CTST - Bài 5. Phong trào dân tộc dân chủ những năm 1918-1930

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Trung Nguyên
Ngày gửi: 11h:56' 23-09-2024
Dung lượng: 9.1 MB
Số lượt tải: 1168
Nguồn:
Người gửi: Lương Trung Nguyên
Ngày gửi: 11h:56' 23-09-2024
Dung lượng: 9.1 MB
Số lượt tải: 1168
Số lượt thích:
1 người
(Minh Khuê)
Giáo viên: Phạm Thị Thanh Nga
Phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn và xuất khẩu lúa gạo Nam Kì 1923
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, thực dân Pháp bắt đầu
tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam. Cùng
lúc, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, sự ra đời của
Quốc tế Cộng sản và các phong trào dân chủ trên thế giới tràn
vào Việt Nam, thổi bùng lên phong trào đấu tranh yêu nước
những năm 1918 – 1930. Phong trào chống độc quyền cảng Sài
Gòn và xuất khẩu lúa gạo Nam Kì 1923 là một trong các phong
trào dân tộc dân chủ những năm 1918 – 1930. Hôm nay, chúng ta
cùng tìm hiểu qua nội dung bài học.
Trong những năm 1918 – 1930, phong trào
dân tộc dân chủ diễn ra như thế nào?
Trong những năm 1918 - 1930, phong trào dân
tộc dân chủ diễn ra mạnh mẽ, với nhiều hình
thức đấu tranh phong phú và thu hút sự tham
gia của nhiều giai cấp, tầng lớp.
Kể tên các phong trào đấu tranh của
giai cấp tư sản trong những năm 1918 - 1930.
+ Phong trào “chấn hưng nội hóa, bài trừ
ngoại hóa” (1919)
+ Phong trào đấu tranh chống tư bản
Pháp độc quyền cảng Sài Gòn và độc
quyền xuất cảng lúa gạo ở Nam Kỳ (1923)
Kể tên các phong trào đấu tranh của tầng lớp trí thức,
học sinh, sinh viên trong những năm 1918 - 1930.
+ Xuất bản các tờ báo như: Chuông rè, An Nam trẻ,..
+ Lập ra các nhà xuất bản như: Cường học thư xã,
Nam đồng thư xã,…
+ Đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925)
+ Lễ truy điệu, để tang Phan Châu Trinh (1926)
+ Lập ra các tổ chức chính trị như: Thanh niên cao
vọng (1923), Việt Nam Nghĩa đoàn (1925), Hội
Phục Việt (1925), Đảng Thanh niên (1926),.. làm
nòng cốt trong các phong trào đấu tranh yêu nước.
- Trong những năm 1918 - 1930, phong trào dân
tộc dân chủ diễn ra mạnh mẽ, với nhiều hình thức
đấu tranh phong phú và thu hút sự tham gia của
nhiều giai cấp, tầng lớp: Giai cấp tư sản, giai cấp
địa chủ, tầng lớp tri thức, học sinh, sinh viên,…
Theo em, sự kiện nào tiêu biểu nhất, quan trọng nhất
trong phong trào dân tộc dân chủ những năm 1918 1930?
+ Đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925)
+ Lễ truy điệu, để tang Phan Châu Trinh (1926)
- Hai cuộc đấu tranh có tiếng vang nhất là
đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu
và lễ truy điệu, để tang Phan Châu Trinh.
Tại sao sự kiện đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, lễ
truy điệu và để tang Phan Châu Trinh lại có ý nghĩa
quan trọng đối với phong trào dân tộc dân chủ
trong những năm 1918 - 1930?
+ Sự kiện này diễn ra trên quy mô rộng lớn, thu hút
đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
+ Sự kiện đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, lễ truy điệu
và để tang Phan Châu Trinh cũng góp phần thức tỉnh
tinh thần dân tộc và khơi dậy ý chí đấu tranh chống
thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam.
Tháng 6-1925, trên đường từ Hàng Châu về
Quảng Châu để cùng các nhà cách mạng Việt
Nam dựng bia cho liệt sĩ Phạm Hồng Thái
nhân giỗ đầu, Phan Bội Châu bị mật thám
Pháp bắt tại ga Bắc Trạm, Thượng Hải.
Chúng liền đưa ông về giam tại Nhà tù Hỏa
Lò, Hà Nội với một tên giả là Trần Văn Đức
nhằm bí mật thủ tiêu ông mà không gặp sự nổi
giận của người dân Việt một thời yêu mến ông.
Nhưng sự bưng bít đó không thành. Số là
trước khi xuống tàu thủy ở bến Thượng
Hải, cụ đã kịp viết một lá thư ngắn báo tin
mình bị mật thám Pháp bắt gửi cho Lâm
Lượng Sinh, chủ bút tờ Binh sự tạp chí ở
Hàng Châu mà lâu nay cụ cộng tác. Lâm
Lượng Sinh liền cho công bố thông tin đó
trên báo chí Thượng Hải.
