Chuyen de huong nghiep thang 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Anh Chi
Ngày gửi: 18h:56' 27-11-2008
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 26
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Anh Chi
Ngày gửi: 18h:56' 27-11-2008
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 26
Số lượt thích:
0 người
Y học (hay y khoa) là một nhánh của khoa học sức khoẻ nhằm mục đích chữa bệnh và giữ gìn sức khoẻ.
Y học được phát triển từ lâu ở phương Tây (truyền thống Hippocrates) cũng như ở Ấn Độ (y học Ayurvedic) và Trung Quốc (Đông y).
Trong khi đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa không cần minh chứng, cho rằng bệnh là do trạng thái mất thăng bằng giữa Âm Dương, Ngũ Hành, y học hiện đại phương Tây hay Tây y có khái niệm khoa học cho rằng bệnh là do rối loạn của một hay một số hệ thống, bộ phận nào đó của cơ thể và đòi hỏi chứng minh dựa trên dịch tễ học, giải phẫu học, sinh lý học, vi sinh học v.v... từ đó suy ra phương pháp chữa trị và phòng ngừa. Tất cả phương pháp này, từ thuốc của nội khoa cho đến phẫu thuật của ngoại khoa, muốn được cộng đồng y học công nhận đều phải qua nghiên cứu thống kê.
Y học là ngành nghiên cứu và thực hành. Khoa học trong y học phát triển hiểu biết về cơ thể người và các bệnh và các nghề nghiệp liên quan đến y học là những người được đào tạo để ứng dụng kiến thức y học vào thực hành.
Y học cơ bản
Giải phẫu học
Sinh hoá
Thống kê sinh học
Tế bào học
Phôi học
Dịch tễ học
Di truyền học
Mô - Phôi học
Miễn dịch học
Vi sinh học
Thần kinh học
Dinh dưỡng
Bệnh học
Dược lí học
Sinh lí học
Độc chất học
Triệu chứng học
Chuyên ngành chẩn đoán
Chẩn đoán hình ảnh
Siêu âm tim
Siêu âm tổng quát
Siêu âm não qua thóp
Sinh hoá
Vi sinh
Chuyên khoa
Nội khoa
Tim mạch
Ngoại khoa
Sản khoa
Nhi khoa
Sơ sinh
Nhãn khoa
Ung bướu
Huyết học
Chấn thương chỉnh hình
Tai Mũi Họng
Răng Hàm Mặt
Tâm thần học
Gây mê hồi sức
Hồi sức cấp cứu
Di truyền học (tiếng Anh: genetics) là một môn khoa học nghiên cứu về gene, Di truyền (heredity) và biến dị (variation) của sinh vật.
Sử dụng những phương pháp nghiên cứu hiện đại, di truyền học ngày nay xem xét các chức năng của từng gene nhất định. Mọi sinh vật đều lưu giữ thông tin di truyền của mình dưới dạng trình tự các nucleotide của phân tử DNA hoặc RNA (gọi cách khác là gene).
Gene cấu trúc mã hóa thông tin cần thiết cho quá trình tổng hợp các protein. Trong đó, protein là nhóm phân tử đóng vai trò quan trọng (nhưng không phải là hoàn toàn) quy định kiểu hình của sinh vật.
Gene điều hoà :điều hòa hoạt dộng của các gen
Gene nhảy :có thể di chuyển tới các vị trí khác của hệ gen để tạo ra nhiều biến dị Gene chỉ huy :chỉ huy hoạt động tổng hợp ARN.
Tháng 8-1945, nhân dân ta giành được chính quyền, nhưng đến tháng 12-1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ khắp trên cả nước. Trước muôn vàn khó khăn thiếu thốn, Ngành Y tế đã tập trung toàn bộ khả năng về nhân tài, vật lực phục vụ cho tiền tuyến. Cuộc sống và sức khỏe của nhân dân chưa có gì thay đổi so với thời kỳ trước năm 1945. Đói nghèo, bệnh tật, thất học, sinh đẻ nhiều vẫn là cái vòng luẩn quẩn của người Việt Nam.
Trong cuộc chiến tranh đầy khó khăn, gian khổ kéo dài suốt 9 năm, Ngành Y tế cách mạng vẫn duy trì và không ngừng phát triển các hoạt động chuyên môn, động viên nhân dân tham gia các phong trào vệ sinh phòng bệnh, sử dụng nhiều hình thức thích hợp để tuyên truyền giáo dục cho nhân dân những kiến thức trong việc giữ gìn sức khỏe.
