Chuyên đề thơ ca cách mạng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 14h:15' 06-10-2020
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 307
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 14h:15' 06-10-2020
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 307
Số lượt thích:
0 người
THƠ CA CÁCH MẠNG
VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NHỮNG NĂM 80
THƠ CA CÁCH MẠNG
01
02
03
04
Nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
Một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu cho thơ ca Cách mạng
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1. Những nội dung lịch sử
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1. Những nội dung lịch sử
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
Chặng 2
( Từ 1955 – 1964)
Tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi đất nước và con người trong những ngày đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc
Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, Gió lộng của Tố Hữu,…
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1. Những nội dung lịch sử
1.1.2. Thơ Việt Nam từ 1975 đến những năm 80
Chiến tranh kết thúc, đời sống về tư tưởng tâm lí, nhu cầu vật chất con người đã có những thay đổi so với trước.
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở ra những phương hướng mới thực sự cởi mở cho văn nghệ.
Thơ: Tự hát (Xuân Quỳnh) , Xúc xắc mùa thu (Hoàng Nhuận Cầm),…
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.2. Hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.1. Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Khuynh hướng sử thi:
- Đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân tộc.
- Nhân vật chính: những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất, ý chí toàn dân tộc
- Giọng văn ca ngợi, hào hùng
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.1. Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Cảm hứng lãng mạn:
- Là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc và hướng tới lý tưởng.
- Biểu hiện: ca ngợi vẻ đẹp của con người mới, cuộc sống mới, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai đất nước.
“Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”
(Sao chiến thắng – Chế Lan Viên)
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.1. Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, tạo nên đặc điểm cơ bản của văn học 1945- 1975; đồng thời đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển Cách mạng.
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.2. Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
- Nét nổi bật trong thơ sau 1975 là sự trở về cái “tôi” cá nhân
+ Cái “tôi” luôn được ý thức như một thế giới tinh thần cá nhân hết sức đa dạng, phong phú
+ Hướng vào đời sống thế sự và chiêm nghiệm về nhân sinh
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.2. Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
- Nét nổi bật trong thơ sau 1975 là sự trở về cái “tôi” cá nhân
+ Các nhà thơ quay về trò chuyện trái tim mình, bằng vốn sống và kinh nghiệm bản thân.
+ Nhìn nhận con người từ nhiều phía, mỗi nhà thơ có cái nhìn riêng, độc đáo bộc lộ được chính độ sâu của chính bản thân mình.
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.2. Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
Khẳng định con người cá tính: con người không tự thỏa mãn, bằng lòng và luôn tìm kiếm những giá trị tinh thần
Cái “tôi” nhà thơ nằm trong cấu trúc cuộc sống, hòa đồng để trầm tư chiêm nghiệm.
+ Chiêm nghiệm về lịch sử, dân tộc, về thế sự nhân sinh
+ Xã hội với những xô bồ, phức tạp, kẻ giàu người nghèo
3.1. Nghệ thuật trong thơ ca
- Thơ giai đoạn 1945-1975 nổi lên hai xu hướng chính: kế thừa các hình thức thơ ca dân gian, dân tộc và tự do hóa hình thức thơ.
Thơ kháng chiến chống Pháp ngay từ những năm đầu đã tìm đến những hình thức nghệ thuật mang đậm chất dân gian và dân tộc , quen thuộc với đại chúng
Các nhà thơ học cách diễn đạt, sáng tạo hình ảnh, lối so sánh, cấu tứ của thơ dân gian làm cho thơ kháng chiến thực sự là tiếng nói tâm tình của quần chúng nhân dân kháng chiến.
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
3.1. Nghệ thuật trong thơ ca
Một con đường đi tìm tiếng nói nghệ thuật mới mở ra, một hình thức thơ mới, tự do hơn, vượt thoát khỏi những hình thức giọng điệu của kẻ khai sáng – Thơ mới.
- Một số nhà thơ tiên phong đưa ra những thử nghiệm thơ văn xuôi và thơ sân khấu với dung lượng mỗi bài khá lớn
- Tự do hóa hình thức thơ thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau: dòng thơ, bài thơ và thể thơ.
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
3.1. Nghệ thuật trong thơ ca
Cấu trúc đơn vị của bài thơ cũng khá tự do.
