Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tâm
Ngày gửi: 22h:40' 18-10-2021
Dung lượng: 8.8 MB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích: 0 người
Chào mừng các em đến với tiết học !
Nguyễn Dữ
Bài 4 Tiết 15, 16, 17
Văn bản:
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích Truyền kì mạn lục)
1/ Tác giả: Nguyễn Dữ (? - ?)
- Quê ở huyện Trường Tân, nay là Thanh Miện ( Hải Dương)
- Ông sống ở thế kỉ XVI, thời kì XHPK khủng hoảng với sự tranh giành quyền lực của Lê – Trịnh – Mạc.
- Ông là người học rộng tài cao nhưng chỉ làm quan có 1 năm rồi về ở ẩn.
Ông là tác giả của tập truyện
“Truyền kì mạn lục”
I. Chú thích
- Nhan đề: Truyền kì mạn lục là ghi chép những điều tản mạn được lưu truyền.
- Tác phẩm gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán, có chịu ảnh hưởng của truyện truyền kì Trung Quốc, nhưng cũng khai thác các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam.
Nhân vật chính:
+ Người phụ nữ…
+ Người trí thức….
Áng “thiên cổ kì bút”
( Áng văn hay ngàn đời)
2/ Tác phẩm
Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Bảng di tích văn hóa trước cổng.
Cổng đền
Một đoạn sông Hoàng Giang trước đền.
LẠI BÀI VIẾNG VŨ THỊ
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng.
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Lê Thánh Tông
I. Chú thích:
3/ Đọc – Tóm tắt
1. Vũ Thị Thiết là ngư­ời con gái đẹp ngư­ời, đẹp nết, lấy chàng Trương con nhà hào phú ít học.
2. Đang sum họp êm đềm, xảy ra nạn binh đao, Tr­ương Sinh phải đăng lính…
Vũ Nuương ở nhà phụng dưuỡng mẹ già, nuôi con nhỏ.
3. Giặc tan Tr­ương Sinh trở về, bế con ra thăm mộ mẹ, đứa trẻ quấy khóc, Trương Sinh dỗ dành:
- Nín đi con, cha về bà đã mất lòng cha buồn khổ lắm rồi.
Đứa con ngây thơ nói:
- Ô hay thế ông cũng là cha tôi ư, ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.
Nghe lời con trẻ nghi ngờ vợ thất tiết, Trương Sinh đánh đuổi vợ đi.
Hàng xóm can ngăn, khuyên nhủ đều không được.

4. Vũ N­ương thanh minh không được bèn gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
5. Sau khi Vũ N­ương chết, một hôm chàng ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con chỉ bóng chàng trên vách và nói: “Cha Đản lại đến kìa”, thì ra đêm đêm đứa con quấy khóc nàng thường chỉ bóng mình trên vách nói là cha Đản để dỗ dành con. Tr­ương Sinh lúc đó hiểu ra nỗi oan của vợ, nhưng việc đã muộn rồi.
Tóm tắt văn bản


