Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 036 286 0000
  • contact@bachkim.vn

CUỘC ĐỜI CỦA KAWABATA

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Linh
Ngày gửi: 21h:28' 08-11-2018
Dung lượng: 4.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
.
2
1. Đinh Thị Linh – K41A SP Ngữ Văn
2. Lê Thị Hương Ly – K41A SP Ngữ Văn
3. Nguyễn Thị Thu Hương – K41A SP Ngữ Văn
4. Khuất Thị Thùy Dương – K41A SP Ngữ Văn
5. Nguyễn Thúy Quỳnh - K41A SP Ngữ Văn
NHÓM 2
1. Bối cảnh lịch sử và văn học
a. Bối cảnh lịch sử
4
Thiên hoàng Minh Trị (1868 – 1912)
Buổi tiếp kiến Phái đoàn quân sự Pháp thứ hai đến Nhật Bản  1872.
Nước Nhật đã có chuyển biến lớn vào năm 1866, vua Minh Trị lên ngôi khởi xướng “đổi mới” đất nước với tinh thần “học hỏi phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt lên phương Tây”
Chỉ trong vài ba mươi năm, tính đến lúc Kawabata ra đời (1899), nước Nhật đã thay đổi căn bản
Chiến tranh thế giới thứ hai đã đem lại nhiều thay đổi ở Nhật
5
Đời sống của nhân dân Nhật Bản thời Minh Trị
Về chính trị - xã hội

Triều đình thực hiện "Phế phiên lập huyện" để xóa quyền lực của các đại danh, bãi bỏ hệ thống lãnh địa và danh hiệu của các đại danh. Đồng thời tuyên bố " Tứ dân bình đẳng"

6
Một đô thị náo nhiệt thời Minh Trị
Về kinh tế 

 Ban bố quyền tự do buôn bán và đi lại, thiết lập chế độ tiền tệ thống nhất, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển chủ nghĩa tư bản tới tận cùng các vùng nông thôn.

7
Ngành may mặc theo kiểu Âu
Một công xưởng đang hoạt động
Về giáo dục
Đưa những thành tựu khoa học kĩ thuật vào giảng dạy và áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc. Các môn học được áp dụng theo hình mẫu phương Tây. Tư nhân được phép mở trường học. Đưa các học sinh ưu tú đi du học ở phương Tây
8
Trường tiểu học tại Thành phố Kudoyama
1. Bối cảnh lịch sử và văn học
a. Bối cảnh văn học
9
Higuchi Ichiyo (1872 – 1896)
Văn học tiếp thu nhiều luồng tư tưởng tự do dân chủ của phương Tây: Anh Mĩ, Pháp…đặc biệt là tư tưởng dân quyền của Jăng Jắc Rusô

Nền văn học Nhật trên đà đó mà bước vào thời kì đương đại, nhiều khuynh hướng văn học bắt đầu nảy nở và trở nên phức tạp, với các tên tuổi: Đaijai Oxamu, Misima Yakio, Abêkôbô, Ôê Kenjabure…
10
Văn học Nhật Bản trong thời Minh TRị cho đến khi Kawabata qua đời như một con sông lớn. Con sông lớn có nhiều dòng chảy. Kawabata đã tắm mình trên đó, và biết tìm cho mình một dòng chảy trong lành để tắm tâm hồn mình – tâm hồn của “một lữ khách u buồn” đi tìm cái đẹp đã mất
2. Gia đình
Kawabata sinh ra trong một gia đình có học thức và giàu có. Người cha là một bác sĩ có học vấn cao, quan tâm và yêu thích văn chương, mất năm 1901 khi Kawabata mới lên hai.
Mẹ Kawabata làm nội trợ trong gia đình và 1 năm sau khi cha mất, người mẹ cũng qua đời qua đời.
Do cha mẹ mất sớm nên Kawabata không có điều kiện được dạy dỗ trong hoành cảnh tốt đẹp
11
Thành phố Osaka
.
.
3. BẢN THÂN NHÀ VĂN
a. Các giai đoạn trong cuộc đời
12
1
2
Thời thơ ấu
Lúc trưởng thành
THỜI THƠ ẤU
Cha mẹ mất sớm, Kawabata sớm rơi vào hoàn cảnh mồ côi.
Còn lại hai chị em Kawabata: người chị được dì đem về nuôi, còn Kawabata theo ông bà về Toyokawa, nguyên quán bên nội.
Năm 1906, mới lên bảy, bà nội mất, và ba năm sau, chị cũng mất, hai chị em chỉ được gặp lại nhau một lần từ khi chia cách. Kawabata thay bà chăm nom ông nội ốm đau, mù loà
Năm 1914, lúc Kawabata 15 tuổi, ông nội mất
13
Còn lại một mình, Kawabata được chú gửi vào nội trú.
Cô đơn từ bé, Với vô vàn mất mát này, Kawabata được nhiều nhà nghiên cứu, trong các phần viết về tiểu sử của ông, đặt cho biệt danh là Soshiki no meijin - Chuyên gia tang lễ.
Hồi nhỏ, Kawabata vẫn mơ ước vẽ tranh, những người trong gia đình cũng định hướng cho ông theo hội họa, nhưng đến năm 15 tuồi, ông cảm thấy mình có tài viết hơn là vẽ, nên quyết định chọn con đường văn chương.