Nhiều nhà thơ mạnh dạn hơn trong việc viết những bài thơ gồm nhiều chương, đoạn, được liên kết theo mạch chủ đề hoặc bổ sung, hoặc đối lập, tựa như một tổ khúc hay giao hưởng bằng thơ
Xu hướng đưa ngôn ngữ thơ phát triển về phía hiện thực đời sống.
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
3.2. Thành tựu thơ ca
Thoát khỏi sự bò bó, khuôn khổ trước đó, thơ dần biến thành tiếng nói của chính tâm hồn thi sĩ, đại diện cho tiếng lòng cá nhân, hòa vào tiếng nói của thời đại
Là một vũ khí vô cùng mạnh mẽ, đồng hành cũng nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thơ ca giai đoạn này thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm và những khát vọng tinh thần lớn lao của con người Việt Nam
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
Đây là nền vững chắc cho giai đoạn phát triển thơ ca sau này, vừa là sự kết tinh, tìm tòi, học hỏi sáng tạo, khai phá cái mới, thử nghiệm và áp dụng cái mới, mở rộng cho con đường thơ ca Việt Nam thoát khỏi sự gò bó, khuôn khổ, thể hiện cái riêng, cái cá tính, cái đặc sắc độc đáo.
3.2. Thành tựu thơ ca
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.1. Vài nét về tiểu sử và con người
Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành.
Quê quán: tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Nhà thơ Tố Hữu
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.1. Vài nét về tiểu sử và con người
Những yếu tố ảnh hưởng đến Tố Hữu
Quê hương và gia đình
- Thân sinh của Tố Hữu có sở thích thơ văn, sưu tầm ca dao, tục ngữ.
- Mẹ là người giàu tình thương và thuộc rất nhiều ca dao dân ca.
- Quê hương có phong cảnh núi non hữu tình và cũng là nơi sản sinh nhiều điệu dân ca trữ tình
Quê hương và gia đình đã là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn thơ của Tố Hữu
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.1. Vài nét về tiểu sử và con người
Những yếu tố ảnh hưởng đến Tố Hữu
Ánh sáng Cách mạng
- Tuổi thanh niên,Tố Hữu mang nhiều nỗi buồn và trăn trở tìm được con đường Cách mạng
- Điểm nổi bật trong thơ của Tố Hữu là sự thống nhất của nhà cách mạng và nhà thơ, giữa đường cách mạng và đường thơ
Sự gặp gỡ với lí tưởng của Đảng không chỉ quyết định đường đời của Tố Hữu mà còn quyết định con đường và toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.2. Những chặng đường thơ của Tố Hữu
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.3. Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu
I
Tin về nửa đêm
Hoả tốc hoả tốc
Ngựa bay lên dốc
Đuốc chạy sáng rừng
Chuông reo tin mừng
Loa kêu từng cửa
Làng bản đỏ đèn, đỏ lửa...
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp!
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Vinh quang Hồ Chí Minh, Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại
Kháng chiến ba nghìn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như
Huân chương trên ngực
Dân tộc ta dân tộc anh hùng!
Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Đêm nay bè bạn gần xa
Tin về chắc cũng chan hoà vui chung
HOAN
HÔ
CHIẾN
SĨ
ĐiỆn
biên
II
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm...
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện
Và những chị, những anh ngày đêm ra tiền tuyến
Mấy tầng mây gió lớn mưa to
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan, thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống
Máu của anh chị, của chúng ta không uổng
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng...
III
Lũ chúng nó phải hàng, phải chết
Quyết trận này quét sạch Điện Biên!
Quân giặc điên
Chúng bay chui xuống đất
Chúng bay chạy đằng trời?
Trời không của chúng bay
Đạn ta rào lưới sắt!
Đất không của chúng bay
Đai thép ta thắt chặt!
Của ta trời đất đêm ngày
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta
Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tử địa, hai là tù binh
Hạ súng xuống rùng mình run rẩy
Tiếng reo núi vọng sông rền
Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ
Bác đang cúi xuống bản đồ
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo...
Từ khi vượt núi qua đèo
Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày
Tin về mừng thọ đêm nay
Chắc vui lòng Bác giờ này đợi trông!
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm!
Nghe trưa nay tháng năm, mùng bảy
Trên đầu bay thác lửa hờn căm
Trông: Bốn mặt luỹ hầm sụp đổ
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng
Trông: Chúng ta cờ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng!
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!
IV
Đồng chí Phạm Văn Đồng
Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ
Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành
Ngày mai, vào cuộc đấu tranh
Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smít
Anh sẽ nói: “Thực dân, phát xít
Đã tàn rồi!