Các viện vi trùng học tiếp tục sản xuất các loại vaccin phòng bệnh tả, đậu mùa, thương hàn, đảm bảo tiêm chủng cho toàn dân các vùng tự do, vùng sau lưng địch. Các bệnh viện, trường đại học, trung học, được di chuyển vào sâu trong rừng, sơ tán phân tán vào nhà dân hoặc được xây dựng trong các hang động để không làm gián đoạn công tác cấp cứu, khám chữa bệnh, công tác đào tạo cán bộ. Các phòng bào chế vẫn tiếp tục sản xuất thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ và các loại thuốc tê, thuốc mê góp phần đáng kể vào việc xử lý vết thương chiến tranh. Một số cơ sở tự sản xuất được bơm tiêm, kim tiêm, kìm, kẹp... Năm 1950 lần đầu tiên những lọ pênixilin được sản xuất từ phòng bào chế Trường Đại học Y khoa ở Việt Bắc đã mang lại nhiều kết quả trong việc chống nhiễm trùng các vết thương. ở chiến trường miền Nam xuất hiện phương pháp trị liệu Filatov, toa thuốc Nam căn bản góp phần to lớn vào việc giải quyết các khó khăn về thuốc.
Năm 1961 lần đầu tiên chúng ta sản xuất được vaccin sabin phòng bệnh bại liệt, rồi vaccin BCG để đến ngày nay chúng ta có quyền tự hào đã thanh toán được bệnh đậu mùa (1987) và bệnh bại liệt (2000).
Bước vào thời kỳ đổi mới, Ngành Y tế phải đối phó với những tác động của nền kinh tế thị trường, từng bước tháo gỡ khó khăn để thích ứng với cơ chế trị trường, đáp ứng được mong muốn của người dân ngày càng nhiều và càng cao về chăm sóc sức khỏe đã bị giảm sút sau 30 năm chiến tranh
. Do xác định được phương châm: đa dạng hoá các hoạt động của ngành, xã hội hoá công tác y tế, nên tuy chỉ mới 15 năm từ khi đổi mới đến nay, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã tiến được một bước dài, bao gồm một hệ thống các cơ sở y tế nhà nước, y tế tư nhân, hướng tới việc phục vụ nhân dân với số lượng nhiều hơn và chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn và công bằng hơn. Phương pháp quản lý các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước cũng thay đổi bằng cách thu một phần viện phí của người bệnh, xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế, cho phép mở rộng bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà thuốc tư. Nhiều tổ chức cá nhân đứng ra thành lập quỹ hỗ trợ bệnh nhân nghèo, nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo...
Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng đạt được nhiều thành tựu, trước hết là quan điểm chỉ đạo của ngành xuyên suốt 55 năm qua trong mọi lĩnh vực hoạt động. Chúng ta kế thừa và phát huy được nhiều bài thuốc, phương thuốc dân gian có hiệu quả, thành lập được 2 viện và 42 bệnh viện y học cổ truyền, 262 khoa học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa, 8000 cơ sở hành nghề tư nhân về y học cổ truyền, khám và chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho khoảng 30% bệnh nhân đến bệnh viện, đào tạo được hàng nghìn bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền, từng bước hiện đại hoá y học cổ truyền, trồng và di thực được nhiều cây thuốc quý, đóng góp nhiều kinh nghiệm cho các nước trên thế giới và đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc mở một trường đại học y học cổ truyền.
Về đào tạo chúng ta đã có một hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có khoảng 2.500 bác sĩ, 200 dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Chúng ta đã mở trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha và trong vòng mấy năm trở lại đây đã đào tạo ở trong nước cán bộ có trình độ cử nhân, chuyên khoa I và II, bảo vệ luận án thạc sĩ và tiến sĩ. Từ vài trăm cán bộ y tế vào những ngày đầu thành lập nước, đến nay đã có 25 vạn người, trong đó có 47 nghìn cán bộ đại học các loại và trên 1000 cán bộ trên đại học.
Số bác sĩ tính theo dân số hiện nay là 1 bác sĩ cho 2.600 dân (1999) so với năm 1945 là 1 bác sĩ cho 220.000 dân. Tỷ lệ này chưa cao nhưng điều đáng kích lệ là đến cuối năm 2000, dự kiến sẽ có 40% số xã có bác sĩ. Một việc khác mà 55 năm về trước chúng ta còn mơ ước nay đã trở thành sự thật là cán bộ y tế xã được hưởng trợ cấp hàng tháng do Nhà nước đài thọ.
Các chỉ tiêu sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, năm sau tiến bộ hơn năm trước. Theo đánh giá của cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nước ta đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP). Năm 2000 chỉ số phát triển con người (HDI) xác định mức độ phát triển con người trên cơ sở kết hợp các chỉ số về thành tựu giáo dục, tuổi thọ và thu nhập, Việt Nam được xếp ở vị trí 108 (tăng 2 bậc so với năm 1999) trong tổng số 174 nước, trong khi đó mức thu nhập bình quân đầu người, Việt Nam được xếp ở vị trí 132/174 nước. Chỉ số phát triển theo giới (GDI) được xếp ở vị trí 140 trên 194 nước.