Kawabata năm 1912
14
Những mất mát bi thảm đó, mà đối với người Nhật vốn có cảm thức sâu xa về tình máu mủ thì lại càng có tầm quan trọng to lớn, chắc chắn đã ảnh hưởng đến toàn bộ thế giới quan của Kawabata và là một trong những lý do khiến sau này ông đi vào nghiên cứu triết học Phật giáo.
Nhưng Kawabata không cô độc và cay đắng, trong cuốn tự truyện, Kawabata viết: "Mồ côi từ thuở nhỏ, tôi sống nhờ sự cưu mang của người khác. Có lẽ vì thế mà cuối cùng tôi mất hết khả năng ghét người, ngay cả giận họ." (Tự truyện vănchương, Bulgaku-teki jijoden, Autobiographie littéraire, 1934).  
Kawabata năm 1917
16
Kawabata viết văn từ khi 15 tuổi, lúc còn ở nội trú và ông nội là hình ảnh đầu tiên nổi lên trong sáng tác. Tác phẩm đầu tay là tập "Nhật ký tuổi mười sáu" viết năm 1914 (in 1925) là ghi chép về nỗi đau mà nhà văn từng phải chịu đựng trong những ngày bên giường bệnh của ông
Chùm truyện có tính cách tự thuật với những truyện liên quan đến hoàn cảnh mồ côi cha mẹ và cuộc sống bên cạnh người ông mù lòa như Hốt cốt (Hone hiroi, 1949), Hướng nắng (Hinata, 1923), Mẹ (Haha, 1926), Hai mươi năm (Nijuunen, 1925)
17
Năm 1920, được nhận vào đại học Tôkyô (nổi tiếng đào tạo nhân tài với tinh thần hàn lâm), thoạt đầu học văn chương Anh, nhưng sớm chán, ông chuyển sang văn chương Nhật,
1924, Kawabata tốt nghiệp cử nhân.
Thời sinh viên, năm 1921, Kawabata đã cùng các bạn thực hiện tạp chí Tư tưởng mới (Shin-shichô - Pensées nouvelles).
Hai năm sau, tham gia thành lập tờ Niên giám văn chương (Bungei shunji - Annales littéraires), do nhà văn Kikuchi Kan (1888-1948) chủ trương. Tập san này vừa ra đời đã gặt hái những thành công bất ngờ, và cho tới bây giờ vẫn còn là một trong những nguyệt san lớn của Nhật.
18
Năm 1924, tốt nghiệp đại học, Kawabata cộng tác xuất bản tờ Thời văn (Bungei jidai - L`époque de la littérature), qui tụ 14 nhà văn trẻ với chủ trương cách tân. 
Thời văn dẫn đầu phong trào đổi mới văn học ở Nhật Bản trong thế kỷ XX, mà Kawabata là một trong những người chủ chốt.
Phong trào "cảm thức mới", tân cảm giác (shin-kankaku-ha - sensations nouvelles) rầm rộ nổi lên, Kawabata cùng Yokomitsu Ruchi (1898-1947), trở thành hai nhà văn trẻ dẫn đầu trường phái tiên phong này.
19
 Nobel văn chương 1968, Kawabata Yasunari giữ địa vị hàng đầu trên văn đàn Nhật và độc đáo trên văn đàn thế giới trong thế kỷ Xxvới bộ ba tiểu thuyết “Xứ tuyết”, “Cố đô” và “Ngàn cánh hạc”