Người Trung Quốc đã biết tin đó. Ở
Việt Nam, tờ báo đầu tiên loan tin cụ
Phan bị mật thám bắt là tờ báo hằng
ngày Le Courrer d'Hai Phong. Vậy là ý
định ban đầu không thực hiện được nên
chính quyền thuộc địa Đông Dương quyết
định đưa cụ Phan ra xét xử tại Tòa Đại
hình Hà Nội.
Tin Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử công khai trong
hai ngày cuối tháng 11-1925 tại Tòa Đại hình Hà Nội
được báo chí trên cả nước trước sau giật tít bắt mắt
bằng in đậm loan đi khắp cả nước. Người Việt Nam,
đặc biệt lớp Nho sĩ cấp tiến đã từng trăn trở với vận
nước và lớp trẻ được đánh thức bằng những vần thơ
hào sảng của cụ, đã một thời ngưỡng mộ cụ, cơm
đùm cơm nắm về Hà Nội để được tận mắt chiêm
ngưỡng dung nhan “người anh hùng, vị thiên sứ” đã
xả thân vì đại nghĩa suốt 20 năm nay.
Cả phố Hàng Tre, nơi mở phiên tòa xét xử
cụ, chật cứng người. Một hiện tượng không
mấy khi có trên đất Hà thành vốn bình lặng
và yên ả. Chắc cụ Phan khi bị đưa từ Nhà tù
Hỏa Lò tới đây đã cảm nhận được chỗ dựa
tinh thần to lớn của đám đông dân chúng
ngưỡng mộ cho cuộc chiến đấu mất còn của
cụ trước pháp đình của kẻ thù tàn bạo.
Tại phiên tòa, chẳng trông mong gì vào
hai trạng sư mà Pháp chỉ định bào chữa
cho mình, cụ đứng thẳng dậy với chất
giọng Nghệ, hùng hồn tự bào chữa bằng
những lời hào sảng, đanh thép: “Tôi là
người Nam, tôi biết yêu nước Nam, tôi
muốn đánh thức dân tộc Việt Nam.
Nếu mà trong tay tôi có mấy vạn hải
quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh,
lương túc, súng đủ, đạn nhiều, tàu chiến
có, tàu bay có, thì có lẽ tôi hạ chiến thư,
đường đường chính chính đánh lại Chính
phủ thuộc địa” (Thực Nghiệp Dân Báo,
số ra ngày 24-11-1925).
Những ai chứng kiến phiên tòa hôm đó
đều thấy hả lòng hả dạ với những lời nói
chí tình chí nghĩa của nhà chí sĩ suốt
một đời nặng lòng với nước với dân mà
cả dân tộc ta một thời ngưỡng mộ và đặt
kỳ vọng nơi ông. Dẫu vậy, tòa án vẫn
khép cụ Phan Bội Châu vào án tử hình.
Cả hội trường chùng xuống và nghẹn
ngào. Bỗng từ dưới góc xa của hội trường
vang lên một lời đanh thép, nhưng rất
cảm động: “Hỡi quan tòa, tôi xin được
chết thay cho cụ Phan!”. Cả hội trường
rưng rưng nước mắt, dồn mắt nhìn về
phía góc xa, nơi vọng ra tiếng kêu như
đại diện cho tiếng lòng dân tộc.
Người vừa thốt lên những lời dũng khí đó là
một nhà Nho đã có tuổi mà hôm sau báo chí
đưa tin là cụ Nguyễn Khắc Doanh, người
rất ngưỡng mộ Phan Bội Châu xưa nay đã
cơm đùm cơm nắm từ Nam Trực, Nam
Định lên dự phiên tòa để được một lần
trong đời nhìn thấy dung nhan cụ và may ra
được nắm lấy bàn tay để hơi ấm của cụ
truyền sang mình…
Lời nói của Nguyễn Khắc Doanh bay
khắp đất nước như một lời hiệu triệu
toàn dân tộc Việt Nam xuống đường
tranh đấu giành sự sống cho Phan Bội
Châu, người đã hiến dâng trọn vẹn
cuộc đời cho độc lập tự do của dân tộc.
Cuộc đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu bắt đầu
bằng sự vào cuộc của báo chí thời đó. Người Hà
Nội vẫn còn nhớ như in tờ báo đi tiên phong và
theo đuổi đến tận cùng vụ việc là tờ Thực Nghiệp
Dân Báo của Nguyễn Hữu Thu. Tờ báo đã đăng
tải một chùm 29 bài về nhà chí sĩ Phan Bội Châu,
bao gồm tiểu sử, sự nghiệp cách mạng trước khi bị
bắt, tường thuật chân thật về phiên tòa đề hình xử
cụ và đặc biệt là những bài bình luận nhiều chiều
về vai trò của cụ đối với vận mệnh đất nước.