Sáu bệnh truyền nhiễm ở trẻ em trước đây đứng đầu danh sách các bệnh có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, nay nhờ việc tiêm chủng rộng rãi chúng ta đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu
Từ con số 47 bệnh viện từ thời Pháp để lại, đến nay trong cả nước đã có 876 bệnh viện, 75 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, trên 1000 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực, số giường bệnh tăng lên từ 11,6 giường cho 100.000 dân (1954) đến nay là 169 giường cho 100.000 dân (1999). Tỷ lệ giường bệnh so với dân số nước ta tuy còn thấp so với nhiều nước song điều đángghi nhận là chấtlượng dịch vụkhám chữa bệnh không ngừng được nâng cao, ở các tỉnh, thành phố, bệnh viện đều được trang bị các loại máy móc dùng trong chẩnđoán và điều trị rất hiện đại như máy cộng hưởng từ, máy CT Scanner, máy chụp mạch máu, máy tán sỏi ngoài cơ thể, máy cô ban, máy siêu âm màu, máy xét nghiệm nhanh... Các công nghệ mũi nhọn của y học thế giới cũng đang được ứng dụng ở nước ta như ghép tạng, mổ nội soi, mổ tim, mổ tách trẻ song sinh, thụ tinh nhân tạo...
Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước.
Ngành dược
Ngành Dược và ngành Trang thiết bị cũng đã trở thành ngành kinh tế kỹ thuật. Chúng ta đã có những nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP, thị phần thuốc trong nước tăng nhanh, mức sử dụng thuốc khoảng 6 USD/ đầu người (1999). Tổng giá trị xuất khẩu thuốc và dược liệu đạt 15 triệu USD (1999). Về sản xuất trang thiết bị, các nhà máy của ta đã liên doanh liên kết với các nước sản xuất dụng cụ y tế thông thường, dụng cụ bằng cao su, chất dẻo và lắp ráp một số máy móc hiện đại.
Nhưng thành tựu có ý nghĩa nhất là chúng ta đã xây dựng được mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp cả nước, từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, từ đồng bằng trung du, các vùng xa xôi hẻo lánh đến tận biên giới hải đảo và đang mở rộng khắp thôn xóm bản làng với hơn 10.000 trạm y tế xã, y tế cơ quan xí nghiệp. Nhờ mạng lưới đó nước ta đã thực hiện được mục tiêu của tổ chức y tế thế giới đề ra là: sức khỏe cho mọi người năm 2000.
1
2
12
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Trò chơi ô chữ
Ô chữ
ĐÂY LÀ TÊN MỘT NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG Ở SƠN TÂY.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
SƠN TINH THUỶ TINH THUỘC THỀ LOẠI NÀO CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN?
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
VÌ VỤ ÁN VƯỜN………. MÀ CẢ NHÀ NGUYỄN TRÃI BỊ “TRU DI TAM TỘC”.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
NGƯỜI TA THƯỜNG GỌI LÊ HỮU TRÁC LÀ……...
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
“HỒI TRỐNG CỔ THÀNH” TRÍCH TRONG “TAM QUỐC…….”.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
ĐÂY LÀ MỘT TỈNH Ở PHÍA NAM TRUNG QUỐC NỔI TIẾNG VỀ CÀNH ĐẸP.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
ĐẶC SẢN CỦA TỈNH NÀY LÀ BÁNH ĐẬU XANH.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
NHÂN VẬT “TUYỆT GIAN” TRONG “TAM QUỐC DIỄN NGHĨA”, NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NƯỚC NGUỴ.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
ĐÂY LÀ TÊN MỘT LOÀI HOA RẤT THƠM ĐƯỢC DÙNG ĐỂ LÀM TRÀ.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
TÊN GỌI KHÁC CỦA TỪ Y HỌC.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
Y HỌC THEO CÁCH GỌI CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
THỦ ĐÔ CỦA NƯỚC TA
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
TUỆ TĨNH HOA ĐÀ
Tuệ Tĩnh ( Canh Ngọ 1330 - ? ) tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh. Quê quán ông ở làng Nghĩa Phú, phủ Thuợng Hồng, tỉnh Hải Dương, nên lấy tên hiệu là Hồng Nghĩa. Biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật.
Năm lên 6 tuổi, cha mẽ đều mất cả, ông được sư cụ chùa Hải Triều( chùa Giám) nuôi cho ăn học, đặt pháp danh là Tuệ Tĩnh. Sau lại gửi ông vào chủa Keo_Thái Bình tu học tiếp.Năm Tân Mão 1351 niên hiệu Thiệu Phong _ đời vua Trần Dụ Tông, ông thi đỗ Thái học sinh lúc mới 21 tuổi.
Không ra làm quan, ông về tu ở chùa Nghiêm Quan, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Bình, tỉnh Thái Bình, chuyên tâm nghiện cứu giáo lý Phật và y học. Mượn khuôn viên chùa làm vườn thuốc.
