Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đào tạo nghề trong hội nhập ASEAN

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Giang Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:39' 26-02-2008
Dung lượng: 223.0 KB
Số lượt tải: 52
Số lượt thích: 0 người
Hệ thống công nhận kỹ năng nghề của các nước ASEAN

khả năng áp dụng vào Việt Nam
Giới thiệu
Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác phát triển ASEAN- Australia, các quốc gia ASEAN cùng nhau phối hợp thực hiện dự án "Tăng cường các hệ thống công nhận kỹ năng nghề trong ASEAN".
Mục đích của dự án: nghiên cứu và phân tích hệ thống công nhận kỹ năng nghề sẵn có của mỗi nước và chia sẻ thông tin và những mô hình tốt của thế giới cho những quốc gia chưa có hệ thống công nhận kỹ năng nghề, để đưa ra những lựa chọn chính sách cho các nước ASEAN trong việc phát triển hệ thống công nhận kỹ năng nghề nhằm tăng cường năng lực cho công tác phát triển kỹ năng nghề ở mỗi nước, tăng cường sự linh hoạt của thị trường lao động, thúc đẩy quá trình hội nhập thị trường lao động trong ASEAN, thúc đẩy sự dịch chuyển lao động có tay nghề trong khu vực.
Qua quá trình hợp tác thực hiện dự án, chúng ta có dịp xem xét về thực trạng việc đánh giá công nhận kỹ năng nghề của Việt Nam và tìm hiểu về các hệ thống công nhận kỹ năng nghề của các nước trong khu vực, từ đó đề xuất các định hướng để phát triển hệ thống công nhận kỹ năng nghề của Việt Nam phù hợp với các quốc gia trong khu vực và thế giới.
hệ thống công nhận kỹ năng nghề
của các nước ASEAN

1. Một số định nghĩa
Khi xem xét hệ thống công nhận kỹ năng nghề của các nước ASEAN khái niệm "Kỹ năng" (skills) hay còn gọi là tay nghề và "năng lực" (competencies) được sử dụng thay cho nhau (mặc dù một số nước chia "năng lực" thành kiến thức và kỹ năng).
Điều này cũng phù hợp với tuyên bố của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) rằng: một hệ thống công nhận kỹ năng nghề phải là một hệ thống đánh giá đáng tin cậy, công bằng và minh bạch về những kiến thức đã học và năng lực tích luỹ được bất kể phương thức và địa điểm tiếp thu. Cách thức tiếp thu được kiến thức hay năng lực tích luỹ được là không quan trọng, điều quan trọng là khả năng thực tế là thực hiện được một nhiệm vụ cụ thể được giao.
Với những ý nghĩa đó thì việc sử dụng cụm từ "kỹ năng" họăc "năng lực" khi nói đến hệ thống công nhận kỹ năng nghề là không quan trọng.
1. Một số định nghĩa (tiếp)
Hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia được thiết lập cho việc đánh giá và cấp chứng chỉ công nhận kỹ năng nghề trong các thuật ngữ của khung trình độ quốc gia, bao gồm các cơ chế cho việc công nhận và thừa nhận quá trình học và các kinh nghiệm thu nhận trước đó và trong bất kỳ quốc gia nào nó đều bao trùm lên cả các kỹ năng nghề được thu nhận chính thức và các kỹ năng nghề được thu nhận không chính thức. Sự đánh giá là công bằng và minh bạch, công nhận các kỹ năng thông qua chứng chỉ, do đó nó có thể được khẳng định thừa nhận trong các doanh nghiệp, các ngành, các cơ sở đào tạo và thậm chí còn vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ, quốc gia.
1. Một số định nghĩa (tiếp)

- Công nhận kỹ năng nghề là quá trình đánh giá các kỹ năng và kiến thức thu nhận được dựa trên các tiêu chuẩn năng lực quốc gia. Công nhận quá trình học trước là một hình thức của công nhận kỹ năng nghề.
- Công nhận quá trình học trước: sự thừa nhận chính thức các kỹ năng, kiến thức và các năng lực thu nhận được thông qua kinh nghiệm làm việc, các quá trình đào tạo không chính thức và kinh nghiệm cuộc sống. Chúng có thể hiểu như là sự công nhận năng lực hiện tại.
- Tiêu chuẩn năng lực quốc gia: tiêu chuẩn quốc gia chỉ rõ các năng lực cần phải có để thực hiện có hiệu quả tại vị trí làm việc.
- Năng lực bao gồm đặc trưng của kiến thức và kỹ năng và việc áp dụng các kiến thức và kỹ năng đó ở cấp ngành, theo tiêu chuẩn về yêu cầu thực hiện trong công việc.
Các tiêu chuẩn năng lực có thể dựa trên cơ sở của ngành hoặc doanh nghiệp.
2. Thực trạng hệ thống phát triển kỹ năng của các nước trong khu vực.
2.1. Khung trình độ quốc gia (NQF).
Hầu hết các nước trên khắp thế giới thừa nhận phải có vài thứ hạng của khung trình độ quốc gia cho việc đánh giá, công nhận và cấp chứng chỉ về năng lực và kỹ năng.
ILO đề xuất rằng trình độ trong một khung trình độ quốc gia phải bao gồm một bộ tiêu chuẩn quốc gia và được phân chia thành nhiều cấp khác nhau. Những trình độ sẽ được cấp trên cơ sở năng lực đã đạt được (hoặc kết quả học tập người học đã đạt được) theo quy định bởi những tiêu chuẩn đó.
Có rất nhiều cách hình thành khung trình độ quốc gia. Một số do chính phủ thiết lập và được hỗ trợ bằng luật pháp. Một số lại được thiết lập và quản lý bởi các hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp tư nhân. Một số lại do các tổ chức của chủ lao động hoặc người lao động quản lý.

