địa hình đáy đại dương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Viết Hà
Ngày gửi: 16h:57' 06-01-2011
Dung lượng: 7.9 MB
Số lượt tải: 172
Nguồn:
Người gửi: Viết Hà
Ngày gửi: 16h:57' 06-01-2011
Dung lượng: 7.9 MB
Số lượt tải: 172
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tài nguyên thiên nhiên 1
Tiểu luận:
Các dạng địa hình dưới đáy
đại dương
Thực hiện:
Trần Thị Mỹ Hạnh
Viết Thị Hà Xuyên
Đoàn Hồng Nhung
Hà Nội, 12.11.2010.
Nội dung
II. Các dạng địa hình lớn dưới đáy đại dương
IV. Tài liệu tham khảo
I. Tổng quan địa hình đáy đại dương.
III. Tài nguyên khoáng sản
I. Tổng quan địa hình đáy đại dương.
Hai đặc điểm địa hình nổi bật nhất trên đáy dương:
Hệ thống trục sống núi kéo dài gần như liên tục qua tất cả các đại dương lớn trên thế giới.
Hệ thống các hẻm vực ( đặc biệt ở Thái Bình Dương).
Xét về tổng diện tích, cấu trúc đáy đại dương bao gồm 3 dạng địa hình lớn:
Rìa lục địa (11,4%).
Hệ thống sống núi ngầm đại dương. ( 22,1%).
Bồn đáy đại dương (đồng bằng biển thẳm) ( 29,8%).
Xen giữa trục sống núi và hẻm sâu là các bồn trầm tích bằng phẳng các dãy núi ngầm đơn lẻ và nhiều dạng địa hình gò đồi và khối nâng khác, một trong số đó nhô lên mặt nước thành đảo. Bao quanh các lục địa là thềm lục địa, được hình thành do quá trình tích tụ dày của trầm tích.
Tuổi địa chất của vỏ đại dương
Vùng màu xanh thể hiện nền đại dương đc hình thành từ kỉ Trung Sinh, cách đây 140triệu năm, trong khi đó nền màu đỏ, gần giữa sống núi lại trẻ hơn
2.1. Rìa lục địa
Tổng diện tích
74 triệu km2
2/3 tập trung ở Bắc Bán Cầu, 1/3 ở Nam Bán Cầu
Có hai kiểu rìa lục địa:
Kiểu rìa tích cực.
Kiểu rìa thụ động.
Các đơn vị điển hình:
Thềm lục địa.
Sườn lục địa.
II. Các dạng địa hình lớn dưới đáy đại dương
Các kiểu rìa lục địa.
a) Kiểu rìa tích cực.
- Thường được bao quanh bởi các máng sâu, nằm ở chân sườn lục địa, thay thế cho chân lục địa.
- Tạo ra đới hút chìm khiến cho lớp vỏ đại chui xuống lớp vỏ lục địa hoặc lớp vỏ đại dương khác và đi vào trong quyển mềm.
- Điển hình rìa Thái Bình Dương.
b) Kiểu rìa thụ động.
- Phần thềm lục địa tương đối rộng và phần chân lục địa trải rộng.
- Các hoạt động kiến tạo nhìn chung là yếu vì vậy mép rìa không bị phá hủy.
- Được hình thành do sự tách dãn của lục địa hình thành đại dương mới.
- Điển hình rìa Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương
2.1.2. Thềm lục địa
a) Khái niệm
Thềm lục địa khoa học:
Là phần kéo dài tự nhiên dưới nước của lục địa về phía biển đến khi có độ dốc thay đổi đột ngột.
Trong các thời kỳ băng hà còn được biết đến như là các biển cạn và các vịnh.
Thềm lục địa pháp lý
Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.
(Theo khoản 1 Điều 76, Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển)
b) Đặc điểm địa hình thềm lục địa
Các thềm lục địa hiện nay đều là các thành tạo tương đối trẻ, chúng xuất hiện và bị ngập nước trong thời kỳ đệ tứ.