Từ đó Tuệ Tỉnh ngày ngày đi khắp đó đây, tìm kiếm các loài cây lạ, thử nghiệm dược tính, đem về vun trồng và chế biến thành dược phẩm dược liệu.
Với tấm lòng từ tâm và y thuật cao minh, ông đã chữa lành bệnh cho rất nhiều người, chỉ với cây thuốc có sẵn khắp nơi trong nước. Tiếng lành đồn xa, triều đính biết tiếng. Năm Giáp Tí 1384 đời vua Trần Phế Đế, ông được cử vào phái bộ sang nhà Minh.
Tại hoàng cung nhà Minh, ông lại gặp dịp “bốc thuốc chữa bệnh’ cứu sống người trong Hoàng tộc, vua Minh rất quý trọng, phong hiệu là “Đại y Thiền sư” và lưu giữ lại Kim Lăng không cho về nước. Sau ông mất ở Giang Nam Trung Quốc.
Người đời tôn xưng ông là vị Tổ của ngành y học cổ truyền, đã có công nghiên cứu và truyền bá môn thuốc Nam với phương châm “Nam dược trị Nam nhân” khẳng định vị thế y học riêng của nứoc nhà, không phải phụ thuộc nguồn dược liệu cũng như phương pháp chẩn trị của nước ngoài trước đó nữa.
Lúc còn ở chùa, vừa sưu tập cây thuốc vừa chẩn bệnh cứu người, vậy mà ông vẩn viết hai tác phẩm y học quý báu. Đó là “ Hồng nghĩa giác tư y thư” và “ Nam dược thần hiệu”.
Đương thời, sách thuốc của ông nổi tiếng khắp nước, danh y các nơi tìm về chùa xin bái kiến học hỏi, nhiều người trong số học đã lập bàn thờ “ thờ sống Tuệ Tĩnh” tại tiệm thuốc của mình, để tò lòng khâm phục và noi gương y đức của ông.
Nếu như Tuệ Tĩnh là một trong những danh y nồi tiếng của nước ta thì Hoa Đà cũng là thần y của ngành y dược Trung Quốc
Hoa Đà (華佗), tự là Nguyên Hóa (元化) (?-220) là một vị lương y nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y. Ông được xem là một trong những ông tổ nghề y của Đông Y. Theo tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung thì Hoa Đà đã chữa bệnh cho Quan Vũ bằng cách mổ vai để nạo chất độc do mũi tên đâm vào trong lúc Quan Vũ vẫn bình thản đánh cờ tướng. Hoa Đà được cho là đã biết áp dụng kỹ thuật gây mê bằng một hỗn hợp rượu và thảo dược được gọi là ma phí tán (麻沸散), 1600 năm trước khi người phương Tây biết áp dụng kỹ thuật này trong phẫu thuật.
Cũng theo tiểu thuyết này, Tào Tháo khi được Hoa Đà khuyên nên mổ sọ để cạo chất độc đã nghi Hoa Đà muốn giết mình và tống ông vào ngục và giết chết Hoa Đà. Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hoa Đà vì cảm kích người gác ngục đã chăm sóc mình khi đang ở trong ngục nên đã truyền sách của mình cho người lính này. Tuy nhiên, do vợ của người lính đó sợ nếu chồng mình theo nghề y sẽ có kết cục bi thảm như Hoa Đà nên đã đốt mất, do đó tất cả sách vở của Hoa Đà về nghề y đã thất truyền.
Hoa Đà được cho là người sáng tác ra Ngũ Cầm Hí, tập luyện dựa theo động tác của năm loài vật: hổ, hươu, gấu, khỉ và chim [1]
Quân Vân Trường đánh cờ, Hoa Đà nạo xương
Chữa bệnh Tào Tháo, Hoa Đà qua đời
Nội Khoa
Huyết học
Nội tiết
Hô hấp
Tiết niệu
Xương khớp
Tiêu hoá
Tim mạch
Truyền nhiễm
Ung bướu
Giải phẫu học (tiếng Anh: anatomy; vốn xuất phát từ tiếng Hi Lạp ἀνατομία anatomia, có gốc ἀνατέμνειν anatemnein, nghĩa là cắt thành mảnh, cắt mở ra) là một ngành khoa học nghiên cứu về hình thái sinh học và cấu trúc và tổ chức của cơ thể sống. Đôi khi còn được gọi là cơ thể học.
Giải phẫu học có thể được phân chia thành ngành Giải phẫu người (Androtomy và human anatomy), Giải phẫu động vật (Zootomy) và Giải phẫu thực vật (Phytonomy)...
Giải phẫu học mang tính khu vực hoặc mang tính chất hệ thống. giải phẫu học có quan hệ mật thiết với y học và các ngành sinh học khác.
Các nhánh lớn của giải phẫu học là Giải phẫu học so sánh (comparative anatomy), Giải phẫu mô học (histology) và Giải phẫu người (human anatomy).