Điều đáng nói là những bài viết này ngay
sau đó được Thực Nghiệp Dân Báo tập
hợp lại và xuất bản thành hai tập sách
mỏng là Tập án Phan Bội Châu và Những
tin tức và dư luận về Phan Bội Châu, như
là phụ trương của bản báo. Hai tập sách
mỏng này nhanh chóng trở thành những
ấn phẩm bán chạy nhất lúc đó.
Chẳng hạn, Tập án Phan Bội Châu đã phải tái bản
đến lần thứ 3, mỗi lần 5000 bản, truyền đi trên khắp
đất nước tấm lòng yêu nước nồng đượm và khảng
khái của cụ và thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh
chống cường quyền, đòi tự do dân chủ trong nhân
dân Việt Nam. Bấy giờ, người Việt Nam mỗi sáng
thức dậy, cầm tờ Thực Nghiệp Dân Báo trên tay,
đọc và suy ngẫm những bài viết về Phan Bội Châu,
chắc không thể vô cảm, mà phải nhập cuộc vào
phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu.
Trong Những tin tức và dư luận về Phan Bội
Châu, lý giải một cách rõ ràng tại sao nhiều
người Việt Nam xin ân xá cho ông Phan:
“Thấy ông vì yêu nước thương dân mà quên
đi mọi sự ở đời, hơn hai mươi năm lưu lạc
quê người, xa lìa nhà cửa, chỉ một niềm mưu
ích cho nước, mưu lợi cho dân; ông yêu nước
thì nước yêu ông, ông thương dân thì dân
thương ông, nghĩa đời phải vậy”.
Phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu là một
phong trào công khai, được châm ngòi từ
thành thị, trước tiên ở Hà Nội, như một dòng
điện cực mạnh truyền nhanh khắp các đô thị
và lan tỏa về nông thôn, kết thành một phong
trào rộng lớn trên quy mô cả nước với đầy đủ
những lớp người Việt Nam tham gia, từ trẻ
tới già, đẩy lùi kẻ thù từng bước một, từ tử
hình xuống khổ sai.
Chưa dừng lại ở đó, phong trào tiếp tục dâng cao,
dồn kẻ thù đến tận chân tường. Một tờ báo của
Pháp, tờ Minh Trí, số ra ngày 12-12-1925 tường
thuật không khí Toàn quyền Va-ren đến Hà Nội
được tiếp đón bằng những đoàn người với những
đơn thỉnh cầu trên các đường phố: “Khi quan Toàn
quyền đi tới cuối phố Hàng Đường thì có một đám
người 100 bà già quỳ mọp giữa đường để trình ngay
lên một bức thư xin tha tội cho ông Phan. Đứng đầu
là một bà lão đáng 70 tuổi, đầu tóc bạc phơ. Thư
Hội Phục Việt, một tổ chức chính trị vừa
mới được thành lập gồm trí thức, sinh
viên như Phạm Thiều, Tôn Quang Phiệt,
Đặng Thai Mai… cũng nhập cuộc. Họ
viết truyền đơn bằng tiếng Việt và tiếng
Pháp ký tên Hội Phục Việt, cho rải khắp
đường phố Hà Nội, gửi cả sang Pháp và
Hội Quốc Liên.
Trong những tờ truyền đơn rải trên đường
phố Hà Nội, Hội Phục Việt đã tung ra những
lời hiệu triệu xung trận: “Kìa coi dân Ấn Độ,
họ không chịu để cho Cam Địa (Gandhi) bị
đày đọa. Vậy mà cụ Phan Bội Châu đối với
chúng ta còn có ơn đức hơn là Cam Địa đối
với dân Ấn Độ. Các con cháu Rồng Tiên của
chúng ta quyết không chịu ngồi nhìn cho
chúng làm tội cụ Phan Bội Châu”.
Cho biết từ năm 1919, phong trào đấu tranh
của công nhân chủ yếu diễn ra như thế nào?
- Từ năm 1919, phong trào đấu tranh của
công nhân chủ yếu diễn ra dưới hình thức
bãi công, đòi việc làm, tăng lương.
Hãy nêu những nét chính trong phong trào đấu
tranh của công nhân từ năm 1919 đến năm 1929
+ Năm 1919: Công nhân, thủy thủ tàu Sác-ne (Charner)
ở cảng Hải Phòng đòi tăng lương.