Khung trình độ quốc gia tại các nước ASEAN

Malaysia đang hòan tất khung trình độ quốc gia, khung trình độ đó được thiết kế trở thành hệ thống hợp nhất về trình độ áp dụng trên phạm vi tòan quốc đối với tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo bao gồm các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề, các tổ chức nghề nghiệp ở cả khu vực Nhà nước và tư nhân cũng như đào tạo tại nơi làm việc và những kiến thức, kinh nghiệm tiếp thu được trong cuộc sống.
Brunei Darussalam, khung trình độ quốc gia đã được phát triển và phù hợp cho giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp của Brunei Darussalam. Trong phạm vi giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp (VTE) nó có 5 cấp.
Philippines có một khung quốc gia đặc biệt cho trình độ VET. Khung trình độ TVET Philippine (PTQF) cũng vừa được chính thức thông qua vào tháng 3/2003, mặc dù từ 1994 đã khởi xướng việc xây dựng về phát triển hệ thống cấp chứng chỉ và trình độ nghề nghiệp kỹ thuật.
Singapore, hệ thống công nhận kỹ năng quốc gia có thể được mô tả như một khung quốc gia mang tính đặc thù riêng, chú trọng năng lực công việc và chứng nhận kỹ năng thực tế đạt được. Tuy nhiên, Singapore có kế hoạch xây dựng một khung trình độ quốc gia với chi tiết đang trong giai đoạn hoàn thiện.
Indonesia, khung trình độ quốc gia của đã được xây dựng nhưng vẫn chưa được áp dụng đầy đủ. Khung này có tất cả 9 bậc chứng chỉ: 3 bậc đối với cấp quản lý/chuyên gia, 3 bậc đối với kỹ thuật và nghề kỹ thuật, 3 bậc đối với lao động giản đơn (ít đòi hỏi kỹ năng) và cấp vận hành.
Thailand, khung trình độ quốc gia chỉ áp dụng đối với đào tạo cấp đại học. Tuy nhiên, Thái Lan đang nỗ lực xây dựng một khung trình độ quốc gia riêng cho lĩnh vực đào tạo nghề.
Campuchia, Myanmar và Lào vẫn chưa có khung trình độ quốc gia.
2.2. Các cấp trình độ đào tạo nghề trong ASEAN
Trong đào tạo nghề/kỹ năng có nhiều cấp trình độ không thay đổi với hầu hết các nước ASEAN có từ 3 đến 5 cấp trình độ. Singapore, Indonesia có 3 cấp; Campuchia và Philipine có 4 cấp; Brunei, Malaysia và Thái Lan có 5 cấp. ở Myanmar, việc cấp chứng chỉ chứng nhận trình độ là được tổ chức bởi các Bộ khác nhau, có 3 hoặc 4 cấp phục thuộc vào từng ngành.
Trong khi có nhiều sự tương đồng cấp trình độ, nhưng cũng có một vài khác biệt giữa các nước khác nhau. Một số nước chỉ tập trung vào những trình độ chính thức do các cơ sở đào tạo và giáo dục nghề nghiệp khác nhau đưa ra, trong khi tại một số nước khác, vấn đề này lại do Bộ Lao động quản lý và tập trung vào việc phát triển một khung cho việc công nhận kỹ năng.
Nhiều nước vẫn đang trong giai đoạn xác định và một số nước đang phát triển luật pháp, thông thường như là một bộ phận của một khung chính sách phát triển kỹ năng thông thoáng hơn.
2.3. Phát triển năng lực (tiêu chuẩn kỹ năng) quốc gia.
Chương trình phát triển kỹ năng châu á- Thái Bình Dương (APSDEP) được bắt đầu tiến hành vào năm 1978 là một chương trình khu vực của ILO được UNDP tài trợ. Từ đầu năm 1982, một "Mô hình mẫu về tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho việc phát triển của chính phủ và ngành nghề (MOSS)" đã được soạn thảo dành cho các nước ASEAN và Thái bình dương. Các mẫu quy chuẩn này có rất nhiều ngành nghề khác nhau như cơ khí máy diesel và đã đề ra phác thảo cơ bản giúp cho các nước thiếu nguồn lực để phát triển những tiêu chuẩn năng lực cho riêng mình.
Kể từ khi đó, đã có một sự chấp nhận ngày càng nhiều hơn về phương pháp đào tạo dựa trên cơ sở năng lực trong thế giới và hiện nay, có rất nhiều bộ tiêu chuẩn năng lực cho từng ngành, nghề. Trong nhiều trường hợp, các bộ tiêu chuẩn này chỉ khác nhau là quan hệ với các cấp độ về đặc trưng tới những năng lực được định nghĩa trong các cấp độ đó.
Mặc dù đã sẵn có nhiều tiêu chuẩn năng lực trên thế giới, nhưng các nước ASEAN dường như vẫn muốn phát triển các bộ tiêu chuẩn cho riêng mình thông qua quá trình tham khảo ý kiến với các ngành:
Brunei đang sử dụng phương pháp nhóm phát triển chương trình (DACUM) để xác định các kỹ năng cho từng ngành nghề. 21 tiêu chuẩn năng lực đã được hoàn thiện.