Một số hình ảnh về ngành giải phẫu
1
Y học được phát triển từ lâu ở phương Tây (truyền thống Hippocrates) cũng như ở Ấn Độ (y học Ayurvedic) và Trung Quốc (Đông y).
Trong khi đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa không cần minh chứng, cho rằng bệnh là do trạng thái mất thăng bằng giữa Âm Dương, Ngũ Hành, y học hiện đại phương Tây hay Tây y có khái niệm khoa học cho rằng bệnh là do rối loạn của một hay một số hệ thống, bộ phận nào đó của cơ thể và đòi hỏi chứng minh dựa trên dịch tễ học, giải phẫu học, sinh lý học, vi sinh học v.v... từ đó suy ra phương pháp chữa trị và phòng ngừa. Tất cả phương pháp này, từ thuốc của nội khoa cho đến phẫu thuật của ngoại khoa, muốn được cộng đồng y học công nhận đều phải qua nghiên cứu thống kê.
Y học là ngành nghiên cứu và thực hành. Khoa học trong y học phát triển hiểu biết về cơ thể người và các bệnh và các nghề nghiệp liên quan đến y học là những người được đào tạo để ứng dụng kiến thức y học vào thực hành.
Y học cơ bản
Giải phẫu học
Sinh hoá
Thống kê sinh học
Tế bào học
Phôi học
Dịch tễ học
Di truyền học
Mô - Phôi học
Miễn dịch học
Vi sinh học
Thần kinh học
Dinh dưỡng
Bệnh học
Dược lí học
Sinh lí học
Độc chất học
Triệu chứng học
Chuyên ngành chẩn đoán
Chẩn đoán hình ảnh
Siêu âm tim
Siêu âm tổng quát
Siêu âm não qua thóp
Sinh hoá
Vi sinh
Chuyên khoa
Nội khoa
Tim mạch
Ngoại khoa
Sản khoa
Nhi khoa
Sơ sinh
Nhãn khoa
Ung bướu
Huyết học
Chấn thương chỉnh hình
Tai Mũi Họng
Răng Hàm Mặt
Tâm thần học
Gây mê hồi sức
Hồi sức cấp cứu
Di truyền học (tiếng Anh: genetics) là một môn khoa học nghiên cứu về gene, Di truyền (heredity) và biến dị (variation) của sinh vật.
Sử dụng những phương pháp nghiên cứu hiện đại, di truyền học ngày nay xem xét các chức năng của từng gene nhất định. Mọi sinh vật đều lưu giữ thông tin di truyền của mình dưới dạng trình tự các nucleotide của phân tử DNA hoặc RNA (gọi cách khác là gene).
Gene cấu trúc mã hóa thông tin cần thiết cho quá trình tổng hợp các protein. Trong đó, protein là nhóm phân tử đóng vai trò quan trọng (nhưng không phải là hoàn toàn) quy định kiểu hình của sinh vật.
Gene điều hoà :điều hòa hoạt dộng của các gen
Gene nhảy :có thể di chuyển tới các vị trí khác của hệ gen để tạo ra nhiều biến dị Gene chỉ huy :chỉ huy hoạt động tổng hợp ARN.
Tháng 8-1945, nhân dân ta giành được chính quyền, nhưng đến tháng 12-1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ khắp trên cả nước. Trước muôn vàn khó khăn thiếu thốn, Ngành Y tế đã tập trung toàn bộ khả năng về nhân tài, vật lực phục vụ cho tiền tuyến. Cuộc sống và sức khỏe của nhân dân chưa có gì thay đổi so với thời kỳ trước năm 1945. Đói nghèo, bệnh tật, thất học, sinh đẻ nhiều vẫn là cái vòng luẩn quẩn của người Việt Nam.
Trong cuộc chiến tranh đầy khó khăn, gian khổ kéo dài suốt 9 năm, Ngành Y tế cách mạng vẫn duy trì và không ngừng phát triển các hoạt động chuyên môn, động viên nhân dân tham gia các phong trào vệ sinh phòng bệnh, sử dụng nhiều hình thức thích hợp để tuyên truyền giáo dục cho nhân dân những kiến thức trong việc giữ gìn sức khỏe.
Các viện vi trùng học tiếp tục sản xuất các loại vaccin phòng bệnh tả, đậu mùa, thương hàn, đảm bảo tiêm chủng cho toàn dân các vùng tự do, vùng sau lưng địch. Các bệnh viện, trường đại học, trung học, được di chuyển vào sâu trong rừng, sơ tán phân tán vào nhà dân hoặc được xây dựng trong các hang động để không làm gián đoạn công tác cấp cứu, khám chữa bệnh, công tác đào tạo cán bộ. Các phòng bào chế vẫn tiếp tục sản xuất thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ và các loại thuốc tê, thuốc mê góp phần đáng kể vào việc xử lý vết thương chiến tranh. Một số cơ sở tự sản xuất được bơm tiêm, kim tiêm, kìm, kẹp... Năm 1950 lần đầu tiên những lọ pênixilin được sản xuất từ phòng bào chế Trường Đại học Y khoa ở Việt Bắc đã mang lại nhiều kết quả trong việc chống nhiễm trùng các vết thương. ở chiến trường miền Nam xuất hiện phương pháp trị liệu Filatov, toa thuốc Nam căn bản góp phần to lớn vào việc giải quyết các khó khăn về thuốc.
