Tìm kiếm Bài giảng
Cơ Sở Văn Hóa VN Ca trù, quan họ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trần Thương Hà
Ngày gửi: 14h:38' 08-08-2019
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 116
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trần Thương Hà
Ngày gửi: 14h:38' 08-08-2019
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 116
Số lượt thích:
0 người
GIỚI THIỆU QUAN HỌ - CA TRÙ
A.QUAN HỌ
1.Nguồn gốc.
2.Phân loại.
2.1.Quan họ truyền thống.
2.2. Quan họ mới.
3. Trang phục.
4.Nghệ thuật.
4.1.Ca từ trong Quan họ.
4.2.Giọng điệu.
5.Văn hóa Quan họ.
B.CA TRÙ
Nguồn gốc.
Vài nét đặc trưng ca trù.
2.1.Đặc điểm của các bài hát ca trù.
2.2.Dàn nhạc ca trù.
2.3.Âm nhạc.
2.3.1. Thanh nhạc.
2.3.2.Nhạc cụ.
3. Trang phục.
4. Tổ chức “ phường”, “giáo phường”.
A. QUAN HỌ.
- Quan họ (hay còn được gọi là quan họ Bắc Ninh hay Quan họ Kinh Bắc) là lối hát giao duyên của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc và phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu.
- 30/09/2009, Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO công nhận Quan họ là di sản văn hóa phi vật thể.
1. Nguồn gốc.
Cho đến nay, tuy có nhiều công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về Quan họ nhưng chúng ta vẫn chưa xác định được nguồn gốc của nó.
2. Phân loại.
Hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc.
Chỉ tồn tại ở 49 làng quan họ gốc của xứ Kinh Bắc.
Chủ yếu là lối hát đối đáp giữa “liền anh” và “liền chị”.
Trong các dịp lễ hội, mùa xuân thu nhị kỷ ở các làng quê.
Không có nhạc đệm kèm theo, cũng không có khán giả.
Lối hát quan họ có nhiều kiểu hát.
Một canh hát quan họ chính thống thường tuân thủ theo trình tự: lề lối, giọng vặt, giã bạn.
2.1. Quan họ truyền thống.
Hình ảnh minh họa “Quan họ truyền thống”.
2. Phân loại.
Còn được gọi là "hát Quan họ".
Hình thức biểu diễn: trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Trình diễn quanh năm và luôn có khán giả.
Hình thức biểu diễn phong phú, đa dạng.
Quan họ mới cũng cải biên cả nhạc lẫn lời của quan họ truyền thống.
2.2. Quan họ mới.
Một số hình thức biểu diễn “Quan họ mới”
Trang phục của các liền chị thường là áo mớ ba, mớ bảy, váy sồi hoặc váy lụa, yếm, thắt lưng, khan vấn tóc, đội nón quai thao hoặc nón ba tầm.
Trang phục của liền chị
3. Trang phục.
Trang phục của liền anh
Trang phục của các liền anh là áo dài 5 thân , cổ đứng bằng the, lương hoặc đoạn, quần dài trắng đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp, cầm ô lục soạn.
3. Trang phục.
4. Nghệ thuật.
Hệ thống bài bản của quan họ vô cùng phong phú.
Trên 300 bài và trên dưới 200 làn điệu khác nhau.
Lời ca câu hát được trâu chuốt, có ngôn từ đẹp, tế nhị và nội dung trữ tình sâu sắc, có thể chuẩn bị từ trước hoặc được sáng tạo ngẫu hứng tùy theo khả năng ứng biến của hai bên.
4.1. Ca từ trong Quan họ.
Hát quan họ đòi hỏi phải tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng, kĩ thuật rung, ngân , luyến láy, biết hát vang , rền, nền, nảy, ngắt.
4. Nghệ thuật.
4.2. Giọng điệu.
5.Văn hóa quan họ.
Tục mời trầu.
Tục kết bọn, ngủ bọn.
( Hình ảnh minh họa tục mời trầu.)
( Hình ảnh minh họa tục kết bọn.)
B. CA TRÙ
Nguồn gốc.
Vài nét đặc trưng ca trù.
2.1.Đặc điểm của các bài hát ca trù.
2.2.Dàn nhạc ca trù.
2.3.Âm nhạc.
2.3.1. Thanh nhạc.
2.3.2.Nhạc cụ.
3. Trang phục.
4. Tổ chức “ phường”, “giáo phường”.
B.CA TRÙ
Còn được gọi là hát ả đào, hát cô đầu. hát nhà tơ, hát nhà trò,…
Là loại hình nghệ thuật truyền thống của miền Bắc.
Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất thơ và chất nhạc,
đôi khi có cả múa. Là loại hình ca nhạc độc đáo, dân gian, bác học
Đến nay, Ca Trù là loại nhạc thính phòng của Việt Nam.
1/10/2009, UNESCO công nhận Ca Trù là di sản văn hóa phi vật thể.
1. Nguồn gốc
Không có nguồn tài liệu chính thức để khẳng định các mốc lịch sử của ca trù.