+ Năm 1922: Viên chức các cơ sở công thương ở Bắc Kỳ
và 600 công nhân thợ nhuộm Sài Gòn - Chợ Lớn bãi công
+ Năm 1923 - 1924: Đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng
Hải Phòng, nhà máy sợi Nam Định, nhà máy rượu Hà Nội
+ Năm 1925: Công nhân xưởng Ba Son ở cảng Sài Gòn bãi công
+ Năm 1926 - 1927: Đấu tranh của công nhân nhà máy sợi
Nam Định, đồn điền Phú Riềng (nay thuộc tỉnh Bình Phước)
+ Năm 1928 - 1929: Đấu tranh của công nhân nhà máy sửa
chữa xe lửa Trường Thi (Vinh)
- Hình 5.3 Những cuộc đâu tranh tiêu biểu của
công nhân từ năm 1919 đến năm 1929 SGK/28
Xưởng Ba Son (nhà máy đóng tàu Ba
Quá trình hình thành
Son) nguyên là thủy xưởng nằm trên ngã ba
nhà máy đóng tàu Ba Son
sông, tiếp giáp giữa sông Sài Gòn và rạch Thị
Nghè. Xưởng có diện tích 26 hecta, có đường
ven sông 2000m, trong đó có 6 cầu cảng tổng
cộng 750m. Đến 1861, dưới thời Pháp, chính
quyền Pháp mới bắt đầu cho xây dựng một ụ
nhỏ cùng lán trại tại thủy xưởng. Mục đích là
để sửa chữa thuyền chiến, phục vụ cho công
cuộc xâm chiếm nước ta.
Quá trình hình thành
Tháng 4 năm 1863, Chính phủ Pháp
nhà máy đóng tàu Ba Son
chính thức tổ chức, xây dựng và điều
hành Nhà máy đóng tàu Ba Son.
Nhà máy đóng tàu ba Son lúc bấy
giờ được mở rộng quy hoạch, với
hơn 200 kỹ sư và gần 2.000 công
nhân lành nghề.
Suốt một thế kỷ bị kiểm soát, khủng
Qua hai cuộc kháng chiến
bố, chịu nhiều mất mát hy sinh, tầng
lớp công nhân Ba Son đã manh nha
phát triển thành một tổ chức đoàn
kết, luôn mang tinh thần đấu tranh
cách mạng, vì mục tiêu giải phóng
dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Cùng với công nhân và nhân dân Gia
Qua hai
Định bấy giờ, công nhân Ba Son bằng
cuộc kháng chiến
nhiều hành động cụ thể (như thoát ly ra
vùng căn cứ cách mạng, tháo dỡ thiết
bị, máy móc, dụng cụ tham gia các công
binh xưởng sản xuất vũ khí tại các căn
cứ ngoại ô Sài Gòn – Gia Định,…) đã
làm dấy lên phong trào, nhiều cuộc đấu
tranh đình công mạnh mẽ như:
Cuộc đình công các năm 1912, 1925, 1936, 1939.
Qua hai cuộc
kháng chiến
Cuộc nổi dậy 1945.
Trong số đó, cuộc đình công ngày 4/8/1925 là tiêu
biểu nhất. Đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào
công nhân Việt Nam, thể hiện tinh thần quốc tế
cộng sản cao cả khi đã giam chân chiến hạm
Michelet và các chiến hạm khác của Pháp. Cùng
với đó là phá sản ý đồ đàn áp phong trào cách
mạng của nhân dân Quảng Châu – Trung Quốc.
Trong chặng đường đầy thử thách của 2 cuộc
Qua hai cuộc
kháng chiến
kháng chiến ấy, nhiều thế hệ công nhân tại nhà
máy đóng tàu Ba Son đã ngã xuống và hàng trăm
công nhân đã trở thành những cán bộ ưu tú của
Đảng, Nhà nước, Quân đội như: Lý Chính Thắng,
Đào Sơn Tây, Lê Văn Lương, Ngô Văn Năm,
Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Văn Nghi, Đoàn Văn
Bơ, Võ Thành Công… Trong số đó, tiêu biểu là
Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Tên của ông cũng đã
được đặt tên tại tuyến đường chạy dọc bờ sông Sài
Gòn và kết nối đến khu di tích Ba Son ngày nay.
