
Biến đổi khí hậu toàn cầu: sử dụng nhiên liêu hóa thạch, khí thải giao thông, …

HELP
ME!
HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH!
LỢI
HẠI
Như đã biết, trong điều kiện tự nhiên, trong bầu khí quyển đã tồn tại sẵn một lượng CO2 nhất định, nhờ lượng CO2 này và một số chất khí khác có khả năng gây ra hiệu ứng nhà kính mà nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển mới được duy trì ở mức phù hợp với các sinh vật nói chung và con người nói riêng. Tuy nhiên, do các hoạt động của con người, đặc biệt là do nhu cầu sử dụng năng lượng gia tăng của con người, hàm lượng CO2 có trong bầu khí quyển dần dần gia tăng, dẫn đến gia tăng tác động của hiệu ứng nhà kính, làm gia tăng nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển.
Bản thân hiệu ứng nhà kính không có tội, thậm chí phải nói rõ hiệu ứng nhà kính còn rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các sinh vật trên Trái đất. Tuy nhiên, một khi con người tác động làm mất đi sự cân bằng sinh thái, hiệu ứng nhà kính lại trở thành một kẻ tội đồ đáng ghét và cần phải đưa ra xử lí.
II.Cân bằng sinh thái
1.Khái niệm
Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ sinh thái, hướng tới sự thích nghi cao nhất với điều kiện sống.

Hệ sinh thái là một hệ thống động lực hở và tự điều chỉnh. Sự tự điều chỉnh của hệ sinh thái là kết quả của sự điều chỉnh của từng cá thể, từng quần thể, từng quần thể.

Cân bằng sinh thái được tạo nên bởi khả năng tự lập lại cân bằng giữa các quần thể và cân bằng các vòng vật chất và năng lượng giữa các thành phần trong hệ sinh thái
QUẦN THỂ CÂN BẰNG
QUẦN THỂ MẤT CÂN BẰNG
BẠN NGHĨ GÌ QUA NHỮNG
HÌNH ẢNH TRÊN?
2.Biểu hiện của cân bằng sinh thái
2.1 Cân bằng nội hệ sinh thái
là khả năng chống chọi hoặc đối kháng của các hệ sinh thái đối với mọi sự biến đổi để duy trì trạng thái cân bằng.
Biểu hiện:
a. Điều chỉnh số lượng cá thể trong quần xã
Nhìn chung, đối với phần lớn các loài, từ những sinh vật bậc thấp đến bậc cao, cơ chế tổng quát điều chỉnh số lượng của quần thể chính là mối quan hệ nội tại được hình thành ngay trong các cá thể cấu trúc nên quần thể và trong mối quan hệ của các quần thể sống trong quần xã và hệ sinh thái
Trong quá  trình  điều  chỉnh  số  lượng  của  quần  thể,  mật  độ  của chính quần thể có vai trò cực kỳ quan trọng như một “tín hiệu sinh học” thông báo cho quần thể “biết” phải phản ứng như thế nào trước biến đổi của các yếu tố môi trường.
b.Tỉa thưa tự nhiên

Là dạng điều tiết sự biến động của một quần thể thực, động vật phù hợp với nguồn sống nhằm mục đích sinh tồn và duy trì quần thể ở trạng thái cân bằng.
Ở thực vật : khi mật độ cá thể trong quần thể quá cao dẫn đến thiếu chất dinh dưỡng, thiếu ánh sáng,…các cá thể cạnh tranh gay gắt với nhau làm mật độ giảm.

VD: trong một quần xã rừng, nếu như mật độ của các cá thể phát triển quá dày dẫn đến các loài cây sẽ bị thiếu ánh sáng, chất dinh dưỡng cây nào không đủ sức vươn lên để lấy ánh sáng và chất dinh dưỡng sẽ bị chết sớm hơn so với tuổi thọ của chúng
Mật độ cây trong rừng giảm.
Ở động vật: khi cá thể trong đàn vượt quá khả năng cung cấp của nguồn sống của môi trường, xảy ra tình trạnh tranh giành thức ăn, nơi ở,…thậm chí có hiện tượng ăn lẫn nhau.

VD: loài mọt bột lớn, vào giai đọan cá thể của loài phát triển quá nhiều dẫn đến nguồn thức ăn cạn kiệt thì chúng ăn trứng do chúng đẻ ra. Hoặc là cá lớn ăn cá bé cùng loài…

VD: G.V. Nikolski (1961, 1974), đã nghiên cứu về sự điều chỉnh số lượng ở các quần thể cá để đạt trạng thái cân bằng và đưa ra kết quả như sau:
Nếu điều kiện môi trường suy giảm, nhất là mức độ đảm bảo thức ăn, thì trong quần thể xảy ra:
+ Biến dị kích thước của các cá thể, tức là một bộ phận cá thể tăng trưởng bình thường, bộ phận còn lại chậm lớn, có khi còn hình thành dạng còi.
Hiệu quả trước hết là giảm cạnh tranh thức ăn trong nội bộ loài.

+ Do phân ly về kích thước mà dãy tuổi bước vào sinh sản lần đầu được mở rộng, tức là bộ phận có kích thước nhỏ sẽ tham gia vào đàn đẻ trứng muộn hơn, làm giảm số trứng đẻ ra trong cùng thế hệ.
+ Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối cũng giảm ở những cá thể tham gia vào đàn sinh sản, nhất là ở nhóm tuổi cao.
+ Chất lượng sản phẩm sinh dục thấp, khả năng thụ tinh kém, tỷ lệ trứng ung (thối) cao, sức sống của con non thấp.
+ Tăng mức tử vong của con non và những cá thể trưởng thành gầy yếu, già do bị ăn vật dữ ăn dần dần....