Campuchia cam kết sẽ thiết lập các tiêu chuẩn năng lực, nhưng cơ chế thực hiện vẫn đang được bàn thảo.
Indonesia đang dần đưa vào thực hiện hệ thống các tiêu chuẩn năng lực quốc gia và các tiêu chuẩn này đang dần được sử dụng bởi các cơ quan chính phủ và các ngành. Có sự thường xuyên thảo luận với cơ quan đầu não của các ngành, nhưng nhận thức chung của các ngành về vấn đề này vẫn còn hạn chế.
Lào đang có kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn năng lực quốc gia nhưng vẫn đang trong quá trình bàn thảo.
Malaysia đã có sự đồng nhất các năng lực công việc quốc gia ở cấp quốc gia và đang đề nghị các tổ chức phát triển các tiêu chuẩn năng lực. Hiện có 750 tiêu chuẩn trên tổng số 5000 theo kế hoạch dự kiến đã được hoàn thành.
Tại Myanmar, Bộ Lao động phối hợp với các bộ khác bắt đầu phát triển các tiêu chuẩn kỹ năng và đào tạo cho một số ít nghề.
Tiêu chuẩn năng lực ở Philippines là thể hiện trong những đơn vị về năng lực và nằm trong khung trình độ quốc gia.
Singapore đã chính thức bắt đầu Hệ thống công nhận tay nghề quốc gia vào năm 2000 và Ban Tiêu chuẩn, Năng suất và Cải tiến (SPRING). Singapore đưa ra chỉ tiêu phải phát triển 1000 tiêu chuẩn nghề nghiệp trong 100 ngành cho đến năm 2005 - 508 tiêu chuẩn nghề nghiệp đã hoàn thành vào tháng 8/2004.
Thái Lan cũng đã khởi đầu phát triển các tiêu chuẩn năng lực với việc thử nghiệm ở một vài lĩnh vực ngành nghề. Hiện có 157 tiêu chuẩn được hoàn thành vào tháng 8/2004.
2.4. Hệ thống chất lượng nhằm đảm bảo tính nhất quán về mặt kỹ năng.
Sau khung trình độ quốc gia đã được thiết lập và các năng lực được xác định, cần phải thiết lập về hệ thống nhằm đảm bảo chất lượng và sự tuân thủ chặt chẽ. Hệ thống chất lượng này có thể bao gồm các thành tố sau:
- Hệ thống giám sát và cập nhật các tiêu chuẩn năng lực một cách thường xuyên;
- Các tiêu chuẩn đối với cán bộ đánh giá và giáo viên - thể hiện trong những điều kiện về trình độ, kinh nghiệm và kiến thức chuyên ngành;
- Hệ thống đăng ký dành cho cán bộ đánh giá và các tổ chức đánh giá;
- Tiêu chuẩn về lưu trữ sổ sách - hệ thống ghi chép thông tin sinh viên (bao gồm bản ghi chi tiết về bản sao lưu và hồ sơ lưu trữ thông tin về đánh giá);
- Hệ thống thanh tra và kiểm tra - nhằm đảm bảo việc đánh giá được tiến hành chính xác, không có gian lận;
2.4. Hệ thống chất lượng nhằm đảm bảo tính nhất quán về mặt kỹ năng (tiếp theo)
- Hệ thống báo cáo - phải có tiêu chuẩn thuật ngữ và báo cáo như thế năng lực nghề nghiệp có thể so sánh giữa các ngành;
- Cơ chế khiếu nại - dành cho những người cảm thấy họ bị đánh giá sai;
- Hệ thống thông tin - công khai về hệ thống như thế người sử dụng lao động, liên hiệp, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng hiểu được hệ thống công nhận kỹ năng;
- Tài liệu quảng bá và marketing trung thực - để đảm bảo rằng các sinh viên hiện ghi tên tham dự các khoá học và đánh giá là nhận được thông tin trung thực .
ở Brunei Daussalam, Hệ thống đào tạo và kiểm tra kỹ năng nghề quốc gia đã được đưa vào hoạt động bởi Cục Giáo dục kỹ Thuật vào năm 1999, nhằm phát triển và áp dụng các chương trình đào tạo và kiểm tra kỹ năng nghề trên toàn quốc. Có 4 cơ quan chịu trách nhiệm lập kế hoạch, phát triển, thực hiện và kiểm tra công tác đào tạo kỹ năng nghề quốc gia và hệ thống kiểm tra.
Indonesia có Cơ quan quốc gia về cấp chứng chỉ nghề nghiệp (NBPC), nó có thẩm quyền về phát hành chứng chỉ nghề nghiệp, các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và tiến hành kiểm định đối với việc cấp chứng chỉ nghề nghiệp.
TESDA ở Philippines đã phát triển một hệ thống đảm bảo chất lượng toàn diện cho giáo dục kỹ thuật. Hệ thống này bao gồm những giải thưởng về kiểm định chương trình và đăng ký chương trình dưới Hệ thống hợp nhất về kiểm định và đăng ký chương trình TVET (URPRAS).
Tại Singapore, Cơ quan Phát triển lực lượng lao động (WDA) đang phát triển một Hệ thống cấp chứng nhận cho giáo viên và một bộ các tiêu chuẩn quốc gia về kiểm định giáo viên, đặc biệt trực tiếp nhằm cải thiện sự đảm bảo chất lượng của các tổ chức đào tạo tư nhân và những giáo viên độc lập.
2.5. Hệ thống nâng cao kỹ năng