THẢO LUẬN NHÓM
(5 PHÚT)
Thời gian thành lập
Tổ chức tiền thân
Mục tiêu
Địa bàn hoạt động chủ yếu
Hoạt động tiêu biểu
Tân Việt Cách mạng Việt Nam Quốc dân
đảng (Nhóm 1+2+3)
đảng (Nhóm 4+5+6)
Tân Việt Cách mạng đảng
(Nhóm 1+2+3)
Thời gian thành
Ngày 14/7/1928
lập
Tổ chức tiền thân
Hội Phục Việt
Mục tiêu
Đánh đổ đế quốc, thiết lập xã hội bình đẳng, bác ái
Địa bàn hoạt động Trung Kỳ
chủ yếu
Hoạt động tiêu
Phổ biến sách báo tiến bộ, mở các lớp huấn luyện,
Phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn và xuất khẩu lúa gạo Nam Kì 1923
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, thực dân Pháp bắt đầu
tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam. Cùng
lúc, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, sự ra đời của
Quốc tế Cộng sản và các phong trào dân chủ trên thế giới tràn
vào Việt Nam, thổi bùng lên phong trào đấu tranh yêu nước
những năm 1918 – 1930. Phong trào chống độc quyền cảng Sài
Gòn và xuất khẩu lúa gạo Nam Kì 1923 là một trong các phong
trào dân tộc dân chủ những năm 1918 – 1930. Hôm nay, chúng ta
cùng tìm hiểu qua nội dung bài học.
Trong những năm 1918 – 1930, phong trào
dân tộc dân chủ diễn ra như thế nào?
Trong những năm 1918 - 1930, phong trào dân
tộc dân chủ diễn ra mạnh mẽ, với nhiều hình
thức đấu tranh phong phú và thu hút sự tham
gia của nhiều giai cấp, tầng lớp.
Kể tên các phong trào đấu tranh của
giai cấp tư sản trong những năm 1918 - 1930.
+ Phong trào “chấn hưng nội hóa, bài trừ
ngoại hóa” (1919)
+ Phong trào đấu tranh chống tư bản
Pháp độc quyền cảng Sài Gòn và độc
quyền xuất cảng lúa gạo ở Nam Kỳ (1923)
Kể tên các phong trào đấu tranh của tầng lớp trí thức,
học sinh, sinh viên trong những năm 1918 - 1930.
+ Xuất bản các tờ báo như: Chuông rè, An Nam trẻ,..
+ Lập ra các nhà xuất bản như: Cường học thư xã,
Nam đồng thư xã,…
+ Đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925)
+ Lễ truy điệu, để tang Phan Châu Trinh (1926)
+ Lập ra các tổ chức chính trị như: Thanh niên cao
vọng (1923), Việt Nam Nghĩa đoàn (1925), Hội
Phục Việt (1925), Đảng Thanh niên (1926),.. làm
nòng cốt trong các phong trào đấu tranh yêu nước.
- Trong những năm 1918 - 1930, phong trào dân
tộc dân chủ diễn ra mạnh mẽ, với nhiều hình thức
đấu tranh phong phú và thu hút sự tham gia của
nhiều giai cấp, tầng lớp: Giai cấp tư sản, giai cấp
địa chủ, tầng lớp tri thức, học sinh, sinh viên,…
Theo em, sự kiện nào tiêu biểu nhất, quan trọng nhất
trong phong trào dân tộc dân chủ những năm 1918 1930?
+ Đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925)
+ Lễ truy điệu, để tang Phan Châu Trinh (1926)
- Hai cuộc đấu tranh có tiếng vang nhất là
đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu
và lễ truy điệu, để tang Phan Châu Trinh.
Tại sao sự kiện đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, lễ
truy điệu và để tang Phan Châu Trinh lại có ý nghĩa
quan trọng đối với phong trào dân tộc dân chủ
trong những năm 1918 - 1930?
+ Sự kiện này diễn ra trên quy mô rộng lớn, thu hút
đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
+ Sự kiện đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, lễ truy điệu
và để tang Phan Châu Trinh cũng góp phần thức tỉnh
tinh thần dân tộc và khơi dậy ý chí đấu tranh chống
thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam.
Tháng 6-1925, trên đường từ Hàng Châu về
Quảng Châu để cùng các nhà cách mạng Việt
Nam dựng bia cho liệt sĩ Phạm Hồng Thái
nhân giỗ đầu, Phan Bội Châu bị mật thám
Pháp bắt tại ga Bắc Trạm, Thượng Hải.
Chúng liền đưa ông về giam tại Nhà tù Hỏa
Lò, Hà Nội với một tên giả là Trần Văn Đức
nhằm bí mật thủ tiêu ông mà không gặp sự nổi
giận của người dân Việt một thời yêu mến ông.
Nhưng sự bưng bít đó không thành. Số là
trước khi xuống tàu thủy ở bến Thượng
Hải, cụ đã kịp viết một lá thư ngắn báo tin
mình bị mật thám Pháp bắt gửi cho Lâm
Lượng Sinh, chủ bút tờ Binh sự tạp chí ở
Hàng Châu mà lâu nay cụ cộng tác. Lâm
Lượng Sinh liền cho công bố thông tin đó
trên báo chí Thượng Hải.