Bức chạm dàn nhạc công đang tấu nhạc, chùa Phật Tích
Bức chạm các tiên nữ tấu nhạc
ngồi trên lưng chim thần Garuda
– chùa Thái Lạc
2. VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA CA TRÙ
2.1 Nghệ thuật:
+ Phân loại :
-Hát thờ (hát cửa đình) :Giáo trống, giáo hương, dâng hương,...
-Hát chúc hỗ (hát trong cung vua phủ chúa) :Hát chúc hỗ, bắc phản,...
-Hát chơi ( hát ở tư dinh) : Hồng hồng tuyết tuyết, Hương Sơn phong cảnh,.
+ Chất liệu :
Ca từ của ca trù là những áng văn chương mang tính uyên bác,
ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ.
2.2 Dàn nhạc ca trù:
1 nữ ca sĩ (đào hay ca nương):
hát theo lối nói và sử dụng bộ phách để gõ nhịp.
1 nhạc công nam giới (kép): đệm đàn đáy cho người hát.
Người thưởng ngoạn (quan viên):
là người sành về ca trù, am hiểu âm luật, đánh trống trầu để thưởng tặng cho những lời ca, tiếng đàn tuyệt diệu
Dàn nhạc ca trù
(bên trái là người thưởng ngoạn, ở giữa là ca nương,
bên phải là nhạc công)
2.3 ÂM NHẠC
2.3.1 Thanh nhạc.
Kỹ thuật hát ca trù rất tinh tế, công phu nắn nót, trau truốt.
Ca nương phải có giọng thanh - cao - vang, khi hát phải biết ém hơi,
nhả chữ; hát tròn vành rõ chữ, biết dùng nguyên âm “ư” làm nền
2.3.2 Nhạc cụ.
Phách tre
Đàn đáy
Trống chầu
Nhạc cụ trong ca trù
3. TRANG PHỤC
Trang phục đồng đều
nhưng không cầu kỳ và không câu nệ quy cách.
Thường thì ca nương sẽ mặc 1 lớp áo màu
(chỉ 1 màu) bên trong,
rồi khoác 1 lớp áo the ra ngoài.
Trang phục của nghệ nhân ca trù
4. Tổ chức “ Phường” và “ giáo phường”
Là tổ chức ca trù gồm nhiều họ, đứng đầu là ông trùm.
Do trùm phường và quản giáp cai quản, rất chuyên nghiệp.
Có các quy ước mà thành viên phải tuân thủ.
Hằng năm đều tổ chức lễ tế tổ vào ngày 11 tháng chạp.
Là nơi đào tạo ca nương
Một tổ chức Giáo phường ca trù
KẾT LUẬN
A.QUAN HỌ
1.Nguồn gốc.
2.Phân loại.
2.1.Quan họ truyền thống.
2.2. Quan họ mới.
3. Trang phục.
4.Nghệ thuật.
4.1.Ca từ trong Quan họ.
4.2.Giọng điệu.
5.Văn hóa Quan họ.
B.CA TRÙ
Nguồn gốc.
Vài nét đặc trưng ca trù.
2.1.Đặc điểm của các bài hát ca trù.
2.2.Dàn nhạc ca trù.
2.3.Âm nhạc.
2.3.1. Thanh nhạc.
2.3.2.Nhạc cụ.
3. Trang phục.
4. Tổ chức “ phường”, “giáo phường”.
A. QUAN HỌ.
- Quan họ (hay còn được gọi là quan họ Bắc Ninh hay Quan họ Kinh Bắc) là lối hát giao duyên của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc và phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu.
- 30/09/2009, Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO công nhận Quan họ là di sản văn hóa phi vật thể.
1. Nguồn gốc.
Cho đến nay, tuy có nhiều công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về Quan họ nhưng chúng ta vẫn chưa xác định được nguồn gốc của nó.
2. Phân loại.
Hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc.
Chỉ tồn tại ở 49 làng quan họ gốc của xứ Kinh Bắc.
Chủ yếu là lối hát đối đáp giữa “liền anh” và “liền chị”.
Trong các dịp lễ hội, mùa xuân thu nhị kỷ ở các làng quê.
Không có nhạc đệm kèm theo, cũng không có khán giả.
Lối hát quan họ có nhiều kiểu hát.
Một canh hát quan họ chính thống thường tuân thủ theo trình tự: lề lối, giọng vặt, giã bạn.
2.1. Quan họ truyền thống.
Hình ảnh minh họa “Quan họ truyền thống”.
2. Phân loại.
Còn được gọi là "hát Quan họ".
Hình thức biểu diễn: trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Trình diễn quanh năm và luôn có khán giả.
Hình thức biểu diễn phong phú, đa dạng.
Quan họ mới cũng cải biên cả nhạc lẫn lời của quan họ truyền thống.
2.2. Quan họ mới.
Một số hình thức biểu diễn “Quan họ mới”
Trang phục của các liền chị thường là áo mớ ba, mớ bảy, váy sồi hoặc váy lụa, yếm, thắt lưng, khan vấn tóc, đội nón quai thao hoặc nón ba tầm.