1. Vũ Thị Thiết là người con gái đẹp người đẹp nết, lấy chàng Trương con nhà hào phú ít học.
2. Đang sum họp đầm ấm, xảy ra nạn binh đao, Trương Sinh phải đăng lính, Vũ Nương ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con nhỏ…
3. Giặc tan Trương Sinh trở về, nghe lời con trẻ nghi ngờ vợ thất tiết và đuổi vợ đi.
4. Vũ Nương thanh minh không được bèn gieo minh xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
5. Sau khi Vũ Nương chết, Trương Sinh được con chỉ cái bóng trên tường, chàng hiểu ra vợ bị oan.
6. Phan Lang gặp Vũ Nương ở dưới thuỷ cung, nàng gửi chiếc hoa vàng và lời nhắn Trương Sinh.
7. Trương Sinh lập đàn giải oan, xong Vũ Nương chỉ hiện về trong chốc lát, rồi biến mất.
I. Tìm hiểu chung:
3/ Đọc – Tóm tắt
4/ Bố cục: 3 phần
Cuộc hôn nhân của Vũ Nương và Trương Sinh.
Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.
Vũ Nương dưới Thủy Cung và được giải oan.
P.3.Còn lại
P.1. Từ đầu ”như cha mẹ đẻ mình”.
P.2 Tiếp  “đã qua rồi”.
II. Phân tích:
1. Nhân vật Vũ Nương
II. Phân tích:
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vẻ đẹp đức hạnh của Vũ Nương
Vũ Nương được giới thiệu:
+ Thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
+ Trương Sinh xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về.
- > Cách giới thiệu vừa cụ thể, vừa khái quát. Kết cấu “đã…lại”
=> Vũ Nương là người con gái đẹp người đẹp nết (hoàn mĩ).
a. Vẻ đẹp đức hạnh của Vũ Nương
Vũ Nương đã được đặt vào những tình huống, mối quan hệ nào để thể hiện vẻ đẹp của mình?
Qua đó, trình bày vẻ đẹp của nhân vật.
Qua 3 tình huống
- Trong cuộc sống vợ chồng
- Khi tiễn chồng đi lính
- Khi xa chồng
a. Vẻ đẹp đức hạnh của Vũ Nương
* Trong cuộc sống vợ chồng:
Hiểu chồng có tính đa nghi.
Luôn giữ gìn khuôn phép.
Không để lúc nào vợ chồng phải thất hòa.
=> Cách cư xử khéo léo, đúng mực. Luôn giữ gìn, chăm lo cho hạnh phúc gia đình.
* Khi tiễn chồng đi lính
Hành động: Rót chén rượu đầy, bịn rịn, lưu luyến.
- Lời nói: Không màng vinh hiển, chỉ mong chồng bình an trở về..
- Cảm thông, lo lắng trước nỗi gian nan của chồng.
- Bày tỏ nỗi nhớ thương chồng da diết, khắc khoải.
-> Câu văn nhịp nhàng theo lối biền ngẫu, hình ảnh ước lệ dùng điển tích, giọng điệu tha thiết, đằm thắm, luôn lo lắng cho chồng, khao khát hạnh phúc bình dị, trọn vẹn.
Đối với chồng
- “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn... không thể nào ngăn được`‘.
- “Giữ gìn một tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.
- Nghệ thuật miêu tả ước lệ diễn tả thời gian, không gian kéo dài. ->Đợi chờ, ngóng trông, nỗi buồn, nhớ nhung khắc khoải.
-> Là người vợ hiền, thủy chung, yêu chồng tha thiết.
Đối với mẹ chồng
- Mẹ buồn: Ngọt ngào an ủi.
- Mẹ ốm: hết lòng thuốc thang, khuyên lơn.
- Mẹ mất: thương xót, lo ma chay tế lễ chu đáo.
- Lời trăng trối: Xanh kia …chẳng phụ mẹ.
-> Là người con dâu dịu dàng, ân cần, hiếu thảo.
 
Đối với con
- Một mình sinh và nuôi con khôn lớn.
- Trỏ bóng mình trên vách nói đùa con trẻ.
Người mẹ thương con, mong con có một gia đình trọn ven.




* Khi xa chồng
VŨ NƯƠNG





Đẹp người,đẹp nết
Là người con dâu hiếu thảo
Là người mẹ thương yêu con
Là người vợ hiền chung thủy
- Lời thoại 1:
->Câu văn biền ngẫu giàu hình ảnh, lời văn chân thành, phân trần, thanh minh, giãi bày tình cảm và nỗi lòng nhớ nhung khi xa cách, hy vọng níu kéo, hàn gắn hạnh phúc gia đình.
- Lời thoại 2:
=> Dùng một loạt thành ngữ, câu văn biền ngẫu diễn đạt sự chia lìa đôi lứa, sự đau đớn, thất vọng khi hạnh phúc gia đình tan vỡ.
* Khi bị chồng nghi oan:
- Lời thoại 3:
-> Lời độc thoại, lời than, lời nguyền, lời thề ai oán và phẫn uất, bế tắc, quyết lấy cái chết để chứng minh cho sự oan khuất và phẩm tiết trong sạch của mình
-> Đau khổ, tuyệt vọng đến cùng cực.
-> Trong sạch, ngay thẳng, cao thượng.
* Khi dưới thủy cung:
->Luôn nặng lòng với quê hương bản quán
=> Sống trọng ân nghĩa, giàu lòng vị tha.
Phẩm chất, đức hạnh của Vũ Nương
Người vợ thủy chung, nết na, đức hạnh, yêu thương chồng tha thiết
Vị tha, trọng ân nghĩa
Người con dâu đảm đang, hiếu thảo, người mẹ hiền.
- Tác giả đặt nhân vật trong các hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ phẩm chất cao đẹp của nàng: thùy mị, nết na, đức hạnh, hiếu thảo, vị tha, yêu thương, chung thuỷ son sắc. Nàng là hiện thân tiêu biểu cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.