Nét đặc trưng của thềm lục địa là có nhiều dạng địa hình còn sót lại, nhưng bị phủ một lớp trầm tích có bề dày khác nhau.
Độ sâu:
- Dao động mạnh,sự thay đổi độ sâu của thềm lục địa thường theo dạng bậc thang.
- Nó có thể chỉ nông khoảng 30 m mà cũng có thể sâu tới 600m.Độ sâu trung bình 135m.
Thềm lục địa ở các rìa tích cực thường có độ sâu lớn có thể đến hàng ngàn mét.
Độ sâu trung bình của thềm lục địa viền quanh Đại Tây Dương là 130m.
Ở Việt Nam là 145m vì thềm lục địa ở miền Trung rất sâu.
Độ dốc :
trung bình của thềm lục địa khoảng 0,020 – 0,07 0 hiếm khi đạt tới 10
Độ rộng
Đường đẳng sâu 200m đước coi là ranh giới trong của thềm lục địa.
Chiều rộng của thềm lục địa dao động một cách đáng kể.
Chiều rộng trung bình của các thềm lục địa là khoảng 80km.
Thềm lục địa lớn nhất - thềm lục địa Siberi ở Bắc Băng Dương - kéo dài tới 1.500 km
Các vùng ven Thái Bình Dương thềm lục địa chỉ rộng khoảng 1,6km hoặc ít hơn.
Vùng thềm lục địa của biển Đông (Việt Nam) chiều rộng từ vài chục đến 200-350km
Biển Đông, thiết-đồ đáy biển và thềm lục-địa (200m.) Từ bờ Việt-Nam, đáy biển chạy thoai-thoải ra khơi. (Hình của Nguyễn-Khắc-Ngữ, 1981.)
c) Quá trình hình thành thềm lục địa.
Do quá trình bồi tích, đối diện các con sông lớn sẽ có 1 khối lượng vật liệu trầm tích khổng lồ được mang vào và tích tụ ở đáy biển.
Do kết quả của các cuộc vận động kiến tạo, rìa lục địa bị nhấn chìm lâu dài và tích tụ trầm tích trên mặt.
Do quá trình mài mòn và tích tụ lâu dài trong thời kì băng hà, khi mực nước biển đại dương hạ thấp xuống cực đại, thấp hơn hiện nay hơn 100m.
Hình vẽ cho thấy lớp trầm tích được hình thành ở phần trên cùng của thềm lục địa đã tạo thành một lớp mỏng trên vỏ Trái Đất, tương đối bằng phẳng, tuy nhiên cũng có đôi chỗ có những vết gợn và các gò cao tới vài mét do tác dộng của các hoạt động dòng chảy.
d) Ý nghĩa của thềm lục địa
Nguồn lợi sinh vật:
- Đa dạng sinh học cao.
- Nhiều loại có giá trị kinh tế cao.Ví dụ: cá, tôm, cua, đồi mồi, mực, bào ngư…
Tài nguyên khoáng sản:
- Dầu mỏ, khí đốt
- Sa khoáng (vàng, platin, crôm..)
Sinh vật biển Đỏ
2.1.3. Sườn lục địa
Khái niệm:là phần dốc nối tiếp thềm lục địa tới độ sâu 2500m có độ dốc từ 10 – 60, đôi khi lên tới 200 - 250 .
Rìa lục địa thụ động độ sâu có thể đạt từ 3000-4000m.
Rìa lục địa tích cực 5000-10000m
Đặc điểm địa hình:
Có dạng nghiêng thoải hoặc có tính chất từng bậc làm thành bình nguyên dưới nước.
Mức độ chia cắt lớn hơn nhiều thềm lục địa, bị chia cắt bởi các canhon ngầm.
Canhon ngầm
Khái niệm: là những rãnh sâu cắt xuyên sườn lục địa, ăn sâu vào thềm lục địa, có khi vào cả đới chuyển tiếp.