Ông tự tử tại Zushi, gần cố đô quân sự Kamakura, ngày 16 tháng tư năm 1972, khi ở đỉnh cao của sự nghiệp. Việc ông tự tử phù hợp với tính cách con người Nhật Bản, cái chết nhẹ như cánh hoa anh đào.
CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA KAWABATA
Vũ nữ Izu
1926
Xứ tuyết
1947
Ngàn cánh
hạc
1952
Cố đô
1961
Người đẹp say ngủ
1962
Truyện ngắn trong lòng bàn tay
1971
20
b. Tính cách
21
Kawabata được biết đến như là một người hết sức trầm lặng. Một dạo, ông đến nhà Kikuchi Kan (Kikuchi Hiroshi) để hỏi mượn tiền bạn. Ông không nói không rằng, chỉ lẳng lặng ngồi xuống nhìn chằm chằm bàn cờ trước mặt. Tận 1 tiếng sau đó, ông mới chịu mở miệng ra hỏi xin tiền Kikuchi. Cũng chính vì sự trầm lặng thái quá này mà ông từng dọa cho nữ biên tập viên của mình sợ đến phát khóc dù không cố ý.
Kawabata được mệnh danh là “người lữ khách suốt đời đi tìm cái đẹp” được thể hiện trong những sáng tác sau này: Cố đô, Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc
Kikuchi Hiroshi
23
Yasunari Kawabata nhìn thấy Hatsuyo Ito lần đầu tiên năm 1919, tại quán cà phê Elan ở Tokyo. Kawabata khi đó 20 tuổi, đang cân nhắc về việc theo đuổi ngành văn học Nhật Bản ở trường đại học; Ito 13 tuổi, làm phục vụ tại quán cà phê. Ito xinh đẹp, tràn đầy năng lượng và cô độc - cô mồ côi mẹ khi mới lên 9 tuổi. Kawabata, cũng như Ito, là một đứa trẻ mồ côi.
Cả hai phải lòng nhau. Họ liên lạc với nhau nhiều hơn khi người nuôi nấng Ito thuở nhỏ rời khỏi Tokyo và cô được nhận nuôi tại một ngôi đền ở tỉnh Gifu. Tháng 9/1921, khi đã là sinh viên Đại học Đế chế Tokyo (ngày nay là Đại học Tokyo), Kawabata tới thăm Ito. Hatsuyo Ito nhận lời lấy Kawabata ngày 8/10/1921.
24
Họ viết cho nhau những lá thư tràn đầy hy vọng, cùng lên kế hoạch cho tương lai. Thế nhưng, chỉ một tháng sau ngày đính ước, Hatsuyo Ito viết cho Kawabata lá thư nói rằng cô không bao giờ có thể gặp lại ông lần nữa. Những năm sau đó, hình bóng của Ito - cuộc tình đầu bi thương - được tái hiện trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của Kawabatta. Lý do Hatsuyo Ito đột nhiên biến mất luôn là một bí mật bị che phủ
Những lá thư của Ito, được đựng trong những phong bao nhỏ, chan chứa tình yêu mãnh liệt, ngây thơ của cô gái trẻ. "Em chưa bao giờ viết những lời yêu đương trong một lá thư. Đây là lần đầu tiên. Cuối cùng em cũng hiểu được thế nào là tình yêu". Lá thư đề ngày 23/10/1921, một phần vừa được đăng trên tạp chí Bungei Shunju.
25
Ba năm sau đó, Kawabata xuất bản truyện ngắn "Emergency". So sánh giữa tác phẩm và lá thư cho thấy, nhà văn dùng nhiều từ của chính Hatsuyo Ito, với vài sự thay đổi nhỏ. Nhưng lý do "cấp bách" đó là gì? Kaori Kawabata, con rể nhà văn, nói những lá thư mới tìm thấy giúp giải thích rõ hơn một đoạn nhật ký chưa từng công bố của Kawabata, viết ngày 20/11/1923. Tiểu thuyết gia viết rằng, ở Saihoji, ngôi đền nơi Ito sống, cô bị một thầy tu cưỡng bức. Với mặc cảm không còn trinh trắng, Ito cảm thấy mình không thể nào làm vợ Kawabata, Kaori Kawabata nhận định.
26
Mối tình đầu không thành đã để lại những nỗi buồn trong cuộc đời Kawabata cũng như ảnh hưởng vào trong sáng tác của ông với chùm truyện có tính cách tự thuật liên quan đến mối tình đầu như 
Món đồ dễ vỡ (Yowaki Utsuwa, 1924),
Người con gái đi về phía lửa (Hi ni yuku kanojo, 1924), 
Chiếc dù đi mưa (Amagasa, 1932),
Cái cưa và sinh nở (Nokogiri to shussan, 1924),
Cái huông của tác phẩm đầu tay (Shojosaku no tatari, 1927),
Tấm ảnh (Shashin, 1924)…
Kawabata với vợ là Hideko
 
Gửi ý kiến