Tổ quốc chúng tôi
Muốn độc lập hoà bình trở lại
Không muốn lửa bom đổ
xuống đầu con cái
Nước chúng tôi và nước các anh
Nếu còn say máu chiến tranh
Ở Việt Nam, các anh nên nhớ
Tre đã thành chông, sông là sông lửa
Và trận thắng Điện Biên
Cũng mới là bài học đầu tiên!”
(5 – 1954)
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.4. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Bản hùng ca lịch sử của dân tộc
Bài thơ được Tố Hữu hoàn thành tháng 5-1954
Tác phẩm đậm đà cảm hứng sử thi và chất thời sự từ đề tài, cảm hứng, đến hình ảnh, ý tưởng.
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên là một bài thơ khỏe, cuồn cuộn sức sống với những âm hưởng hùng tráng, sảng khoái, chủ động, tung hoành trên nhiều cung bậc.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.4. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Bản hùng ca lịch sử của dân tộc
Những câu thơ đầu tiên đã chuyển tải một tin chiến thắng.
Tác giả đã dựng lại trận đánh hiệp đồng các binh chủng lớn nhất, hiện đại nhất trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp
Diễn tả chiến tranh, Tố Hữu không né tránh những mất mát, hy sinh.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.4. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Bản hùng ca lịch sử của dân tộc
Những khổ thơ tiếp theo, tác giả diễn tả một cách tổng hợp diễn biến tuyệt đẹp của trận đánh lịch sử và tình thế tuyệt vọng của kẻ thù
Đồng thời đó cũng là lời khẳng định dứt khoát số phận tất yếu của kẻ xâm lược.
Cả bài thơ có tới ba câu thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” tạo thành một điệp khúc có giá trị biểu cảm cao nhất.
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên là một bài thơ tái hiện được một không khí hào hùng của dân tộc. Bài thơ chính là niềm vui khi đất nước được toàn thắng.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị của nền văn học cách mạng trong thời đại mới. Thơ của Tố Hữu đã hiện diện trong đời sống cách mạng và tinh thần, có sức thu hút và cổ vũ lớn lao. Đó chính là niềm say mê lí tưởng, những tình cảm chân thành và năng lực truyền cảm hứng mạnh mẽ cùng với một phong cách nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc.
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.1. Vài nét về tiểu sử
Phạm Tiến Duật sinh (1941 – 2007), tại Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ)
Năm 1964, ông tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.2. Những tập thơ chính:
Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970)
Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
Thơ một chặng đường (tuyển tập, 1994)
Nhóm lửa (thơ, 1996)
Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng).
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.3. Phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật
Hình tượng các nhân vật trữ tình tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.3. Phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật
Hình tượng các nhân vật trữ tình tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.3. Phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật
Nét đặc sắc trong thơ Phạm Tiến Duật
- Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên thể hiện qua lớp từ ngữ của phong cách sinh hoạt và thể hiện trong sự gia tăng của chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ.
- Ngôn ngữ thơ không chỉ thô ráp, bụi bặm mà còn mang sắc thái uyển chuyển, mềm mại.
- Cấu trúc dễ nhớ, dễ thuộc, bình dị, mang âm hưởng đời thường và đậm đặc chất lính, giai điệu bài hát đẹp
TRƯỜNG SƠN ĐÔNG – TRƯỜNG SƠN TÂY
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.
Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.
Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.
Em thương anh bên tây mùa đông
Nước khe cạn bướm bay lèn đá
Biết lòng anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù
Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.
Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.
Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.4. Bài thơ Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây
Mở đầu, Phạm Tiến Duật đã biến không gian công cộng của chiến tranh thành không gian riêng tư của hai người yêu nhau
Tình yêu đã vượt qua tất cả, thời gian dằng dặc của cuộc chiến, không gian cách trở của Trường Sơn, những thử thách sống chết rình rập
Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây là một bản tình ca trong chiến tranh
Trường Sơn mênh mông ấy dường như đã trở thành cái nền của những mối tình đẹp nảy nở trong quá trình kháng chiến
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.4. Bài thơ Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây
- Những con người cùng sống, cùng hỗ trợ và kháng chiến cùng nhau để rồi tạo nên một bức tranh con người và thiên nhiên trông thật đẹp
Tình yêu đã phát triển mạnh mẽ và ở trong tình hình mưa bom bão đạn như bấy giờ thì nó là một sự liên kết vô cùng bền chặt
Phạm Tiến Duật tạo dựng, thể hiện nên ngọn lửa của lòng yêu nước, của lòng tự hào dân tộc
Câu 1: Trong giải thưởng văn nghệ 1954-1955, tập thơ đạt giải nhất là tập thơ nào, của ai?
A. Tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu
B. Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu
C. Tập thơ Nụ cười chính nghĩa của Tú Mỡ
D. Tập thơ Anh ba Thắng của Việt Ánh
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 2: Câu nào sau đây nhận xét không đúng về đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến CMT8-1945?
A. Nhìn chung, ở thời kỳ này, người cầm bút không thể thành công nếu không đổi mới cách viết của mình.
B. Nền văn học được hiện đại hoá.
C. Có nhịp độ phát triển mau lẹ.
D. Sự phân hoá phức tạp thành nhiều xu hướng trong quá trình phát triển.
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 3: Nét nổi bật trong thơ sau 1975 là khẳng định con người
A. Con người xã hội
B. Con người cá tính
C. Con người quá khứ
D. Con người hiện tại
Câu 4: Đâu là hai xu hướng chính về hình thức nghệ thuật của thơ ca giai đoạn 1945-1975 ?
A. Kế thừa các hình thức thơ ca dân gian, dân tộc và tự do hóa hình thức thơ.
B. Cách tân toàn bộ thơ ca và khai thác thơ tự do theo lối cá nhân
C. Kế thừa các hình thức thơ ca dân gian và tập trung chủ yếu sáng tạo thể thơ tự do hoàn toàn mới
D. Các ý trên đều sai
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 5: Vì sao văn học giai đoạn 1945-1975 phải tìm về khai thác, kế thừa những giá trị và kinh nghiệm nghệ thuật từ lâu đời của văn học dân gian và văn học cổ điển ?
A. Văn học giai đoạn này chưa chấp nhận được sự đổi mới, cách tân, thay đổi vấp phải sự phản đối gay gắt của nhân dân
B. Văn học Việt Nam từ sau CMT8 là nền văn học hướng về đại chúng và dân tộc. Quần chúng nhân dân là đối tượng phục vụ chính của văn học.
C. Quan niệm gìn giữ truyền thống, không muốn thoát li, ảnh hưởng của thời cuộc, các nhà thơ ngại việc đổi mới, tìm tòi, sáng tạo
D. Tất cả đều đúng
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 6. Ngôn ngữ thơ ca giai đoạn 1945-1975 có sự thay đổi gì?
A. Mang đậm hơi hướng dân gian, thấm nhuần tư tưởng chính trị, chiến đấu bảo vệ tổ quốc
B. Ngôn ngữ bình dị, tiến gần với hiện thực đời sống, loại bỏ các từ ngữ chính trị, quân sự
C. Ngôn ngữ bình dị, gần với hiện thực đời sống kết hợp với các từ ngữ chính trị, quân sự
D. Mang đậm hơi hướng dân gian, kết hợp từ ngữ thuộc lĩnh vực chính trị, quân sự
Câu 7: Nét nào sau đây KHÔNG phải là phong cách nghệ thuật trong thơ Tố Hữu
A. Tính trữ tình, chính trị
B. Tính triết lí, suy tưởng
C. Giọng điệu tâm tình ngọt ngào
D. Khuynh hướng sử thi
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 8: Đặc điểm nào sau đây đúng khi nói về nội dung bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên:
A. Thể hiện những chiêm nghiêm về cuộc sống.
B. Thể hiện niềm vui, niềm tin tưởng và lòng biết ơn với đất nước
C. Dựng lại trận đánh hiệp đồng các binh chủng lớn nhất, hiện đại nhất trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp.
D. Thể hiện suy ngẫm, phát hiện và say mê, tự hào về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc.
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 9: Nối tên tác phẩm ở cột A với nội dung cột B cho thích hợp
Câu 10: Nhà thơ nào có nhiều bài thơ về Trường Sơn thời chiến tranh, trong đó nổi tiếng nhất là "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây"?