*Bi kịch của Vũ Nương
* Tình huống truyện:
- Trương Sinh trở về: mẹ mất, con còn nhỏ không nhận cha.
→ Tình huống truyện bất ngờ, gay cấn.
- Nghe lời con trẻ, Trương Sinh nghi ngờ vợ thất tiết.
→ Làm cho nỗi oan của Vũ Nương không thể nào thanh minh được.
- Bị chồng nghi oan thất tiết, bị đối xử tàn nhẫn.
- Nàng hết lòng phân trần, giãi bày, cầu xin…
- Đau đớn, thất vọng vì hạnh phúc gia đình bị tan vỡ.
 Một số phận bi thảm, bất hạnh. Là hiện thân cho người phụ nữ trong XHPK.
Bị bức tử. Đầu hàng số phận. Nhưng cũng là lời tố cáo XHPK.
Nguyên nhân
Gián tiếp
b. Số phân bi kịch của Vũ Nương
* Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương
Trực tiếp

Do Trương Sinh vô học, đa nghi, xử sự hồ đồ, độc đoán

Chiến tranh
PK
Lễ giáo
PK khắt khe
Chế độ nam
quyền
Vũ Nương bất lực, đầu hàng số phận.
-> Cái chết của Vũ nương là lời tố cáo thói ghen tuông, ích kỉ và luật lệ phong kiến hà khắc.
-> Số phận bất hạnh của Vũ Nương cũng là số phận cuả ng­ười phụ nữ Việt Nam thời phong kiến

Do lời nói ngây thơ của bé Đản

Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử, nhưng nàng đi đến cái chết thật bình tĩnh: tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng ... Hành động của nàng có nỗi tuyệt vọng, đắng cay, nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí.
Có ý kiến cho rằng hành động gieo mình của Vũ Nương là hành động bột phát trong lúc nóng giận, có ý kiến lại cho rằng đó là hành động có sự chỉ đạo của lí trí ? Em đồng ý với ý kiến nào ? Vì sao ?
2. Trương Sinh:
- Con nhà hào phú, ít học.
- Một người chồng độc đoán, đa nghi.
- Một kẻ vũ phu thô bạo.

-> Trương Sinh là hiện thân của chế độ nam quyền phong kiến bất công, phi lý.

Ý nghĩa: Là điểm thắt-mở nút của tấn bi kịch
3. Hình ảnh cái bóng:
Cái bóng



- Dỗ con.
- Cho khuây nỗi nhớ chồng.
- Là tình yêu thương dành cho chồng con.



Là người đàn ông lạ, bí ẩn

Lần 1: Là bằng chứng cho sự hư hỏng
của vợ.
Lần 2: Mở mắt cho chàng tỉnh ngộ về
tai họa do chàng gây ra.
V?i bộ D?n
V?i Vu Nuong
V?i Tr. Sinh
4. Những yếu tố kì ảo:
+ Phan Lang nằm mộng, thả rùa xanh.
+ Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được Linh Phi cứu sống, đãi yến tiệc và gặp Vũ Nương...
+ Hình ảnh Vũ Nương xuất hiện khi Trương Sinh lập đàn tràng giải oan
* Ý nghĩa:
- Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương: bao dung, vị tha, nặng lòng với gia đình.
- Tạo nên một kết thúc có hậu cho tác phẩm: khao khát được phục hồi danh dự.
- Thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân về lẽ công bằng trong cuộc đời, người tốt dù trải qua bao oan khuất cuối cùng vẫn được minh oan.