Năm 1961 lần đầu tiên chúng ta sản xuất được vaccin sabin phòng bệnh bại liệt, rồi vaccin BCG để đến ngày nay chúng ta có quyền tự hào đã thanh toán được bệnh đậu mùa (1987) và bệnh bại liệt (2000).
Bước vào thời kỳ đổi mới, Ngành Y tế phải đối phó với những tác động của nền kinh tế thị trường, từng bước tháo gỡ khó khăn để thích ứng với cơ chế trị trường, đáp ứng được mong muốn của người dân ngày càng nhiều và càng cao về chăm sóc sức khỏe đã bị giảm sút sau 30 năm chiến tranh
. Do xác định được phương châm: đa dạng hoá các hoạt động của ngành, xã hội hoá công tác y tế, nên tuy chỉ mới 15 năm từ khi đổi mới đến nay, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã tiến được một bước dài, bao gồm một hệ thống các cơ sở y tế nhà nước, y tế tư nhân, hướng tới việc phục vụ nhân dân với số lượng nhiều hơn và chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn và công bằng hơn. Phương pháp quản lý các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước cũng thay đổi bằng cách thu một phần viện phí của người bệnh, xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế, cho phép mở rộng bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà thuốc tư. Nhiều tổ chức cá nhân đứng ra thành lập quỹ hỗ trợ bệnh nhân nghèo, nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo...
Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng đạt được nhiều thành tựu, trước hết là quan điểm chỉ đạo của ngành xuyên suốt 55 năm qua trong mọi lĩnh vực hoạt động. Chúng ta kế thừa và phát huy được nhiều bài thuốc, phương thuốc dân gian có hiệu quả, thành lập được 2 viện và 42 bệnh viện y học cổ truyền, 262 khoa học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa, 8000 cơ sở hành nghề tư nhân về y học cổ truyền, khám và chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho khoảng 30% bệnh nhân đến bệnh viện, đào tạo được hàng nghìn bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền, từng bước hiện đại hoá y học cổ truyền, trồng và di thực được nhiều cây thuốc quý, đóng góp nhiều kinh nghiệm cho các nước trên thế giới và đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc mở một trường đại học y học cổ truyền.
Về đào tạo chúng ta đã có một hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có khoảng 2.500 bác sĩ, 200 dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Chúng ta đã mở trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha và trong vòng mấy năm trở lại đây đã đào tạo ở trong nước cán bộ có trình độ cử nhân, chuyên khoa I và II, bảo vệ luận án thạc sĩ và tiến sĩ. Từ vài trăm cán bộ y tế vào những ngày đầu thành lập nước, đến nay đã có 25 vạn người, trong đó có 47 nghìn cán bộ đại học các loại và trên 1000 cán bộ trên đại học.
Số bác sĩ tính theo dân số hiện nay là 1 bác sĩ cho 2.600 dân (1999) so với năm 1945 là 1 bác sĩ cho 220.000 dân. Tỷ lệ này chưa cao nhưng điều đáng kích lệ là đến cuối năm 2000, dự kiến sẽ có 40% số xã có bác sĩ. Một việc khác mà 55 năm về trước chúng ta còn mơ ước nay đã trở thành sự thật là cán bộ y tế xã được hưởng trợ cấp hàng tháng do Nhà nước đài thọ.
Các chỉ tiêu sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, năm sau tiến bộ hơn năm trước. Theo đánh giá của cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nước ta đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP). Năm 2000 chỉ số phát triển con người (HDI) xác định mức độ phát triển con người trên cơ sở kết hợp các chỉ số về thành tựu giáo dục, tuổi thọ và thu nhập, Việt Nam được xếp ở vị trí 108 (tăng 2 bậc so với năm 1999) trong tổng số 174 nước, trong khi đó mức thu nhập bình quân đầu người, Việt Nam được xếp ở vị trí 132/174 nước. Chỉ số phát triển theo giới (GDI) được xếp ở vị trí 140 trên 194 nước.