Người Trung Quốc đã biết tin đó. Ở
Việt Nam, tờ báo đầu tiên loan tin cụ
Phan bị mật thám bắt là tờ báo hằng
ngày Le Courrer d'Hai Phong. Vậy là ý
định ban đầu không thực hiện được nên
chính quyền thuộc địa Đông Dương quyết
định đưa cụ Phan ra xét xử tại Tòa Đại
hình Hà Nội.
Tin Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử công khai trong
hai ngày cuối tháng 11-1925 tại Tòa Đại hình Hà Nội
được báo chí trên cả nước trước sau giật tít bắt mắt
bằng in đậm loan đi khắp cả nước. Người Việt Nam,
đặc biệt lớp Nho sĩ cấp tiến đã từng trăn trở với vận
nước và lớp trẻ được đánh thức bằng những vần thơ
hào sảng của cụ, đã một thời ngưỡng mộ cụ, cơm
đùm cơm nắm về Hà Nội để được tận mắt chiêm
ngưỡng dung nhan “người anh hùng, vị thiên sứ” đã
xả thân vì đại nghĩa suốt 20 năm nay.
Cả phố Hàng Tre, nơi mở phiên tòa xét xử
cụ, chật cứng người. Một hiện tượng không
mấy khi có trên đất Hà thành vốn bình lặng
và yên ả. Chắc cụ Phan khi bị đưa từ Nhà tù
Hỏa Lò tới đây đã cảm nhận được chỗ dựa
tinh thần to lớn của đám đông dân chúng
ngưỡng mộ cho cuộc chiến đấu mất còn của
cụ trước pháp đình của kẻ thù tàn bạo.
Tại phiên tòa, chẳng trông mong gì vào
hai trạng sư mà Pháp chỉ định bào chữa
cho mình, cụ đứng thẳng dậy với chất
giọng Nghệ, hùng hồn tự bào chữa bằng
những lời hào sảng, đanh thép: “Tôi là
người Nam, tôi biết yêu nước Nam, tôi
muốn đánh thức dân tộc Việt Nam.
Nếu mà trong tay tôi có mấy vạn hải
quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh,
lương túc, súng đủ, đạn nhiều, tàu chiến
có, tàu bay có, thì có lẽ tôi hạ chiến thư,
đường đường chính chính đánh lại Chính
phủ thuộc địa” (Thực Nghiệp Dân Báo,
số ra ngày 24-11-1925).
Những ai chứng kiến phiên tòa hôm đó
đều thấy hả lòng hả dạ với những lời nói
chí tình chí nghĩa của nhà chí sĩ suốt
một đời nặng lòng với nước với dân mà
cả dân tộc ta một thời ngưỡng mộ và đặt
kỳ vọng nơi ông. Dẫu vậy, tòa án vẫn
khép cụ Phan Bội Châu vào án tử hình.
Cả hội trường chùng xuống và nghẹn
ngào. Bỗng từ dưới góc xa của hội trường
vang lên một lời đanh thép, nhưng rất
cảm động: “Hỡi quan tòa, tôi xin được
chết thay cho cụ Phan!”. Cả hội trường
rưng rưng nước mắt, dồn mắt nhìn về
phía góc xa, nơi vọng ra tiếng kêu như
đại diện cho tiếng lòng dân tộc.
Người vừa thốt lên những lời dũng khí đó là
một nhà Nho đã có tuổi mà hôm sau báo chí
đưa tin là cụ Nguyễn Khắc Doanh, người
rất ngưỡng mộ Phan Bội Châu xưa nay đã
cơm đùm cơm nắm từ Nam Trực, Nam
Định lên dự phiên tòa để được một lần
trong đời nhìn thấy dung nhan cụ và may ra
được nắm lấy bàn tay để hơi ấm của cụ
truyền sang mình…
Lời nói của Nguyễn Khắc Doanh bay
khắp đất nước như một lời hiệu triệu
toàn dân tộc Việt Nam xuống đường
tranh đấu giành sự sống cho Phan Bội
Châu, người đã hiến dâng trọn vẹn
cuộc đời cho độc lập tự do của dân tộc.
Cuộc đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu bắt đầu
bằng sự vào cuộc của báo chí thời đó. Người Hà
Nội vẫn còn nhớ như in tờ báo đi tiên phong và
theo đuổi đến tận cùng vụ việc là tờ Thực Nghiệp
Dân Báo của Nguyễn Hữu Thu. Tờ báo đã đăng
tải một chùm 29 bài về nhà chí sĩ Phan Bội Châu,
bao gồm tiểu sử, sự nghiệp cách mạng trước khi bị
bắt, tường thuật chân thật về phiên tòa đề hình xử
cụ và đặc biệt là những bài bình luận nhiều chiều
về vai trò của cụ đối với vận mệnh đất nước.