* Chi tiết có thực:
+ Sông Hoàng Giang.
+ Nhân vật Trần Thiêm Bình.
+ Ải Chi Lăng, quân Minh đánh nước ta nhiều người chạy trốn ra bể bị đắm thuyền...
→ Yếu tố kì ảo xen kẽ những chi tiết có thực làm cho thế giới kì ảo lung linh trở nên gần gũi với cuộc đời thực, tăng độ tin cậy.
Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương
thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Cổng đền
Bảng di tích văn hóa trước cổng
III. TỔNG KẾT: 1. Nội dung
Giá trị hiện thực
Phản ánh xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền chà đạp lên số phận người phụ nữ.
Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận người phụ nữ.
Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh liên miên.
Giá trị nhân đạo
Ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ.
Niềm thương cảm đối với số phận người phụ nữ trong xã hội xưa.
Ước mơ về cuộc sống công bằng, hạnh phúc.
Gián tiếp tố cáo xã hội phong kiến.
III. TỔNG KẾT: 2. Nghệ thuật
Nghệ thuật dựng truyện kịch tính, hấp dẫn sinh động với những dẫn dắt hợp lí.
Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng.
Kết hợp phương thức tự sự và yếu tố biểu cảm.
Có nhiều sáng tạo so với cốt truyện cổ tích
Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua hành động và lời nói, những lời trần thuật, lời đối thoại.
- Sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ, khắc họa nội tâm nhân vật
Sử dụng yếu tố truyền kì (kì ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm
LUYỆN TẬP
1- Kể tóm tắt văn bản Chuyện người con gái Nam Xương
2- Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về một trong hai nhận vật Trương Sinh hoặc mẹ Trương Sinh
HƯỚNG DẪN Ở NHÀ
- Phân tích giá trị nhân đạo của truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”.
Kể lại truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” theo cách của em.
- Chuẩn bị bài: Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp.
Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.

-> Là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết.
- Lời giới thiệu:
a. Trong cuộc sống vợ chồng :
+ Luôn giữ gìn khuôn phép.
+ Không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà.
-> Cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn hạnh phúc gia đình.
b. Khi tiễn chồng đi lính:
+ Hành động: Rót chén rượu đầy mà rằng
+ Lời nói: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, ... cánh hồng bay bổng”.
“Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín ngàn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”.
- Khi tiễn chồng đi lính:
+ Hành động: Rót chén rượu đầy mà rằng
+ Lời nói: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, ... cánh hồng bay bổng”.
 Nàng không trông mong vinh hiển, chỉ cầu mong chồng được bình an trở về; cảm thông trước những nỗi vất vả, gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng, cho cả nỗi niềm của bà mẹ xa con; bày tỏ nỗi khắc khoải nhớ nhung của người vợ trẻ.
 Lời nói chân thành, dịu dàng, thiết tha, cảm động, đằm thắm tình nghĩa vợ chồng.
Khi xa chồng:
+ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được.
+ Khi mẹ chồng ốm: nàng hết sức thuốc thang lễ bỏi thần phật và lấy lời ngon ngọt khuyên lơn.
+ Khi mẹ chồng chết: nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.

Lời trăng trối của bà mẹ chồng thể hiện sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng, niềm tin Vũ Nương có hạnh phúc khi Trương Sinh trở về.
Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng ăn miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng tham không cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
Khi xa chồng:
+ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được.
+ Khi mẹ chồng ốm: nàng hết sức thuốc thang lễ bỏi thần phật và lấy lời ngon ngọt, khôn khéo khuyên lơn.
+ Khi mẹ chồng chết: nàng hết lời thương xút, phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.
-> Vũ Nương là người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết; là người mẹ hiền, người con dâu chu đáo, hiếu thảo.
 
Gửi ý kiến