Sau khi khung trình độ quốc gia, hệ thống công nhận kỹ năng, các tiêu chuẩn năng lực, hệ thống đảm bảo chất lượng được thiết lập và tất cả các hệ thống này đã được các ngành nghề và cộng đồng công nhận sử dụng rộng rãi, thì thời kỳ tiếp theo là phát triển hệ thống nâng cao kỹ năng. Dựa trên kết quả của hệ thống đánh giá, hệ thống này sẽ đào tạo và cung cấp những kỹ năng mà quốc gia còn thiếu và yếu.
Brunei Darussalam đã thiết lập BDTVEC (Hội đồng giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp của Brunei) vào tháng 5/1991 để kiểm định, cấp chứng nhận và hợp thức hóa các chương trình giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp (VTE). Khu vực đào tạo chính quy đều phải trải qua sự kiểm định của BDTVEC cho dù đã được kiểm định bởi các tổ chức kiểm định của nước ngoài (chủ yếu là của Anh).
Hiện nay, Brunei đã có kế hoạch về tiêu chuẩn chính sách và hoạt động công nhận kỹ năng cho những ngành nghề kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực nhưng vẫn chưa hoàn thành.
Hệ thống công nhận kỹ năng nghề
của các nước ASEAN
Indonesia đã thiết lập một cơ quan công nhận kỹ năng nghề quốc gia là Badan Nasional Setifikasi Profesi (BNSP) vào năm 2003 và đã hoàn thành những quy định về quản lý cho tất cả các chính sách công nhận kỹ năng và những thủ tục. Tuy nhiên, đạo luật mới này vẫn chưa được thông qua. Nhưng đã đưa ra được các định hướng phát triển các tiêu chuẩn quốc gia và việc thiết lập cơ quan kiểm định trình độ và đào tạo. Cơ quan quốc gia về chứng nhận nghề nghiệp (NBPC) có chức năng phát hành các chứng chỉ nghề nghiệp, quản lý các tiêu chuẩn nghề quốc gia và kiểm định đối với các tổ chức cấp chứng nhận nghề của từng ngành.
Malaysia: Hội đồng đào tạo nghề quốc gia của Malaysia (NVTC) thuộc Bộ Nguồn nhân lực Malaysia, là tổ chức quốc gia với trách nhiệm được giao về xúc tiến phát triển và điều phối các hoạt động đào tạo kỹ năng ở Malaysia. Vai trò chính của nó là đảm bảo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế Malaysia. NTVC phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho đào tạo kỹ năng thông qua một hệ thóng tư vấn, giám sát và quản lý chất lượng.
Lembaga Akreditasi Negara là cơ quan có thẩm quyền kiểm định đối với hệ thống các cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo. Cơ quan này được ra đời theo Đạo luật Lembaga Akreditasi Negara 1996.
Dự thảo khung trình độ quốc gia Malaysia (MQF) bao hàm một khung công nhận các trình độ tay nghề cho cả lao động bản địa và lao động nước ngoài, và đề xuất pháp lý cho việc phát triển kỹ năng gồm các điều khoản khác nhau về công nhận kỹ năng và trình độ. Hiện nay đã triển khai xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng và trình tự công nhận nhưng vẫn chưa hoàn thành.
Philippine: Cơ quan Phát triển kỹ năng và giáo dục kỹ thuật của Phillipine (TESDA) là cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động và chính sách công nhận kỹ năng. TESDA được nhập vào Bộ Lao động và Việc làm (DOLE). Đạo luật Phát triển kỹ năng và giáo dục kỹ thuật năm 1994, Đạo luật Cộng hòa số 7796 đã hợp nhất 3 cơ quan có thẩm quyền của nhà nước có quan hệ với giáo dục kỹ thuật vè phát triển kỹ năng thành 1 cơ quan duy nhất là TESDA. Đó là: ủy ban Nhân lực và thanh niên quốc gia, Văn phòng về Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao và Chương trình Học nghề của Bộ Lao động và Việc làm.
Singapore có hai hệ thống, một cho đào tạo chính quy và một cho đào tạo không chính quy. Từ lâu, hệ thống công nhận kỹ năng quốc gia (NSRS) là một khung quốc gia thiết lập các tiêu chuẩn thực hiện công việc, xác định các năng lực công việc và chứng nhận kỹ năng thu được. NSRS là một hệ thống dựa trên cơ sở năng lực và như vậy không có hàn lâm hoặc những điều kiện yêu cầu đào tạo đầu vào để đánh giá, có thể đánh giá người thợ bất kỳ một đơn vị năng lực nào cần thiết trong công việc của họ. NSRS cung cấp cho sự phát triển về các tiêu chuẩn kỹ năng quốc gia, điều đó quy định điều kiện thực hiện công việc và thiết lập những trung tâm đào tạo và đánh giá để các trung tâm tiến hành đào tạo và đánh giá năng lực của lực lượng lao động. Các tiêu chuẩn kỹ năng của NSRS được phát triển trên một nền tảng công nghiệp và trong sự cộng tác với ngành thông qua uỷ ban tiêu chuẩn kỹ năng (ISSC). Các tiêu chuẩn kỹ năng được xác nhận bởi ISSC.