A. Hoàng Cầm
B. Phạm Tiến Duật
C. Tố Hữu
D. Chế Lan Viên
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Cảm ơn mọi người
Đã chú ý lắng nghe
VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NHỮNG NĂM 80
THƠ CA CÁCH MẠNG
01
02
03
04
Nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
Một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu cho thơ ca Cách mạng
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1. Những nội dung lịch sử
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1. Những nội dung lịch sử
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
Chặng 2
( Từ 1955 – 1964)
Tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi đất nước và con người trong những ngày đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc
Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, Gió lộng của Tố Hữu,…
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1.1. Thơ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.1. Những nội dung lịch sử
1.1.2. Thơ Việt Nam từ 1975 đến những năm 80
Chiến tranh kết thúc, đời sống về tư tưởng tâm lí, nhu cầu vật chất con người đã có những thay đổi so với trước.
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở ra những phương hướng mới thực sự cởi mở cho văn nghệ.
Thơ: Tự hát (Xuân Quỳnh) , Xúc xắc mùa thu (Hoàng Nhuận Cầm),…
1. Những nội dung lịch sử và hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
1.2. Hệ tư tưởng chi phối sự vận động của văn học Cách mạng
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.1. Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Khuynh hướng sử thi:
- Đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân tộc.
- Nhân vật chính: những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất, ý chí toàn dân tộc
- Giọng văn ca ngợi, hào hùng
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.1. Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Cảm hứng lãng mạn:
- Là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc và hướng tới lý tưởng.
- Biểu hiện: ca ngợi vẻ đẹp của con người mới, cuộc sống mới, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai đất nước.
“Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”
(Sao chiến thắng – Chế Lan Viên)
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.1. Khuynh hướng sử thi và lãng mạn cách mạng
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, tạo nên đặc điểm cơ bản của văn học 1945- 1975; đồng thời đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển Cách mạng.
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.2. Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
- Nét nổi bật trong thơ sau 1975 là sự trở về cái “tôi” cá nhân
+ Cái “tôi” luôn được ý thức như một thế giới tinh thần cá nhân hết sức đa dạng, phong phú
+ Hướng vào đời sống thế sự và chiêm nghiệm về nhân sinh
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.2. Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
- Nét nổi bật trong thơ sau 1975 là sự trở về cái “tôi” cá nhân
+ Các nhà thơ quay về trò chuyện trái tim mình, bằng vốn sống và kinh nghiệm bản thân.
+ Nhìn nhận con người từ nhiều phía, mỗi nhà thơ có cái nhìn riêng, độc đáo bộc lộ được chính độ sâu của chính bản thân mình.
2. Hai giai đoạn thơ ca Cách mạng
2.2. Khuynh hướng phản tỉnh trong thơ ca hậu chiến
Khẳng định con người cá tính: con người không tự thỏa mãn, bằng lòng và luôn tìm kiếm những giá trị tinh thần
Cái “tôi” nhà thơ nằm trong cấu trúc cuộc sống, hòa đồng để trầm tư chiêm nghiệm.
+ Chiêm nghiệm về lịch sử, dân tộc, về thế sự nhân sinh
+ Xã hội với những xô bồ, phức tạp, kẻ giàu người nghèo
3.1. Nghệ thuật trong thơ ca
- Thơ giai đoạn 1945-1975 nổi lên hai xu hướng chính: kế thừa các hình thức thơ ca dân gian, dân tộc và tự do hóa hình thức thơ.
Thơ kháng chiến chống Pháp ngay từ những năm đầu đã tìm đến những hình thức nghệ thuật mang đậm chất dân gian và dân tộc , quen thuộc với đại chúng
Các nhà thơ học cách diễn đạt, sáng tạo hình ảnh, lối so sánh, cấu tứ của thơ dân gian làm cho thơ kháng chiến thực sự là tiếng nói tâm tình của quần chúng nhân dân kháng chiến.
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
3.1. Nghệ thuật trong thơ ca
Một con đường đi tìm tiếng nói nghệ thuật mới mở ra, một hình thức thơ mới, tự do hơn, vượt thoát khỏi những hình thức giọng điệu của kẻ khai sáng – Thơ mới.
- Một số nhà thơ tiên phong đưa ra những thử nghiệm thơ văn xuôi và thơ sân khấu với dung lượng mỗi bài khá lớn
- Tự do hóa hình thức thơ thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau: dòng thơ, bài thơ và thể thơ.
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
3.1. Nghệ thuật trong thơ ca
Cấu trúc đơn vị của bài thơ cũng khá tự do.
Nhiều nhà thơ mạnh dạn hơn trong việc viết những bài thơ gồm nhiều chương, đoạn, được liên kết theo mạch chủ đề hoặc bổ sung, hoặc đối lập, tựa như một tổ khúc hay giao hưởng bằng thơ
Xu hướng đưa ngôn ngữ thơ phát triển về phía hiện thực đời sống.