Điều đáng nói là những bài viết này ngay
sau đó được Thực Nghiệp Dân Báo tập
hợp lại và xuất bản thành hai tập sách
mỏng là Tập án Phan Bội Châu và Những
tin tức và dư luận về Phan Bội Châu, như
là phụ trương của bản báo. Hai tập sách
mỏng này nhanh chóng trở thành những
ấn phẩm bán chạy nhất lúc đó.
Chẳng hạn, Tập án Phan Bội Châu đã phải tái bản
đến lần thứ 3, mỗi lần 5000 bản, truyền đi trên khắp
đất nước tấm lòng yêu nước nồng đượm và khảng
khái của cụ và thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh
chống cường quyền, đòi tự do dân chủ trong nhân
dân Việt Nam. Bấy giờ, người Việt Nam mỗi sáng
thức dậy, cầm tờ Thực Nghiệp Dân Báo trên tay,
đọc và suy ngẫm những bài viết về Phan Bội Châu,
chắc không thể vô cảm, mà phải nhập cuộc vào
phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu.
Trong Những tin tức và dư luận về Phan Bội
Châu, lý giải một cách rõ ràng tại sao nhiều
người Việt Nam xin ân xá cho ông Phan:
“Thấy ông vì yêu nước thương dân mà quên
đi mọi sự ở đời, hơn hai mươi năm lưu lạc
quê người, xa lìa nhà cửa, chỉ một niềm mưu
ích cho nước, mưu lợi cho dân; ông yêu nước
thì nước yêu ông, ông thương dân thì dân
thương ông, nghĩa đời phải vậy”.
Phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu là một
phong trào công khai, được châm ngòi từ
thành thị, trước tiên ở Hà Nội, như một dòng
điện cực mạnh truyền nhanh khắp các đô thị
và lan tỏa về nông thôn, kết thành một phong
trào rộng lớn trên quy mô cả nước với đầy đủ
những lớp người Việt Nam tham gia, từ trẻ
tới già, đẩy lùi kẻ thù từng bước một, từ tử
hình xuống khổ sai.
Chưa dừng lại ở đó, phong trào tiếp tục dâng cao,
dồn kẻ thù đến tận chân tường. Một tờ báo của
Pháp, tờ Minh Trí, số ra ngày 12-12-1925 tường
thuật không khí Toàn quyền Va-ren đến Hà Nội
được tiếp đón bằng những đoàn người với những
đơn thỉnh cầu trên các đường phố: “Khi quan Toàn
quyền đi tới cuối phố Hàng Đường thì có một đám
người 100 bà già quỳ mọp giữa đường để trình ngay
lên một bức thư xin tha tội cho ông Phan. Đứng đầu
là một bà lão đáng 70 tuổi, đầu tóc bạc phơ. Thư
Hội Phục Việt, một tổ chức chính trị vừa
mới được thành lập gồm trí thức, sinh
viên như Phạm Thiều, Tôn Quang Phiệt,
Đặng Thai Mai… cũng nhập cuộc. Họ
viết truyền đơn bằng tiếng Việt và tiếng
Pháp ký tên Hội Phục Việt, cho rải khắp
đường phố Hà Nội, gửi cả sang Pháp và
Hội Quốc Liên.
Trong những tờ truyền đơn rải trên đường
phố Hà Nội, Hội Phục Việt đã tung ra những
lời hiệu triệu xung trận: “Kìa coi dân Ấn Độ,
họ không chịu để cho Cam Địa (Gandhi) bị
đày đọa. Vậy mà cụ Phan Bội Châu đối với
chúng ta còn có ơn đức hơn là Cam Địa đối
với dân Ấn Độ. Các con cháu Rồng Tiên của
chúng ta quyết không chịu ngồi nhìn cho
chúng làm tội cụ Phan Bội Châu”.
Cho biết từ năm 1919, phong trào đấu tranh
của công nhân chủ yếu diễn ra như thế nào?
- Từ năm 1919, phong trào đấu tranh của
công nhân chủ yếu diễn ra dưới hình thức
bãi công, đòi việc làm, tăng lương.
Hãy nêu những nét chính trong phong trào đấu
tranh của công nhân từ năm 1919 đến năm 1929
+ Năm 1919: Công nhân, thủy thủ tàu Sác-ne (Charner)
ở cảng Hải Phòng đòi tăng lương.