Đặc điểm:
Trắc diện ngang hình chữ V sâu tới 1-2km, chiều dài hàng trăm km.
Đỉnh canhon phân nhánh.
Đóng vai trò như kênh vận chuyển trầm tích vào biển sâu.
Được hình thành do quá trình xói mòn của các dòng chảy rối tương tự như nước chảy xuống từ sườn đồi trên lục địa.
Chân lục địa
Khái niệm:
- là một phần đáy biển thuộc vùng rìa lục địa.
- nằm kế tiếp với sườn lục địa và kéo dài ra tới nước sâu đại dương.
Đặc điểm địa hình
- Là miền bình nguyên khổng lồ nằm ở độ sâu từ 2000 đến 4000 – 5000m, có độ dốc trung bình 0,0010 , riêng phần gần sườn có thể đạt 0,1 0 .
- Dạng địa hình phổ biến là các bồn trũng tích tụ trầm tích.
- Cấu tạo địa chất chân lục địa cũng gồm 3 lớp: trầm tích, Granit, Bazan.
quá trình hình thành
- Giả thiết thứ nhất: chân lục địa được hình thành do một bộ phận của rìa lục địa.
- Giả thiết thứ hai: giống như sự hình thành các nón tích tụ trầm tích ở chân núi
2.2. Sống núi giữa đại dương
Khái niệm:
Sống núi giữa đại dương là một dãy núi nằm dưới nước có hướng chạy song song với bờ các đại lục.
Có một thung lũng đặc biệt gọi là một riftơ chạy dọc theo xương sống của nó.
Hình thành bởi hoạt động kiến tạo mảng.
phân bố các sống núi dưới đại dương thế giới
Là hệ thống núi dài và đồ sộ nhất trên Thế giới với 63.000km từ Bắc Đại Tây Dương kéo xuống ngang mỏm Nam Mỹ, rẽ sang Ấn Độ Dương thì xuất hiện 1 nhánh ngoặt vào biển Đỏ, nhánh còn lại tiếp tục chạy xuống Nam Australia đến gần Nam Cực thì ngoặt về phía Bắc Mỹ, cuối cùng mất hút ở bờ bán đảo California.
Sống núi này cao khoảng 2-3km so với bề mặt đáy đại dương.
Chiều rộng chân núi chừng 200-300m chiếm 1/3 tổng diện tích đáy đại dương, tương đương 1/4 diện tích bề mặt trái đất.
Đặc điểm
Hình thái:
- Đỉnh núi lởm chởm, khá phức tạp.
- Sườn núi thươn thoải do có trầm tích phủ.
thung lũng riftơ:
- Dọc theo đỉnh, bổ đôi sống núi giữa.
- Vách dốc đứng, sâu khoảng 1km hoặc hơn.Rộng 30 - 50km.
- Bị cắt ngang bởi vô số đứt gãy.
Đỉnh núi:
- Tập trung nhiều các chấn tâm động đất.
- Các hoạt động núi lửa
- Các dòng nhiệt cao liên quan tới sự chồi lên và tách dãn vật chất manti ép lên vỏ Trái Đất bên trên.
Sống núi giữa Đại Tây Dương.
Là dãy núi dài nhất trên thế giới, là ranh giới tự nhiên giữa các mảng
Nó chia tách mảng Á-Âu với mảng Bắc Mỹ ở phía Bắc Đại Tây Dương.
mảng châu Phi với mảng Nam Mỹ ở phía Nam Đại Tây Dương.
Ở gần xích đạo, sống núi giữa Đại Tây Dương bị cắt ra thành sống núi Bắc Đại Tây Dương và sống núi Nam Đại Tây Dương bởi rãnh Romanche
Kiểu sống núi Thái Bình Dương:
- Bề mặt dọc sống núi có dạng gò ,tách biệt nhau độ cao không quá 300m.