Sáu bệnh truyền nhiễm ở trẻ em trước đây đứng đầu danh sách các bệnh có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, nay nhờ việc tiêm chủng rộng rãi chúng ta đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu
Từ con số 47 bệnh viện từ thời Pháp để lại, đến nay trong cả nước đã có 876 bệnh viện, 75 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, trên 1000 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực, số giường bệnh tăng lên từ 11,6 giường cho 100.000 dân (1954) đến nay là 169 giường cho 100.000 dân (1999). Tỷ lệ giường bệnh so với dân số nước ta tuy còn thấp so với nhiều nước song điều đángghi nhận là chấtlượng dịch vụkhám chữa bệnh không ngừng được nâng cao, ở các tỉnh, thành phố, bệnh viện đều được trang bị các loại máy móc dùng trong chẩnđoán và điều trị rất hiện đại như máy cộng hưởng từ, máy CT Scanner, máy chụp mạch máu, máy tán sỏi ngoài cơ thể, máy cô ban, máy siêu âm màu, máy xét nghiệm nhanh... Các công nghệ mũi nhọn của y học thế giới cũng đang được ứng dụng ở nước ta như ghép tạng, mổ nội soi, mổ tim, mổ tách trẻ song sinh, thụ tinh nhân tạo...
Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước.
Ngành dược
Ngành Dược và ngành Trang thiết bị cũng đã trở thành ngành kinh tế kỹ thuật. Chúng ta đã có những nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP, thị phần thuốc trong nước tăng nhanh, mức sử dụng thuốc khoảng 6 USD/ đầu người (1999). Tổng giá trị xuất khẩu thuốc và dược liệu đạt 15 triệu USD (1999). Về sản xuất trang thiết bị, các nhà máy của ta đã liên doanh liên kết với các nước sản xuất dụng cụ y tế thông thường, dụng cụ bằng cao su, chất dẻo và lắp ráp một số máy móc hiện đại.
Nhưng thành tựu có ý nghĩa nhất là chúng ta đã xây dựng được mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp cả nước, từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, từ đồng bằng trung du, các vùng xa xôi hẻo lánh đến tận biên giới hải đảo và đang mở rộng khắp thôn xóm bản làng với hơn 10.000 trạm y tế xã, y tế cơ quan xí nghiệp. Nhờ mạng lưới đó nước ta đã thực hiện được mục tiêu của tổ chức y tế thế giới đề ra là: sức khỏe cho mọi người năm 2000.
1
2
12
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Trò chơi ô chữ
Ô chữ
ĐÂY LÀ TÊN MỘT NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG Ở SƠN TÂY.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
SƠN TINH THUỶ TINH THUỘC THỀ LOẠI NÀO CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN?
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
VÌ VỤ ÁN VƯỜN………. MÀ CẢ NHÀ NGUYỄN TRÃI BỊ “TRU DI TAM TỘC”.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
NGƯỜI TA THƯỜNG GỌI LÊ HỮU TRÁC LÀ……...
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
“HỒI TRỐNG CỔ THÀNH” TRÍCH TRONG “TAM QUỐC…….”.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
ĐÂY LÀ MỘT TỈNH Ở PHÍA NAM TRUNG QUỐC NỔI TIẾNG VỀ CÀNH ĐẸP.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
ĐẶC SẢN CỦA TỈNH NÀY LÀ BÁNH ĐẬU XANH.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
NHÂN VẬT “TUYỆT GIAN” TRONG “TAM QUỐC DIỄN NGHĨA”, NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NƯỚC NGUỴ.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
ĐÂY LÀ TÊN MỘT LOÀI HOA RẤT THƠM ĐƯỢC DÙNG ĐỂ LÀM TRÀ.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
TÊN GỌI KHÁC CỦA TỪ Y HỌC.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
Y HỌC THEO CÁCH GỌI CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC.
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
THỦ ĐÔ CỦA NƯỚC TA
ĐÁP ÁN
Ô CHỮ
TUỆ TĨNH HOA ĐÀ
Tuệ Tĩnh ( Canh Ngọ 1330 - ? ) tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh. Quê quán ông ở làng Nghĩa Phú, phủ Thuợng Hồng, tỉnh Hải Dương, nên lấy tên hiệu là Hồng Nghĩa. Biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật.
Năm lên 6 tuổi, cha mẽ đều mất cả, ông được sư cụ chùa Hải Triều( chùa Giám) nuôi cho ăn học, đặt pháp danh là Tuệ Tĩnh. Sau lại gửi ông vào chủa Keo_Thái Bình tu học tiếp.Năm Tân Mão 1351 niên hiệu Thiệu Phong _ đời vua Trần Dụ Tông, ông thi đỗ Thái học sinh lúc mới 21 tuổi.
Không ra làm quan, ông về tu ở chùa Nghiêm Quan, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Bình, tỉnh Thái Bình, chuyên tâm nghiện cứu giáo lý Phật và y học. Mượn khuôn viên chùa làm vườn thuốc.
Từ đó Tuệ Tỉnh ngày ngày đi khắp đó đây, tìm kiếm các loài cây lạ, thử nghiệm dược tính, đem về vun trồng và chế biến thành dược phẩm dược liệu.