+ Năm 1922: Viên chức các cơ sở công thương ở Bắc Kỳ
và 600 công nhân thợ nhuộm Sài Gòn - Chợ Lớn bãi công
+ Năm 1923 - 1924: Đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng
Hải Phòng, nhà máy sợi Nam Định, nhà máy rượu Hà Nội
+ Năm 1925: Công nhân xưởng Ba Son ở cảng Sài Gòn bãi công
+ Năm 1926 - 1927: Đấu tranh của công nhân nhà máy sợi
Nam Định, đồn điền Phú Riềng (nay thuộc tỉnh Bình Phước)
+ Năm 1928 - 1929: Đấu tranh của công nhân nhà máy sửa
chữa xe lửa Trường Thi (Vinh)
- Hình 5.3 Những cuộc đâu tranh tiêu biểu của
công nhân từ năm 1919 đến năm 1929 SGK/28
Xưởng Ba Son (nhà máy đóng tàu Ba
Quá trình hình thành
Son) nguyên là thủy xưởng nằm trên ngã ba
nhà máy đóng tàu Ba Son
sông, tiếp giáp giữa sông Sài Gòn và rạch Thị
Nghè. Xưởng có diện tích 26 hecta, có đường
ven sông 2000m, trong đó có 6 cầu cảng tổng
cộng 750m. Đến 1861, dưới thời Pháp, chính
quyền Pháp mới bắt đầu cho xây dựng một ụ
nhỏ cùng lán trại tại thủy xưởng. Mục đích là
để sửa chữa thuyền chiến, phục vụ cho công
cuộc xâm chiếm nước ta.
Quá trình hình thành
Tháng 4 năm 1863, Chính phủ Pháp
nhà máy đóng tàu Ba Son
chính thức tổ chức, xây dựng và điều
hành Nhà máy đóng tàu Ba Son.
Nhà máy đóng tàu ba Son lúc bấy
giờ được mở rộng quy hoạch, với
hơn 200 kỹ sư và gần 2.000 công
nhân lành nghề.
Suốt một thế kỷ bị kiểm soát, khủng
Qua hai cuộc kháng chiến
bố, chịu nhiều mất mát hy sinh, tầng
lớp công nhân Ba Son đã manh nha
phát triển thành một tổ chức đoàn
kết, luôn mang tinh thần đấu tranh
cách mạng, vì mục tiêu giải phóng
dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Cùng với công nhân và nhân dân Gia
Qua hai
Định bấy giờ, công nhân Ba Son bằng
cuộc kháng chiến
nhiều hành động cụ thể (như thoát ly ra
vùng căn cứ cách mạng, tháo dỡ thiết
bị, máy móc, dụng cụ tham gia các công
binh xưởng sản xuất vũ khí tại các căn
cứ ngoại ô Sài Gòn – Gia Định,…) đã
làm dấy lên phong trào, nhiều cuộc đấu
tranh đình công mạnh mẽ như:
Cuộc đình công các năm 1912, 1925, 1936, 1939.
Qua hai cuộc
kháng chiến
Cuộc nổi dậy 1945.
Trong số đó, cuộc đình công ngày 4/8/1925 là tiêu
biểu nhất. Đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào
công nhân Việt Nam, thể hiện tinh thần quốc tế
cộng sản cao cả khi đã giam chân chiến hạm
Michelet và các chiến hạm khác của Pháp. Cùng
với đó là phá sản ý đồ đàn áp phong trào cách
mạng của nhân dân Quảng Châu – Trung Quốc.
Trong chặng đường đầy thử thách của 2 cuộc
Qua hai cuộc
kháng chiến
kháng chiến ấy, nhiều thế hệ công nhân tại nhà
máy đóng tàu Ba Son đã ngã xuống và hàng trăm
công nhân đã trở thành những cán bộ ưu tú của
Đảng, Nhà nước, Quân đội như: Lý Chính Thắng,
Đào Sơn Tây, Lê Văn Lương, Ngô Văn Năm,
Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Văn Nghi, Đoàn Văn
Bơ, Võ Thành Công… Trong số đó, tiêu biểu là
Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Tên của ông cũng đã
được đặt tên tại tuyến đường chạy dọc bờ sông Sài
Gòn và kết nối đến khu di tích Ba Son ngày nay.
THẢO LUẬN NHÓM
(5 PHÚT)
Thời gian thành lập
Tổ chức tiền thân
Mục tiêu
Địa bàn hoạt động chủ yếu
Hoạt động tiêu biểu
Tân Việt Cách mạng Việt Nam Quốc dân
đảng (Nhóm 1+2+3)
đảng (Nhóm 4+5+6)
Tân Việt Cách mạng đảng
(Nhóm 1+2+3)
Thời gian thành
Ngày 14/7/1928
lập
Tổ chức tiền thân
Hội Phục Việt
Mục tiêu
Đánh đổ đế quốc, thiết lập xã hội bình đẳng, bác ái
Địa bàn hoạt động Trung Kỳ
chủ yếu
Hoạt động tiêu
Phổ biến sách báo tiến bộ, mở các lớp huấn luyện,
 







Các ý kiến mới nhất