Hậu quả tổng hợp là giảm số lượng chung của quần thể.
Ngược  lại,  khi  điều  kiện  môi  trường  được  cải  thiện  thì  các  hiện tượng trên hoàn toàn ngược lại và hệ quả là số lượng chung của quần thể tăng lên.
c. Cân bằng các mối quan hệ trong quần xã
Trong mối quan hệ giữa vật chủ- con mồi thì vật chủ là yếu tố tỉa đàn, khi con mồi bị khai thác thì đồng thời lượng thức ăn do nó sử dụng cũng được giải phóng, lúc đó nguồn thức ăn của vật chủ lại giảm. Do vậy vật chủ buộc phải giảm số lượng nhờ cơ chế nội tại. Con mồi của chúng lại có cơ hội khôi phục lại số lượng, như vậy điều kiện dinh dưỡng của vật chủ lại được cải thiện. Quan hệ trên tạo nên trong thiên nhiên một cân bằng động giữa số lượng vật chủ và con mồi
Trong mối quan hệ cộng sinh
Sự cộng sinh của loài kiến Pseudomyrmes nigrocinct
   và cây Acacia (Acacia  corigera) được Thomas belt phát hiện vào khoảng năm 1870 .
Thoạt đầu cứ tưởng
loài kiến chỉ khai thác
vật chủ của mình,song cả hai
đều có những thích nghi đặc biệt
để chung sống với nhau So  với  những  cây Acacia  đơn  độc (không có loài kiến trên cùng sống) thì cây cộng sinh có gai to và rỗng, lá có cấu trúc rất đặc biệt và giàu chất dinh dưỡng. Trong cuộc sống chung này, kiến giữ cho cây khỏi bị côn trùng ăn thực vật khác tấn công, làm giảm sự gặm nhắm chồi non, lá non của các loài thú.
Hơn thế nữa kiến còn ngăn cản dây leo đe dọa cây chủ. Cây  Acacia  cũng  có  tầm  quan  trọng tương tự trong đới sống của kiến như cung cấp nơi ở, nguồn thức ăn dồi dào. Giống như hệ thống con mồi - vật dữ, vật chủ - ký sinh... mật độ của kiến ảnh hưởng đến mật độ quần thể cây chủ và ngược lại .
Trong cuộc sống chung này, kiến giữ cho cây khỏi bị côn trùng ăn thực vật khác tấn công, làm giảm sự gặm nhắm chồi non, lá non của các loài thú.

2.2 Cân bằng ngoại của hệ sinh thái
là sự tác động đồng thời của các yếu tố có lợi và có hại từ môi trường một cách cân bằng lên hệ sinh thái để duy trì trạng thái cân bằng tương đối.
biểu hiện
Điều chỉnh về sinh lí, tập quán và di cư
Di cư là một yếu tố phụ thuộc mật độ. Ở động vật, mật độ đông tạo ra những thay đổi về sinh lý và tập tính. Những biến đổi đó làm xuất hiện sự di cư khỏi vùng để giảm mật độ chung của quần thể.

Vd: rệp vừng ở điều kiện
thuận lợi, trong quần thể
có rất nhiều con cái có cánh
và có ưu thế trong cạnh tranh,
do đó, chúng có thể rời bỏ nơi
ở của mình để đi nơi khác.
Vùng
phân bố
của sinh vật
được mở rộng
Tạo nên
hệ sinh thái
với cân bằng mới
b. Cân bằng các vòng tuần hoàn vật chất và chuyển hóa năng lượng giữa các thành phần trong hệ sinh thái
chu trình sinh địa hóa cacbon
chu trình sinh địa hóa Nito (đạm)
chu trình sinh địa hóa Photpho (lân)
chu trình nước.
chu trình lưu huỳnh
Chu trình nước
Chu trình lưu huỳnh
III.Ý nghĩa của cân bằng sinh thái
Cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh mà luôn vận động, phát triển. Khi có một tác nhân nào đó của môi trường bên ngoài, tác động tới bất kỳ một thành phần nào đó của hệ sinh thái, nó sẽ biến đổi đồng thời kéo theo sự biến đổi của các thành phần khác,từ đó dẫn đến sự biến đổi cả hệ với cơ chế:
Các thành phần khác sẽ khôi phục thành phần bị biến đổi để duy trì sự cân bằng
Các thành phần khác thay đổi theo để tiến tới cân bằng mới, khác với tình trạng cân bằng trước khi bị tác động.
Khả năng thiết lập trạng thái cân bằng mới của hệ là có hạn. Nếu một thành phần nào đó của hệ bị tác động quá mạnh, nó sẽ không khôi phục được làm cho toàn hệ mất cân bằng, suy thoái.

cân bằng sinh thái duy trì sự sống

Sự hiểu biết về diễn thế cho phép ta chủ động điều khiển sự phát triển của diễn thế theo hướng có lợi cho con người bằng những tác động lên điều kiện sống như: cải tạo đất, đẩy mạnh biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, tiến hành các biện pháp thuỷ lợi, khai thác, bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên.

Con người cần phải hiểu rõ các quy luật tồn tại và vận động phát triển của hệ sinh thái để có những điều chỉnh và cân nhắc kỹ trước khi tác động lên một thành phần nào đó của hệ, để hạn chế đến mức thấp nhất gây suy thoái, mất cân bằng cho hệ sinh thái .

CÂN BẰNG SINH THÁI

VẤN
ĐỀ
TOÀN
CẦU

HÃY HÀNH ĐỘNG

CHÍNH CHÚNG TA
CHÂN THÀNH CẢM ƠN
THE END
No_avatar

hay quá !!cảm ơn nhiều!!tiền bối

No_avatar

hay

 

 
Gửi ý kiến