- Không có thung lũng riftơ .
- Ở trục sống núi hai bên sườn của sống núi bị phân cắt mạnh với các dãy núi hẹp, giữa là các lõm sụt
Sống núi Thái Bình Dương - Nam Cực
2.3. Hẻm vực đại dương.
Khái niệm:
- Xuất hiện sát các rìa lục địa có dãy núi lửa nằm ven bờ.
- Là nơi lớp vỏ đại dương chui xuống bên dưới các mảng lục địa.
- Gần các cung đảo, nơi lớp vỏ đại dương chui xuống bên dưới mảng đại dương khác.
Đặc điểm
Là các bẫy trầm tích nằm dưới chân sườn lục địa.
Có dạng hình chữ V với 1 vách dốc và 1 vách thoải hơn:
Vách dốc là các đứt gãy kéo dài, rất dốc thường dao động từ 80 – 150.
Vách thoải là các đứt gãy và uốn khúc vẫn còn lưu lại các trầm tích của mảng đại dương.
Phần đáy sâu nhất có lẽ bằng phẳng do trầm tích lấp đầy.
Độ sâu mỗi hẻm vực khác nhau:
Hẻm vực Mariana sâu cực đại 11.034m.
Tonga 10.800m.
Philippin 10.055m
Các dải chấn tâm động đất ở Thái Bình Dương
Chuỗi hẻm vực vây quanh Thái Bình Dương là nơi tập trung đa số các chấn tâm động đất trên Trái Đất: hơn 80% chấn tâm nông ( độ sâu< 60km), 90% chấn tâm sâu vừa ( 60-300km) và hầu như toàn bộ trấn tâm sâu ( 300-700km).
Vành đai lửa Thái Bình Dương
Vành đai lửa Thái Bình Dương: cũng có quan hệ chặt chẽ với các hẻm vực; các núi lửa nằm bên trên bề mặt chấn tâm động đất bị nhấn chìm dưới thạch quyển.
Mối quan hệ giữa lý thuyết tách dãn đại dương với sự hình sống núi và hẻm sâu đại dương
Tốc độ dãn tách-tốc độ của các phần đáy đại dương dịch chuyển về hai phía-ước tính trung bình khoảng 1-10cm/1 năm.
Ranh giới tại các đới tách dãn, dung nham lấp đầy khoảng trống giữa hai mảng và trào ra bên ngoài, đẩy hai mảng ra xa hơn. Kết quả tạo ra sống núi giữa đáy đại dương hoặc quần đảo núi lửa.
Ranh giới tại các đới nén ép: xảy ra ở rìa bồn địa đại dương, thạch quyển bị nhấn chìm (dày khoảng 100km), kết cục bị mất hút vào quyển mềm - phần mềm của manti trên.
Một mảng chui xuống dưới mảng kia, tạo nên một đới hút chìm. Đới này xuất hiện ở nơi một bên là hẻm vực và một bên là dãy núi trẻ (ví dụ: ở gần bờ đông Thái Bình Dương), hoặc ở nơi một bên là hẻm vực và một bên là cung đảo, biển rìa (ví dụ: ở bờ tây Thái Bình Dương).
Tại đới hút chìm, sự di động của mảng chui xuống tạo ra lực ma sát khiến nhiệt độ tăng làm nóng chảy đá trầm tích ở dưới sâu, dẫn đến các biểu hiện mạnh mẽ của hoạt động địa chất nội sinh.
III. Tài nguyên khoáng sản biển.
1.Băng cháy khí hydrat nguồn năng lượng tương lai: Băng mê-tan là một hợp chất gồm khí mê-tan và nước. Hợp chất này tồn tại chủ yếu dưới đáy đại dương và lớp đất băng khổng lồ. Các nhà khoa học ước tính có thể có từ 500 - 2500 tỷ tấn dưới đáy biển .Tuy nhiên khí mê tan là 1 khí nhà kính rất mạnh.
khí mê-tan đang bị thoát ra ở nhiều nơi trong vùng Bắc Cực.