Khung mới hiện nay cũng đang được phát triển là khung đào tạo và giáo dục liên tục quốc gia (NCETF). Khung này sẽ là những thử nghiệm đầu tiên trong việc đào tạo lại và sẽ đưa cả vào trong khu vực tư nhân và công lập.
Cambodia thành lập Ban đào tạo quốc gia (NTB) vào tháng 11/1996 và Ban này phê chuẩn tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp quốc gia, kiểm tra, kiểm định và cấp chứng chỉ theo khung điều chỉnh tháng 2/2000. Ban đào tạo quốc gia được uỷ quyền công nhận kỹ năng và các tiêu chuẩn năng lực và tất cả các chính sách và thủ tục công nhận. Tuy nhiên không có một tiêu chuẩn quốc gia hiện hữu nào mặc dù hiện tại có một và dự thảo. Tại thời điểm này các cơ sở đào tạo tiến hành đào tạo và tự phát hành chứng chỉ của họ. Không có cơ quan quốc gia nào về công nhận và kiểm định và không có kế hoạch về những chính sách tiêu chuẩn và những thủ tục cho công nhận kỹ năng về những nghề ở mức độ kỹ thuật.
Lao PDR, hiện tại không có hệ thống kiểm tra tiêu chuẩn kỹ năng và cấp văn chứng chỉ. Tiêu chuẩn về cấp chứng chỉ là để dành cho các chương trình giảng dạy chính quy và được giám sát bởi Bộ Giáo dục. Không có hệ thống về kiểm định cho các cơ sở giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp nhưng đã công nhận mang tính văn bản về sự cần thiết cho một hệ thống như vậy. Có một sự thiếu hụt nghiêm trọng về giáo viên cho giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp và không có hệ thống kiểm định giáo viên.
Myanma hiện nay không có cơ quan trung ương về quản lý những tiêu chuẩn năng lực, cấp chứng chỉ hoặc kiểm định cơ sở đào tạo. Luật Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật bao trùm lên các dịch vụ giáo dục và Uỷ ban giáo dục Myanma sắp đặt chính sách về toàn bộ các mức độ của giáo dục bao gồm Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật ở các bậc chuyên môn. Bộ Khoa học và công nghệ quản lý TVET ở các bậc chuyên môn theo Luật Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật. Nói chung có 3 mức độ và một số trường hợp có 4 mức độ, chứng chỉ được cấp tại các mức độ xác định về kiến thức và kỹ năng do các cơ sở dào tạo trực thuộc các Bộ và Cục khác nhau quản lý.
Đang có kế hoạch cho một khung trình độ quốc gia (NQF) và tiêu chuẩn năng lực quốc gia. Tại thời điểm này Bộ Lao động đang hợp tác với các Bộ khác phát triển đào tạo và tiêu chuẩn kỹ năng cho những nghề được đề cập sau đây để định hướng về cung cấp đào tạo trong các nhà máy: thợ điện, thợ máy, thợ hàn, thợ cơ khí ô tô, thợ mộc và thợ ống nước.
Thái Lan hiện đang có các thay đổi trong chính sách và các cơ sở đào tạo về công nhận các kỹ năng qua tiến hành công việc. Có chính sách quốc gia cho công nhận về kỹ năng qua tất cả các nghề được quản lý bởi ủy ban xúc tiến phát triển kỹ năng. ủy ban này được thiết lập theo Đạo luật Xúc tiến và phát triển kỹ năng B.E. 2545 (2002) .
Thái Lan hiện vẫn chưa có một hệ thống công nhận tay nghề quốc gia thống nhất nhưng đang hăng hái phát triển cơ chế cho công nhận tay nghề đối với lao động đi ra ngoài làm việc và kiểm định họ khi họ trở về làm việc ở trong nước.
II. phát triển hệ thống
công nhận kỹ năng nghề quốc gia
của Việt Nam.
1. Sự cần thiết phải thiết lập hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia của Việt Nam.
Khuyến cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho các nước thành viên rằng: nếu muốn phát triển nền kinh tế xã hội sâu rộng và bền vững thì cần phải phát triển hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia. Việc phát triển hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia cũng phải phù hợp với xu hướng phát triển công nhận kỹ năng nghề chung của thế giới. ILO cũng chỉ rõ:
"Các chính phủ phải thúc đẩy quá trình phát triển và hỗ trợ tài chính cho cơ chế đánh giá, cấp chứng chỉ và công nhận kỹ năng nghề, bao gồm cả việc công nhận và hợp thức hóa quá trình học tập và kinh nghiệm làm việc trước đó, bất kể những kiến thức và kinh nghiệm đó được tích lũy ở đâu, một cách chính quy hay không chính quy và phải sử dụng khung trình độ quốc gia. Phương pháp đánh giá và công nhận phải mang tính công bằng, không phân biệt đối xử. Khung trình độ quốc gia phải bao hàm hệ thống cấp chứng chỉ trình độ tay nghề và đảm bảo rằng những kỹ năng được công nhận phải được chấp nhận và sử dụng tại mọi doanh nghiệp, ngành nghề và các cơ sở giáo dục đào tạo" (ILO 2004, Khoản 12).
Lợi ích của việc phát triển
hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia

- Tăng tính đồng nhất và số lượng kỹ năng hiện có của một quốc gia;
- Tăng khả năng đánh giá và dự báo về tình trạng thiếu hụt kỹ năng, từ đó đưa ra giải pháp;
- Tăng khả năng cho các trung tâm giới thiệu việc làm trong việc xác định kỹ năng của người tìm việc làm;
- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch đầu tư cho đào tạo của mình.
Tăng hiệu quả trong việc tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, từ đó các kỹ năng của người lao động có triển vọng là của một tiêu chuẩn đã biết.
Lợi ích của việc phát triển
hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia (tiếp)

- Tăng sự dịch chuyển lao động và hiệu quả của thị trường lao động thông qua việc tạo ra những kỹ năng có thể chứng nhận được các doanh nghiệp, các ngành, các cơ sở đào tạo công nhận thống nhất.
- Tăng hiệu quả trong việc phát triển chương trình và tài liệu học tập khi các tài liệu này được đưa ra và phát hành chung trong toàn quốc. Với những tiêu chuẩn quốc gia các doanh nghiệp hoặc các cơ sở đào tạo không phải chuẩn bị các tài liệu riêng của họ.
- Nâng cao độ tin cậy của chứng chỉ trình độ tay nghề và của hệ thống đào tạo.
Lợi ích của việc áp dụng công nhận kỹ năng không chỉ hướng vào thị trường lao động (tuyển mới) mà còn hướng tới thị trường lao động hiện hữu (những người lao động đang làm việc). Công nhận về quá trình học tập trước đây (RPL) cũng là một phần quan trọng của bất cứ khung trình độ quốc gia (NQF) nào. Công nhận quá trình học tập trước đây (RPL) tạo cho các cá nhân cơ hội khẳng định giá trị những kỹ năng và năng lực không được công nhận một cách chính thức của họ. Phát sinh việc cần phải công nhận quá trình học tập trước đây, là vì: học tập không chỉ được tổ chức trong các cơ sở giáo dục và đào tạo chính quy mà còn tại nơi làm việc và trong những hoạt động không chính quy. Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động học tập này được công nhận chính thức và những người lao động thu nhận được các kỹ năng trong công việc hoặc thông qua các hoạt động khác thường ít được chấp nhận trong giáo dục và đào tạo chính quy hoặc trong bảo đảm việc làm dù nó phản ánh đầy đủ những kỹ năng và kinh nghiệm trước đây của họ.
Những lợi ích chính của việc công nhận quá trình học tập trước đây (RPL)
- Tạo thuận lợi cho năng lực cá nhân và dịch chuyển chỗ là việc;
- Thúc đẩy và tạo thuận lợi cho cá nhân trở lại hệ thống giáo dục hoặc đào tạo chính quy bằng việc thừa nhận kinh nghiệm làm việc hoặc các hoạt động học tập không chính quy của họ;
- Trợ giúp các doanh nghiệp xác định những kỹ năng cá nhân mà chưa được công nhận hoặc sử dụng;
- Tạo hiệu quả sử dụng thời gian giảng dạy của các cơ sở đào tạo nhiều hơn như nó rút ngắn thời gian học tập cho các cá nhân khi tham gia hoàn thiện ở một trình độ chính quy.

Ngòai ra việc hình thành hệ thống đánh gía công nhận kỹ năng nghề quốc gia sẽ có tác dụng:

- Khuyến khích những ngưười lao động có kỹ năng không ngừng nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn về nghề của mình;
- Nâng cao nhận thức của xã hội đối với thành tích đạt đưược về kỹ năng nghề và với đào tạo nghề;
- Do kỹ năng nghề của ngưười lao động đưược nâng cao nên vị thế của ngưười lao động trong kinh tế-xã hội cũng được coi trọng và điều này góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong quá trình công nghiệp, hiện đại hoá.
Tóm lại, hệ thống đánh giá công nhận kỹ năng nghề được thiết lập sẽ thúc đẩy việc hình thành các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề của quốc gia. Các ngành kinh tế và các cơ sở đào tạo sẽ sử dụng cùng một bộ tiêu chuẩn kỹ năng ở tầm quốc gia. Do các tiêu chuẩn kỹ năng không chỉ được sử dụng để đánh giá công nhận tay nghề mà còn được sử dụng bởi các cơ sở đào tạo nghề nên sẽ tối ưu hoá việc sử dụng nguồn lực quốc gia cũng như đảm bảo mối quan hệ và sự liên quan giữa đào tạo nghề và nhu cầu của bên tuyển dụng lao động đồng thời cũng cho phép phát hiện ra những "lỗ hổng" về mặt kỹ năng, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.
2. Thực trạng về công nhận kỹ năng nghề ở Việt Nam.
- Việc đánh giá công nhận trình độ tay nghề của người lao động được thực hiện ở các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề
Từ năm 1971 theo Chỉ thị số 38-TTg ngày 4 tháng 2 năm 1971 về việc tiến hành kiểm tra trình độ tay nghề của công nhân kỹ thuật của Thủ tướng Chính phủ.
Việc kiểm tra đánh giá công nhận trình độ tay nghề này được tiến hành ở xí nghiệp bởi một hội đồng kiểm tra tay nghề của xí nghiệp do giám đốc xí nghiệp làm chủ tịch hội đồng bao gồm các bộ phận có liên quan trong xí nghiệp tham gia như: kỹ thuật, lao động tiền lương, giáo dục đào tạo, quản đốc các phân xưởng, đại diện công đoàn, thanh niên.
- Nội dung kiểm tra đánh giá công nhận trình độ tay nghề gồm lý thuyết và thực hành về nghề nghiệp được dựa trên tiêu chuẩn nghề do các Bộ ngành hoặc chính quyền cấp tỉnh xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Lao động (Thông tư số 473 ngày 21/11/1967 và Thông tư số 672 ngày 31/3/1969).
Ngoài việc tiến hành kiểm tra trình độ tay nghề của người lao động, hàng năm các xí nghiệp phải thực hiện chế độ nâng bậc nghề cho công nhân quy định của Bộ Lao động (Thông tư số 13/LĐ-TT ngày 13 tháng 2 năm 1973) thông qua việc kiểm tra để đánh giá.
- Từ khi Bộ Luật Lao động (được ban hành năm 1995) có hiệu lực thì việc đánh giá trình độ tay nghề khi tuyển chọn để bố trí công việc và nâng bậc nghề cho người lao động thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp. Do vậy, việc nâng bậc nghề cho công nhân do doanh nghiệp tự tổ chức theo Thông tư số 05/LĐTBXH-TT ngày 22 tháng 3 năm 1995 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn nâng bậc lương đối với công nhân, viên chức trong các doanh nghiệp.
Mục đích của việc kiểm tra đánh giá công nhận trình độ tay nghề và nâng bậc nghề cho người lao động làm cơ sở cho việc bố trí và sử dụng lao động phù hợp với yêu cầu của sản xuất, khuyến khích người lao động học tập để không ngừng nâng cao trình độ tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp.
Luật Giáo dục-Bộ luật Lao động
Cơ quan quản lý các hoạt động đào tạo
Cơ quan quản lý các hoạt động đánh giá
Quy định về DN theo các trình độ
Khung trình độ nghề quốc gia (3 trình độ đối với DN)
Các cơ sở dạy nghề công lập/ngoài công lập
Kinh nghiệm học tập và quá trình làm việc trước đây
Hội đồng Phát triển kỹ năng nghề quốc gia
Bộ Tiêu chuẩn nghề quốc gia
Loại công việc không cần phải có chứng chỉ công nhận trình độ tay nghề
Loại công việc cần phải có chứng chỉ công nhận trình độ tay nghề
Ghi chú:
Các yếu tố cần phải xác lập
Quy định về đánh giá công nhận trình độ tay nghề
Trung tâm đánh giá đào tạo không chính quy/kinh nghiệm làm việc của người lao động
Cơ quan cấp giấy phép hành nghề
Luật chuyên ngành (Giao thông, Y dược,.)
Các yếu tố tạo nên một mô hình tốt
về công nhận kỹ năng nghề quốc gia

3.1. Hệ thống phân loại nghề quốc gia: Hệ thống phân loại nghề quốc gia phải phù hợp với tiêu chuẩn phân loại quốc tế về nghề nghiệp (ISCO-88) dựa trên 2 khái niệm chính để phân loại nghề là: khái niệm về loại công việc và khái niệm về tay nghề.
- Loại công việc: là tập hợp các nhiệm vụ và trách nhiệm gắn với phương tiện để thực hiện nó. Loại công việc là cơ sở để phân loại nghề.
- Tay nghề hay kỹ năng: là khả năng thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm mà một nghề đòi hỏi. Tay nghề được thể hiện trên hai mặt:
Cấp độ kỹ năng hay còn gọi là mức tay nghề: là sự kết hợp của mức độ phức tạp và phạm vi mà các nhiệm vụ và trách nhiệm phải giải quyết;
Đặc tính chuyên môn: bao gồm lĩnh vực chuyên môn mà công việc đòi hỏi, các công cụ máy móc đã sử dụng, các nguyên liệu vật liệu dùng trong sản xuất và loại sản phẩm và dịch vụ đã làm ra.
3.1. Hệ thống phân loại nghề quốc gia (tiếp)
Để đảm bảo so sánh quốc tế, hệ thống phân loại nghề quốc gia được chia ra 4 mức tay nghề khái quát sau:
- Mức tay nghề thứ nhất: tương ứng với trình độ sơ cấp cho các loaị công việc giản đơn không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật,;
- Mức tay nghề thứ hai: tương ứng với trình độ trung cấp cho các loại công việc như lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị; thủ công và các nghề liên quan đến thủ công; công việc đòi hỏi kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản; bán hàng và các công việc dịch vụ; nhân viên, thư ký;
- Mức tay nghề thứ ba: tương ứng với trình độ cao đẳng cho các loại công việc như kỹ thuật viên và các công sự cho các chuyên gia;
- Mức tay nghề thứ tư: tương ứng với trình độ đại học và tương đương trở lên cho các chuyên gia.
3.2. Khung trình độ quốc gia:

Khung trình độ quốc gia thực chất là một khung phân loại và đăng ký trình độ tay nghề theo một bộ tiêu chuẩn quốc gia / tiêu chí cho các cấp học / kỹ năng nghề thu nhận được. Về cơ bản khung trình độ quốc gia đòi hỏi 3 yếu tố:
- Sự thoả thuận về các tiêu chuẩn chứng minh được năng lực hoặc sự hoàn thành trong các công việc thực hành/hoặc sự thấu hiểu các nguyên lý lý thuyết liên quan đến công việc hoặc quá trình thực hiện;
- Một hệ thống công nhận hoặc cấp chứng chỉ về hoàn thành năng lực cá nhân ở một trình độ được thừa nhận;
- Một hệ thống tiêu chuẩn về cấp chứng chỉ trình độ tay nghề tin cậy. Các trình độ được thừa nhận trong hệ thống cho phép sự tiến bộ của cá nhân thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo bằng sự công nhận hoặc liên thông giữa các trình độ trong toàn bộ khu vực.
Khung trình độ quốc gia phải phù hợp với hệ thống phân loại nghề quốc gia. Theo đó khung trình độ quốc gia có 4 cấp tương ứng với 4 loại văn bằng, chứng chỉ sau:

Chứng chỉ 1 (click here for detail)
Chứng chỉ 2 (click here for detail)
Chứng chỉ 3 (click here for detail)
Chứng chỉ 4 (click here for detail)
3.2. Tiêu chuẩn nghề (TCN) quốc gia

Phát triển bộ TCN quốc gia thống nhất để làm cơ sở cho việc đánh giá công nhận trình độ nghề cho người lao động theo các nguyên tắc sau:
- TCN phải được xây dựng trên cơ sở danh mục nghề thống nhất theo hệ thống phân loại nghề quốc gia;
- TCN phải thể hiện được những năng lực cần có ở người lao động trong các lĩnh vực nghề nghiệp đã xác định thông qua quá trình đào tạo hoặc sự tích luỹ kinh nghiệm trước đó và cũng phải đáp ứng những yêu cầu về an toàn lao động;
- TCN phải được lượng hoá thành các yêu cầu cụ thể về mức độ để có thể kiểm tra đánh giá được;
- TCN phải đồng thời thoả mãn các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về nguồn nhân lực và của giới sử dụng lao động cũng như phải bảo vệ quyển lợi của người lao động;
- TCN phải tiến dần đến sự hội nhập với khu vực và quốc tế;
Việc xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia cho các nghề được thực hiện thông qua một tổ chức hay cơ quan chức năng được thành lập trong đó có các chuyên gia hàng đầu về các nghề, đại diện hiệp hội ngành nghề, người lao động, các chuyên gia về đào tạo...
Và phải có một cơ quan chính phủ độc lập chịu trách nhiệm giám sát, lưu trữ các thông tin liên quan đến tiêu chuẩn nghề.

3.4. Cơ hội đào tạo dành cho những người có nhu cầu đào tạo và cơ hội dành cho những người có trình độ tay nghề thấp: Đào tạo phải đồng nhất với những tiêu chí văn bằng, chứng chỉ và tiêu chí tuyển việc.
3.5. Quy định về cấp văn bằng, chứng chỉ: Văn băng, chứng chỉ và tiêu chí tuyển việc phải thống nhất với hệ thống tiêu chuẩn nghề và khung trình độ quốc gia.
Tiêu chuẩn tuyển việc phải thống nhất với hệ thống công nhận tay nghề, đảm bảo rằng không có người lao động hành nghề mà không được đánh giá.
3.6. Hệ thống chất lượng: Hệ thống chất lượng nhằm đảm bảo tính thống nhất của các tiêu chuẩn để chứng nhận những kỹ năng đạt được.
Các tiêu chí đảm bảo chất lượng phải được định nghĩa rõ ràng.
Phải tiến hành đào tạo cho các cơ sở đào tạo và các hội nghề nghiệp về tiêu chuẩn nghề.
Phải có hệ thống quốc gia nhằm giám sát và điều chỉnh chất lượng của các tổ chức đào tạo.
3.7. Công nhận trong các ngành

Các ngành phải hiểu biết về tiêu chuẩn nghề và khung trình độ quốc gia. Hiệp hội ngành nghề phải chấp nhận và sử dụng các tiêu chuẩn trong việc tuyển chọn nhân viên đồng thời phải hỗ trợ công tác đào tạo và công nhận tay nghề cho lao động đang sử dụng.
Về hệ thống cung cấp các kỹ năng để làm việc có hiệu quả, chúng ta đều thấy rằng nó cần phải có 3 bộ phận cấu thành:
- Một khung trình độ và bộ tiêu chuẩn năng lực (tiêu chuẩn nghề) được xác định rõ ràng bởi chính phủ và các hiệp hội nghề nghiệp;
- Cá nhân những người chuẩn bị đầu tư thời gian và nguồn lực trong việc phát triển kỹ năng và như vậy các kỹ năng đó cần phải được công nhận;
- Các ngành sử dụng khung trình độ và tuyển chọn nhân viên trên cơ sở kỹ năng của họ và bù đắp cho họ đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ năng.
3.8. Hệ thống và quy trình công nhận kỹ năng nghề

Hệ thống và quy trình công nhận kỹ năng nghề bao gồm:
- Các cơ chế kiểm định kỹ năng;
- Cơ hội dành cho những người có tay nghề được công nhận;
- Hiểu biết của người lao động về tầm quan trọng của công nhận kỹ năng nghề;
-Cơ hội cho người lao động trong nước và người nước ngoài được công nhận kỹ năng nghề;
- Các nhóm ngành nghề và các cơ sở đào tạo cùng sử dụng một bộ tiêu chuẩn kỹ năng.
3.9. Thiết lập một cơ quan nhà nước:
Cần phải có một cơ quan nhằm giám sát đảm bảo chất lượng và tuân thủ chặt chẽ việc công nhận kỹ năng. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm giám s
 
Gửi ý kiến