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
3.2. Thành tựu thơ ca
Thoát khỏi sự bò bó, khuôn khổ trước đó, thơ dần biến thành tiếng nói của chính tâm hồn thi sĩ, đại diện cho tiếng lòng cá nhân, hòa vào tiếng nói của thời đại
Là một vũ khí vô cùng mạnh mẽ, đồng hành cũng nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thơ ca giai đoạn này thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm và những khát vọng tinh thần lớn lao của con người Việt Nam
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
Đây là nền vững chắc cho giai đoạn phát triển thơ ca sau này, vừa là sự kết tinh, tìm tòi, học hỏi sáng tạo, khai phá cái mới, thử nghiệm và áp dụng cái mới, mở rộng cho con đường thơ ca Việt Nam thoát khỏi sự gò bó, khuôn khổ, thể hiện cái riêng, cái cá tính, cái đặc sắc độc đáo.
3.2. Thành tựu thơ ca
3. Nghệ thuật thơ ca cách mạng – đúc kết một số thành tựu cơ bản
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.1. Vài nét về tiểu sử và con người
Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành.
Quê quán: tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Nhà thơ Tố Hữu
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.1. Vài nét về tiểu sử và con người
Những yếu tố ảnh hưởng đến Tố Hữu
Quê hương và gia đình
- Thân sinh của Tố Hữu có sở thích thơ văn, sưu tầm ca dao, tục ngữ.
- Mẹ là người giàu tình thương và thuộc rất nhiều ca dao dân ca.
- Quê hương có phong cảnh núi non hữu tình và cũng là nơi sản sinh nhiều điệu dân ca trữ tình
Quê hương và gia đình đã là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn thơ của Tố Hữu
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.1. Vài nét về tiểu sử và con người
Những yếu tố ảnh hưởng đến Tố Hữu
Ánh sáng Cách mạng
- Tuổi thanh niên,Tố Hữu mang nhiều nỗi buồn và trăn trở tìm được con đường Cách mạng
- Điểm nổi bật trong thơ của Tố Hữu là sự thống nhất của nhà cách mạng và nhà thơ, giữa đường cách mạng và đường thơ
Sự gặp gỡ với lí tưởng của Đảng không chỉ quyết định đường đời của Tố Hữu mà còn quyết định con đường và toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.2. Những chặng đường thơ của Tố Hữu
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.3. Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu
I
Tin về nửa đêm
Hoả tốc hoả tốc
Ngựa bay lên dốc
Đuốc chạy sáng rừng
Chuông reo tin mừng
Loa kêu từng cửa
Làng bản đỏ đèn, đỏ lửa...
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp!
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Vinh quang Hồ Chí Minh, Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại
Kháng chiến ba nghìn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như
Huân chương trên ngực
Dân tộc ta dân tộc anh hùng!
Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Đêm nay bè bạn gần xa
Tin về chắc cũng chan hoà vui chung
HOAN
HÔ
CHIẾN
SĨ
ĐiỆn
biên
II
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm...
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện
Và những chị, những anh ngày đêm ra tiền tuyến
Mấy tầng mây gió lớn mưa to
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan, thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống
Máu của anh chị, của chúng ta không uổng
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng...
III
Lũ chúng nó phải hàng, phải chết
Quyết trận này quét sạch Điện Biên!
Quân giặc điên
Chúng bay chui xuống đất
Chúng bay chạy đằng trời?
Trời không của chúng bay
Đạn ta rào lưới sắt!
Đất không của chúng bay
Đai thép ta thắt chặt!
Của ta trời đất đêm ngày
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta
Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tử địa, hai là tù binh
Hạ súng xuống rùng mình run rẩy
Tiếng reo núi vọng sông rền
Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ
Bác đang cúi xuống bản đồ
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo...
Từ khi vượt núi qua đèo
Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày
Tin về mừng thọ đêm nay
Chắc vui lòng Bác giờ này đợi trông!
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm!
Nghe trưa nay tháng năm, mùng bảy
Trên đầu bay thác lửa hờn căm
Trông: Bốn mặt luỹ hầm sụp đổ
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng
Trông: Chúng ta cờ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng!
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!
IV
Đồng chí Phạm Văn Đồng
Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ
Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành
Ngày mai, vào cuộc đấu tranh
Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smít
Anh sẽ nói: “Thực dân, phát xít
Đã tàn rồi!