Với tấm lòng từ tâm và y thuật cao minh, ông đã chữa lành bệnh cho rất nhiều người, chỉ với cây thuốc có sẵn khắp nơi trong nước. Tiếng lành đồn xa, triều đính biết tiếng. Năm Giáp Tí 1384 đời vua Trần Phế Đế, ông được cử vào phái bộ sang nhà Minh.
Tại hoàng cung nhà Minh, ông lại gặp dịp “bốc thuốc chữa bệnh’ cứu sống người trong Hoàng tộc, vua Minh rất quý trọng, phong hiệu là “Đại y Thiền sư” và lưu giữ lại Kim Lăng không cho về nước. Sau ông mất ở Giang Nam Trung Quốc.
Người đời tôn xưng ông là vị Tổ của ngành y học cổ truyền, đã có công nghiên cứu và truyền bá môn thuốc Nam với phương châm “Nam dược trị Nam nhân” khẳng định vị thế y học riêng của nứoc nhà, không phải phụ thuộc nguồn dược liệu cũng như phương pháp chẩn trị của nước ngoài trước đó nữa.
Lúc còn ở chùa, vừa sưu tập cây thuốc vừa chẩn bệnh cứu người, vậy mà ông vẩn viết hai tác phẩm y học quý báu. Đó là “ Hồng nghĩa giác tư y thư” và “ Nam dược thần hiệu”.
Đương thời, sách thuốc của ông nổi tiếng khắp nước, danh y các nơi tìm về chùa xin bái kiến học hỏi, nhiều người trong số học đã lập bàn thờ “ thờ sống Tuệ Tĩnh” tại tiệm thuốc của mình, để tò lòng khâm phục và noi gương y đức của ông.
Nếu như Tuệ Tĩnh là một trong những danh y nồi tiếng của nước ta thì Hoa Đà cũng là thần y của ngành y dược Trung Quốc
Hoa Đà (華佗), tự là Nguyên Hóa (元化) (?-220) là một vị lương y nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y. Ông được xem là một trong những ông tổ nghề y của Đông Y. Theo tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung thì Hoa Đà đã chữa bệnh cho Quan Vũ bằng cách mổ vai để nạo chất độc do mũi tên đâm vào trong lúc Quan Vũ vẫn bình thản đánh cờ tướng. Hoa Đà được cho là đã biết áp dụng kỹ thuật gây mê bằng một hỗn hợp rượu và thảo dược được gọi là ma phí tán (麻沸散), 1600 năm trước khi người phương Tây biết áp dụng kỹ thuật này trong phẫu thuật.
Cũng theo tiểu thuyết này, Tào Tháo khi được Hoa Đà khuyên nên mổ sọ để cạo chất độc đã nghi Hoa Đà muốn giết mình và tống ông vào ngục và giết chết Hoa Đà. Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hoa Đà vì cảm kích người gác ngục đã chăm sóc mình khi đang ở trong ngục nên đã truyền sách của mình cho người lính này. Tuy nhiên, do vợ của người lính đó sợ nếu chồng mình theo nghề y sẽ có kết cục bi thảm như Hoa Đà nên đã đốt mất, do đó tất cả sách vở của Hoa Đà về nghề y đã thất truyền.
Hoa Đà được cho là người sáng tác ra Ngũ Cầm Hí, tập luyện dựa theo động tác của năm loài vật: hổ, hươu, gấu, khỉ và chim [1]
Quân Vân Trường đánh cờ, Hoa Đà nạo xương
Chữa bệnh Tào Tháo, Hoa Đà qua đời
Nội Khoa
Huyết học
Nội tiết
Hô hấp
Tiết niệu
Xương khớp
Tiêu hoá
Tim mạch
Truyền nhiễm
Ung bướu
Giải phẫu học (tiếng Anh: anatomy; vốn xuất phát từ tiếng Hi Lạp ἀνατομία anatomia, có gốc ἀνατέμνειν anatemnein, nghĩa là cắt thành mảnh, cắt mở ra) là một ngành khoa học nghiên cứu về hình thái sinh học và cấu trúc và tổ chức của cơ thể sống. Đôi khi còn được gọi là cơ thể học.
Giải phẫu học có thể được phân chia thành ngành Giải phẫu người (Androtomy và human anatomy), Giải phẫu động vật (Zootomy) và Giải phẫu thực vật (Phytonomy)...
Giải phẫu học mang tính khu vực hoặc mang tính chất hệ thống. giải phẫu học có quan hệ mật thiết với y học và các ngành sinh học khác.
Các nhánh lớn của giải phẫu học là Giải phẫu học so sánh (comparative anatomy), Giải phẫu mô học (histology) và Giải phẫu người (human anatomy).
Một số hình ảnh về ngành giải phẫu
1
 







Các ý kiến mới nhất