2. Dầu mỏ và khí thiên nhiên: là hỗn hợp phức tạp của hydrocacbon phát sinh trong chất hữu cơ sản sinh cả trong lục địa và trên biển. Phần nhiều bắt gặp ở thềm lục địa và sườn lục địa
3.Sa khoáng ven biển: là loại hình mỏ có chứa chủ yếu các khoáng vật nặng( vàng, kim cương, thiếc, titan..)thành tạo ở vùng bờ biển, các bãi cát biển, các đồi cát hoặc sườn bờ cát.Ngày nay người ta bắt gặp các sa khoáng cổ chôn vùi ở các sườn bờ ngầm, các thành tạo trầm tích cổ ở nhiều nơi trên thế giới.
4. Các mỏ kim loại dưới đáy biển sâu:Kết hạch sắt- mangan, phôtphorit… có trữ lượng lớn , tập trung chủ yếu ở đáy đại dương.
5.Vật liệu xây dựng:gồm các thành tạo bở rời như cát, cuôi, sỏi, đá, vỏ sò, vỏ ốc…phân bố chủ yếu ở ven biển ven đảo và trầm tích thềm lục địa.
6.Bùn khoáng : phân bố rộng rãi dưới đáy đại dương với trữ lượng lớn
chứa nhiều kim loại quý hiếm như vàng, bạc…
IV.Tài liệu tham khảo
Cơ sở tài nguyên và môi trường biển, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, 2005.
Địa chất địa mạo biển, Th.s Trịnh Lê Hà, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Floor of Ocean, Bruce.C.Heezen and Marie Tharp,1975.
World ocean floor Panorama, Bruce.C.Heezen and Maria Tharp, 1977.
World’s ocean, Duxury.
http://www.suprememastertv.com/au/bbs/board.php?bo_table=sos_video_au&wr_id=28&goto_url=
The end.
The end.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tài nguyên thiên nhiên 1
Tiểu luận:
Các dạng địa hình dưới đáy
đại dương
Thực hiện:
Trần Thị Mỹ Hạnh
Viết Thị Hà Xuyên
Đoàn Hồng Nhung
Hà Nội, 12.11.2010.
Nội dung
II. Các dạng địa hình lớn dưới đáy đại dương
IV. Tài liệu tham khảo
I. Tổng quan địa hình đáy đại dương.
III. Tài nguyên khoáng sản
I. Tổng quan địa hình đáy đại dương.
Hai đặc điểm địa hình nổi bật nhất trên đáy dương:
Hệ thống trục sống núi kéo dài gần như liên tục qua tất cả các đại dương lớn trên thế giới.
Hệ thống các hẻm vực ( đặc biệt ở Thái Bình Dương).
Xét về tổng diện tích, cấu trúc đáy đại dương bao gồm 3 dạng địa hình lớn:
Rìa lục địa (11,4%).
Hệ thống sống núi ngầm đại dương. ( 22,1%).
Bồn đáy đại dương (đồng bằng biển thẳm) ( 29,8%).
Xen giữa trục sống núi và hẻm sâu là các bồn trầm tích bằng phẳng các dãy núi ngầm đơn lẻ và nhiều dạng địa hình gò đồi và khối nâng khác, một trong số đó nhô lên mặt nước thành đảo. Bao quanh các lục địa là thềm lục địa, được hình thành do quá trình tích tụ dày của trầm tích.
Tuổi địa chất của vỏ đại dương
Vùng màu xanh thể hiện nền đại dương đc hình thành từ kỉ Trung Sinh, cách đây 140triệu năm, trong khi đó nền màu đỏ, gần giữa sống núi lại trẻ hơn
2.1. Rìa lục địa
Tổng diện tích
74 triệu km2
2/3 tập trung ở Bắc Bán Cầu, 1/3 ở Nam Bán Cầu
Có hai kiểu rìa lục địa:
Kiểu rìa tích cực.