Tổ quốc chúng tôi
Muốn độc lập hoà bình trở lại
Không muốn lửa bom đổ
xuống đầu con cái
Nước chúng tôi và nước các anh
Nếu còn say máu chiến tranh
Ở Việt Nam, các anh nên nhớ
Tre đã thành chông, sông là sông lửa
Và trận thắng Điện Biên
Cũng mới là bài học đầu tiên!”
(5 – 1954)
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.4. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Bản hùng ca lịch sử của dân tộc
Bài thơ được Tố Hữu hoàn thành tháng 5-1954
Tác phẩm đậm đà cảm hứng sử thi và chất thời sự từ đề tài, cảm hứng, đến hình ảnh, ý tưởng.
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên là một bài thơ khỏe, cuồn cuộn sức sống với những âm hưởng hùng tráng, sảng khoái, chủ động, tung hoành trên nhiều cung bậc.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.4. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Bản hùng ca lịch sử của dân tộc
Những câu thơ đầu tiên đã chuyển tải một tin chiến thắng.
Tác giả đã dựng lại trận đánh hiệp đồng các binh chủng lớn nhất, hiện đại nhất trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp
Diễn tả chiến tranh, Tố Hữu không né tránh những mất mát, hy sinh.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
4.1.4. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Bản hùng ca lịch sử của dân tộc
Những khổ thơ tiếp theo, tác giả diễn tả một cách tổng hợp diễn biến tuyệt đẹp của trận đánh lịch sử và tình thế tuyệt vọng của kẻ thù
Đồng thời đó cũng là lời khẳng định dứt khoát số phận tất yếu của kẻ xâm lược.
Cả bài thơ có tới ba câu thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” tạo thành một điệp khúc có giá trị biểu cảm cao nhất.
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên là một bài thơ tái hiện được một không khí hào hùng của dân tộc. Bài thơ chính là niềm vui khi đất nước được toàn thắng.
4.1. Nhà thơ Tố Hữu
Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị của nền văn học cách mạng trong thời đại mới. Thơ của Tố Hữu đã hiện diện trong đời sống cách mạng và tinh thần, có sức thu hút và cổ vũ lớn lao. Đó chính là niềm say mê lí tưởng, những tình cảm chân thành và năng lực truyền cảm hứng mạnh mẽ cùng với một phong cách nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc.
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.1. Vài nét về tiểu sử
Phạm Tiến Duật sinh (1941 – 2007), tại Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ)
Năm 1964, ông tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.2. Những tập thơ chính:
Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970)
Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
Thơ một chặng đường (tuyển tập, 1994)
Nhóm lửa (thơ, 1996)
Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng).
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.3. Phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật
Hình tượng các nhân vật trữ tình tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.3. Phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật
Hình tượng các nhân vật trữ tình tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.3. Phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật
Nét đặc sắc trong thơ Phạm Tiến Duật
- Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên thể hiện qua lớp từ ngữ của phong cách sinh hoạt và thể hiện trong sự gia tăng của chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ.
- Ngôn ngữ thơ không chỉ thô ráp, bụi bặm mà còn mang sắc thái uyển chuyển, mềm mại.
- Cấu trúc dễ nhớ, dễ thuộc, bình dị, mang âm hưởng đời thường và đậm đặc chất lính, giai điệu bài hát đẹp
TRƯỜNG SƠN ĐÔNG – TRƯỜNG SƠN TÂY
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.
Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.
Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.
Em thương anh bên tây mùa đông
Nước khe cạn bướm bay lèn đá
Biết lòng anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù
Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.
Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.
Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.4. Bài thơ Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây
Mở đầu, Phạm Tiến Duật đã biến không gian công cộng của chiến tranh thành không gian riêng tư của hai người yêu nhau
Tình yêu đã vượt qua tất cả, thời gian dằng dặc của cuộc chiến, không gian cách trở của Trường Sơn, những thử thách sống chết rình rập
Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây là một bản tình ca trong chiến tranh
Trường Sơn mênh mông ấy dường như đã trở thành cái nền của những mối tình đẹp nảy nở trong quá trình kháng chiến
4.2. Nhà thơ Phạm Tiến Duật
4.2.4. Bài thơ Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây
- Những con người cùng sống, cùng hỗ trợ và kháng chiến cùng nhau để rồi tạo nên một bức tranh con người và thiên nhiên trông thật đẹp
Tình yêu đã phát triển mạnh mẽ và ở trong tình hình mưa bom bão đạn như bấy giờ thì nó là một sự liên kết vô cùng bền chặt
Phạm Tiến Duật tạo dựng, thể hiện nên ngọn lửa của lòng yêu nước, của lòng tự hào dân tộc
Câu 1: Trong giải thưởng văn nghệ 1954-1955, tập thơ đạt giải nhất là tập thơ nào, của ai?
A. Tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu
B. Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu
C. Tập thơ Nụ cười chính nghĩa của Tú Mỡ
D. Tập thơ Anh ba Thắng của Việt Ánh
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 2: Câu nào sau đây nhận xét không đúng về đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến CMT8-1945?
A. Nhìn chung, ở thời kỳ này, người cầm bút không thể thành công nếu không đổi mới cách viết của mình.
B. Nền văn học được hiện đại hoá.
C. Có nhịp độ phát triển mau lẹ.
D. Sự phân hoá phức tạp thành nhiều xu hướng trong quá trình phát triển.
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 3: Nét nổi bật trong thơ sau 1975 là khẳng định con người
A. Con người xã hội
B. Con người cá tính
C. Con người quá khứ
D. Con người hiện tại
Câu 4: Đâu là hai xu hướng chính về hình thức nghệ thuật của thơ ca giai đoạn 1945-1975 ?
A. Kế thừa các hình thức thơ ca dân gian, dân tộc và tự do hóa hình thức thơ.
B. Cách tân toàn bộ thơ ca và khai thác thơ tự do theo lối cá nhân
C. Kế thừa các hình thức thơ ca dân gian và tập trung chủ yếu sáng tạo thể thơ tự do hoàn toàn mới
D. Các ý trên đều sai
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 5: Vì sao văn học giai đoạn 1945-1975 phải tìm về khai thác, kế thừa những giá trị và kinh nghiệm nghệ thuật từ lâu đời của văn học dân gian và văn học cổ điển ?
A. Văn học giai đoạn này chưa chấp nhận được sự đổi mới, cách tân, thay đổi vấp phải sự phản đối gay gắt của nhân dân
B. Văn học Việt Nam từ sau CMT8 là nền văn học hướng về đại chúng và dân tộc. Quần chúng nhân dân là đối tượng phục vụ chính của văn học.
C. Quan niệm gìn giữ truyền thống, không muốn thoát li, ảnh hưởng của thời cuộc, các nhà thơ ngại việc đổi mới, tìm tòi, sáng tạo
D. Tất cả đều đúng
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 6. Ngôn ngữ thơ ca giai đoạn 1945-1975 có sự thay đổi gì?
A. Mang đậm hơi hướng dân gian, thấm nhuần tư tưởng chính trị, chiến đấu bảo vệ tổ quốc
B. Ngôn ngữ bình dị, tiến gần với hiện thực đời sống, loại bỏ các từ ngữ chính trị, quân sự
C. Ngôn ngữ bình dị, gần với hiện thực đời sống kết hợp với các từ ngữ chính trị, quân sự
D. Mang đậm hơi hướng dân gian, kết hợp từ ngữ thuộc lĩnh vực chính trị, quân sự
Câu 7: Nét nào sau đây KHÔNG phải là phong cách nghệ thuật trong thơ Tố Hữu
A. Tính trữ tình, chính trị
B. Tính triết lí, suy tưởng
C. Giọng điệu tâm tình ngọt ngào
D. Khuynh hướng sử thi
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 8: Đặc điểm nào sau đây đúng khi nói về nội dung bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên:
A. Thể hiện những chiêm nghiêm về cuộc sống.
B. Thể hiện niềm vui, niềm tin tưởng và lòng biết ơn với đất nước
C. Dựng lại trận đánh hiệp đồng các binh chủng lớn nhất, hiện đại nhất trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp.
D. Thể hiện suy ngẫm, phát hiện và say mê, tự hào về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc.
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Câu 9: Nối tên tác phẩm ở cột A với nội dung cột B cho thích hợp
Câu 10: Nhà thơ nào có nhiều bài thơ về Trường Sơn thời chiến tranh, trong đó nổi tiếng nhất là "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây"?
A. Hoàng Cầm
B. Phạm Tiến Duật
C. Tố Hữu
D. Chế Lan Viên
5. Hệ thống câu hỏi củng cố
Cảm ơn mọi người
Đã chú ý lắng nghe
 







Các ý kiến mới nhất