Trang phục của liền chị
3. Trang phục.
Trang phục của liền anh
Trang phục của các liền anh là áo dài 5 thân , cổ đứng bằng the, lương hoặc đoạn, quần dài trắng đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp, cầm ô lục soạn.
3. Trang phục.
4. Nghệ thuật.
Hệ thống bài bản của quan họ vô cùng phong phú.
Trên 300 bài và trên dưới 200 làn điệu khác nhau.
Lời ca câu hát được trâu chuốt, có ngôn từ đẹp, tế nhị và nội dung trữ tình sâu sắc, có thể chuẩn bị từ trước hoặc được sáng tạo ngẫu hứng tùy theo khả năng ứng biến của hai bên.
4.1. Ca từ trong Quan họ.
Hát quan họ đòi hỏi phải tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng, kĩ thuật rung, ngân , luyến láy, biết hát vang , rền, nền, nảy, ngắt.
4. Nghệ thuật.
4.2. Giọng điệu.
5.Văn hóa quan họ.
Tục mời trầu.
Tục kết bọn, ngủ bọn.
( Hình ảnh minh họa tục mời trầu.)
( Hình ảnh minh họa tục kết bọn.)
B. CA TRÙ
Nguồn gốc.
Vài nét đặc trưng ca trù.
2.1.Đặc điểm của các bài hát ca trù.
2.2.Dàn nhạc ca trù.
2.3.Âm nhạc.
2.3.1. Thanh nhạc.
2.3.2.Nhạc cụ.
3. Trang phục.
4. Tổ chức “ phường”, “giáo phường”.
B.CA TRÙ
Còn được gọi là hát ả đào, hát cô đầu. hát nhà tơ, hát nhà trò,…
Là loại hình nghệ thuật truyền thống của miền Bắc.
Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất thơ và chất nhạc,
đôi khi có cả múa. Là loại hình ca nhạc độc đáo, dân gian, bác học
Đến nay, Ca Trù là loại nhạc thính phòng của Việt Nam.
1/10/2009, UNESCO công nhận Ca Trù là di sản văn hóa phi vật thể.
1. Nguồn gốc
Không có nguồn tài liệu chính thức để khẳng định các mốc lịch sử của ca trù.
Bức chạm dàn nhạc công đang tấu nhạc, chùa Phật Tích
Bức chạm các tiên nữ tấu nhạc
ngồi trên lưng chim thần Garuda
– chùa Thái Lạc
2. VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA CA TRÙ
2.1 Nghệ thuật:
+ Phân loại :
-Hát thờ (hát cửa đình) :Giáo trống, giáo hương, dâng hương,...
-Hát chúc hỗ (hát trong cung vua phủ chúa) :Hát chúc hỗ, bắc phản,...
-Hát chơi ( hát ở tư dinh) : Hồng hồng tuyết tuyết, Hương Sơn phong cảnh,.
+ Chất liệu :
Ca từ của ca trù là những áng văn chương mang tính uyên bác,
ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ.
2.2 Dàn nhạc ca trù:
1 nữ ca sĩ (đào hay ca nương):
hát theo lối nói và sử dụng bộ phách để gõ nhịp.
1 nhạc công nam giới (kép): đệm đàn đáy cho người hát.
Người thưởng ngoạn (quan viên):
là người sành về ca trù, am hiểu âm luật, đánh trống trầu để thưởng tặng cho những lời ca, tiếng đàn tuyệt diệu
Dàn nhạc ca trù
(bên trái là người thưởng ngoạn, ở giữa là ca nương,
bên phải là nhạc công)
2.3 ÂM NHẠC
2.3.1 Thanh nhạc.
Kỹ thuật hát ca trù rất tinh tế, công phu nắn nót, trau truốt.
Ca nương phải có giọng thanh - cao - vang, khi hát phải biết ém hơi,
nhả chữ; hát tròn vành rõ chữ, biết dùng nguyên âm “ư” làm nền
2.3.2 Nhạc cụ.
Phách tre
Đàn đáy
Trống chầu
Nhạc cụ trong ca trù
3. TRANG PHỤC
Trang phục đồng đều
nhưng không cầu kỳ và không câu nệ quy cách.
Thường thì ca nương sẽ mặc 1 lớp áo màu
(chỉ 1 màu) bên trong,
rồi khoác 1 lớp áo the ra ngoài.
Trang phục của nghệ nhân ca trù
4. Tổ chức “ Phường” và “ giáo phường”
Là tổ chức ca trù gồm nhiều họ, đứng đầu là ông trùm.
Do trùm phường và quản giáp cai quản, rất chuyên nghiệp.
Có các quy ước mà thành viên phải tuân thủ.
Hằng năm đều tổ chức lễ tế tổ vào ngày 11 tháng chạp.
Là nơi đào tạo ca nương
Một tổ chức Giáo phường ca trù
KẾT LUẬN
 









Các ý kiến mới nhất