Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

dân tộc và các chính sách dân tộc(dân tộc thái chăm)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Phượng
Ngày gửi: 21h:25' 27-09-2017
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích: 0 người
Chủ đề: Nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me ở Nam Bộ: Khơ me
sa-rang-ha-na-yo 
I. Dân tộc Khơ me
1.1. Tên gọi:
- Trước năm 1975 còn có tên gọi khác như Cul, người Miên hay Khơme Krôm
1.2. Dân số và địa bàn cư trú
Đến năm 2009, có khoảng 1.055.174 người.
Sinh sống tập trung ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Long An, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang. Trong đó Sóc Trăng chiếm số lượng đông nhất.
II. Hoạt động kinh tế
1.Trồng trọt
-Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước.
-Bộ công cụ nông nghiệp của họ khà hoàn thiện và hiệu quả, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng, cù nèo(Pok), hay cây nọc cấy, Kần điêu.
Cây nọc cấy
2. Chăn nuôi
- Người Khơ me chăn nuôi gia súc, gia cầm và đánh cá,..

Chăn nuôi bò
3. Nghề thủ công
- Họ làm nghề dệt chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm.
Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê, bàn dập, chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu, với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia dụng, tiêu biểu nhất là bếp, nồi rất được người Việt và người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Dệt vải
Làm gốm
III. Văn hóa vật chất
1. Làng bản và nhà cửa
- Người Khmer Nam bộ thường cư trú trên các gò đất cao, cũng có nơi họ sống ở ven sông, rạch hoặc dọc theo bờ biển. Họ sống tập trung thành từng cụm gọi là phum( tương đương với xóm của người Kinh), ngày trước mỗi phum có từ năm đến sáu chục nóc nhà. Cụm dân cư đông hơn phum gọi là sroc, khoảng bằng một xã người Kinh.
-Ngày nay về hình dáng và vật liệu cũng giống nhà của người kinh và người hoa.Nếu sống trên đất cao thì người Khmer thường làm nhà đất, còn ở nơi đất thấp họ phải làm nhà sàn nhưng nóc cao mái rất dốc và được lợp bằng lá dừa.
Nhà đất của người Khơ me
2. Y phục, trang sức
-Nam nữ trước đây đều mặc áo xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Những người già, đứng tuổi thường mặc áo bà ba màu đen , nam giới khá giả đôi khi mặc áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt qua vai.
- Khi lao động họ thường mặc quần cụt, có một số áo dài tầm vông, áo dài cổ bà lai đây là loại áo dài của người Khơ me, vạt áo dài, tay tròn, cổ tròn, thường được may bằng vải đen.
Trang phục truyền thống hiện nay chỉ được sử dụng trong các lễ hội, lễ cưới.

Trang phục truyền thống của người Khơ me
3. Ăn uống
- Người Khơ me ăn cơm nếp và cơm tẻ
Họ chế biến khá nhiều loại mắm từ tôm và tép, đặc biệt là mắm b’hóc. Mắm này được làm bằng nhiều loại cá, cách làm rất công phu và tốn thời gian( khoảng hơn 4 tháng).
Người Khơ me thích gia vị chua cay.
Cá kho mắm b’hoc
Bún đậu chua cay
4. Phương tiện vận chuyển
- Thường sử dụng xe bò, xe lôi bánh gỗ hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch
-Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch ghe, thuyền của người Khơ me có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền đuôi tôm,…
IV. Văn hóa tinh thần

1. Ngôn ngữ và việc học
-Ngôn ngữ và chử viêt của người Khơ me thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ me
-Việc học: Con trai khi lớn đều được mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ khơ me ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập ra đình.
Việc học ở trường chùa
2. Tín ngưỡng, tôn giáo
-Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần nông, gọi hồn lúa, thần mặt trăng.
-Lễ tết: có 2 lễ lớn trong năm
+ Tết Chuôn chnam Thmay tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét ( theo phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
+ Lễ chào mặt trăng(ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch.
Lễ tắm phật trong tết Chuôm chnam Thmay
Lễ chào mặt trăng
3. Văn nghệ và trò chơi dân gian
-Người Khơ me có cả một kho tàng phong phú về truyện như thần thoại, truyền thuyết cổ tích, ngụ ngôn,…
-Có âm nhạc vừa có nguồn gốc từ Ấn độ vừa có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Người Khơ me có những điệu múa như múa vòng, múa saravan trong sinh hoạt tập thể, múa cung đình
-Có nhiều trò chơi dân gian như đua bò bẩy núi, đua thuyền đẩy gậy,…

V. Về văn hóa xã hội
1.Quan hệ làng xóm dòng họ
-Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có hơn 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khơ me vẫn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
-Người Khơ me có nhiều họ khác nhau.Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt như: Danh, Kiên, Kim Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương,.. và có những họ thuần túy Khmer như U, Khan, Khum.
2. Sinh đẻ và nuôi dạy con

Người Khơ me theo Phật giáo tiểu thừa, vì thế trong ăn uống theo phong tục có một số kiêng kỵ:
+ Theo quan niệm ăn uống  phải điều độ và đặc biệt là không được ăn no.
+ Lúc mang thai, người phụ nữ không được ăn cháo vì nếu mẹ ăn cháo thì thai nhi sẽ phát triển không lành mạnh. Ngoài chế độ ăn đã được quy định thì sản phụ  không được ăn thêm các thức ăn khác, nhất là thức ăn ngon, nhiều chất bổ như  thịt, cá.
Đối với con cái, cha mẹ không có phân biệt đối xử trai hay gái, trưởng hay thứ, con nuôi hay con đẻ
3.Cưới hỏi
- Hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt, có sự thỏa thuận của con gái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi,và lễ cưới, được tổ chức bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian
4. Ma chay
- Tục hỏa thiêu đã có từ lâu, sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp “ Pi chét đầy” xây ở chính điện của chùa.
- Toàn dân tộc Khơ-mer theo đạo phật tiểu thừa tiếp thu quan niệm sinh tử của đạo balamon. Vì thế tang lễ được tiến hành theo nghi thức hoả táng với quan niệm sẽ thiêu đốt hết mọi tội lỗi trước khi sang kiếp khác
Bài thuyết trình của nhóm đến đây là kết thúc, cảm ơn thầy giáo và các bạn đã chú ý lăng nghe!

 
Gửi ý kiến