Kiểu rìa thụ động.
Các đơn vị điển hình:
Thềm lục địa.
Sườn lục địa.
II. Các dạng địa hình lớn dưới đáy đại dương
Các kiểu rìa lục địa.
a) Kiểu rìa tích cực.
- Thường được bao quanh bởi các máng sâu, nằm ở chân sườn lục địa, thay thế cho chân lục địa.
- Tạo ra đới hút chìm khiến cho lớp vỏ đại chui xuống lớp vỏ lục địa hoặc lớp vỏ đại dương khác và đi vào trong quyển mềm.
- Điển hình rìa Thái Bình Dương.
b) Kiểu rìa thụ động.
- Phần thềm lục địa tương đối rộng và phần chân lục địa trải rộng.
- Các hoạt động kiến tạo nhìn chung là yếu vì vậy mép rìa không bị phá hủy.
- Được hình thành do sự tách dãn của lục địa hình thành đại dương mới.
- Điển hình rìa Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương
2.1.2. Thềm lục địa
a) Khái niệm
Thềm lục địa khoa học:
Là phần kéo dài tự nhiên dưới nước của lục địa về phía biển đến khi có độ dốc thay đổi đột ngột.
Trong các thời kỳ băng hà còn được biết đến như là các biển cạn và các vịnh.
Thềm lục địa pháp lý
Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.
(Theo khoản 1 Điều 76, Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển)
b) Đặc điểm địa hình thềm lục địa
Các thềm lục địa hiện nay đều là các thành tạo tương đối trẻ, chúng xuất hiện và bị ngập nước trong thời kỳ đệ tứ.
Nét đặc trưng của thềm lục địa là có nhiều dạng địa hình còn sót lại, nhưng bị phủ một lớp trầm tích có bề dày khác nhau.
Độ sâu:
- Dao động mạnh,sự thay đổi độ sâu của thềm lục địa thường theo dạng bậc thang.
- Nó có thể chỉ nông khoảng 30 m mà cũng có thể sâu tới 600m.Độ sâu trung bình 135m.
Thềm lục địa ở các rìa tích cực thường có độ sâu lớn có thể đến hàng ngàn mét.
Độ sâu trung bình của thềm lục địa viền quanh Đại Tây Dương là 130m.
Ở Việt Nam là 145m vì thềm lục địa ở miền Trung rất sâu.
Độ dốc :
trung bình của thềm lục địa khoảng 0,020 – 0,07 0 hiếm khi đạt tới 10
Độ rộng
Đường đẳng sâu 200m đước coi là ranh giới trong của thềm lục địa.
Chiều rộng của thềm lục địa dao động một cách đáng kể.
Chiều rộng trung bình của các thềm lục địa là khoảng 80km.
Thềm lục địa lớn nhất - thềm lục địa Siberi ở Bắc Băng Dương - kéo dài tới 1.500 km
Các vùng ven Thái Bình Dương thềm lục địa chỉ rộng khoảng 1,6km hoặc ít hơn.
Vùng thềm lục địa của biển Đông (Việt Nam) chiều rộng từ vài chục đến 200-350km
Biển Đông, thiết-đồ đáy biển và thềm lục-địa (200m.) Từ bờ Việt-Nam, đáy biển chạy thoai-thoải ra khơi. (Hình của Nguyễn-Khắc-Ngữ, 1981.)
c) Quá trình hình thành thềm lục địa.
Do quá trình bồi tích, đối diện các con sông lớn sẽ có 1 khối lượng vật liệu trầm tích khổng lồ được mang vào và tích tụ ở đáy biển.
Do kết quả của các cuộc vận động kiến tạo, rìa lục địa bị nhấn chìm lâu dài và tích tụ trầm tích trên mặt.
Do quá trình mài mòn và tích tụ lâu dài trong thời kì băng hà, khi mực nước biển đại dương hạ thấp xuống cực đại, thấp hơn hiện nay hơn 100m.
Hình vẽ cho thấy lớp trầm tích được hình thành ở phần trên cùng của thềm lục địa đã tạo thành một lớp mỏng trên vỏ Trái Đất, tương đối bằng phẳng, tuy nhiên cũng có đôi chỗ có những vết gợn và các gò cao tới vài mét do tác dộng của các hoạt động dòng chảy.
d) Ý nghĩa của thềm lục địa
Nguồn lợi sinh vật:
- Đa dạng sinh học cao.
- Nhiều loại có giá trị kinh tế cao.Ví dụ: cá, tôm, cua, đồi mồi, mực, bào ngư…
Tài nguyên khoáng sản:
- Dầu mỏ, khí đốt
- Sa khoáng (vàng, platin, crôm..)
Sinh vật biển Đỏ
2.1.3. Sườn lục địa
Khái niệm:là phần dốc nối tiếp thềm lục địa tới độ sâu 2500m có độ dốc từ 10 – 60, đôi khi lên tới 200 - 250 .
Rìa lục địa thụ động độ sâu có thể đạt từ 3000-4000m.
Rìa lục địa tích cực 5000-10000m
Đặc điểm địa hình:
Có dạng nghiêng thoải hoặc có tính chất từng bậc làm thành bình nguyên dưới nước.
Mức độ chia cắt lớn hơn nhiều thềm lục địa, bị chia cắt bởi các canhon ngầm.
Canhon ngầm
Khái niệm: là những rãnh sâu cắt xuyên sườn lục địa, ăn sâu vào thềm lục địa, có khi vào cả đới chuyển tiếp.
Đặc điểm:
Trắc diện ngang hình chữ V sâu tới 1-2km, chiều dài hàng trăm km.
Đỉnh canhon phân nhánh.
Đóng vai trò như kênh vận chuyển trầm tích vào biển sâu.
Được hình thành do quá trình xói mòn của các dòng chảy rối tương tự như nước chảy xuống từ sườn đồi trên lục địa.
Chân lục địa
Khái niệm:
- là một phần đáy biển thuộc vùng rìa lục địa.
- nằm kế tiếp với sườn lục địa và kéo dài ra tới nước sâu đại dương.
Đặc điểm địa hình
- Là miền bình nguyên khổng lồ nằm ở độ sâu từ 2000 đến 4000 – 5000m, có độ dốc trung bình 0,0010 , riêng phần gần sườn có thể đạt 0,1 0 .
- Dạng địa hình phổ biến là các bồn trũng tích tụ trầm tích.
- Cấu tạo địa chất chân lục địa cũng gồm 3 lớp: trầm tích, Granit, Bazan.
quá trình hình thành
- Giả thiết thứ nhất: chân lục địa được hình thành do một bộ phận của rìa lục địa.
- Giả thiết thứ hai: giống như sự hình thành các nón tích tụ trầm tích ở chân núi
2.2. Sống núi giữa đại dương
Khái niệm:
Sống núi giữa đại dương là một dãy núi nằm dưới nước có hướng chạy song song với bờ các đại lục.
Có một thung lũng đặc biệt gọi là một riftơ chạy dọc theo xương sống của nó.
Hình thành bởi hoạt động kiến tạo mảng.
phân bố các sống núi dưới đại dương thế giới
Là hệ thống núi dài và đồ sộ nhất trên Thế giới với 63.000km từ Bắc Đại Tây Dương kéo xuống ngang mỏm Nam Mỹ, rẽ sang Ấn Độ Dương thì xuất hiện 1 nhánh ngoặt vào biển Đỏ, nhánh còn lại tiếp tục chạy xuống Nam Australia đến gần Nam Cực thì ngoặt về phía Bắc Mỹ, cuối cùng mất hút ở bờ bán đảo California.
Sống núi này cao khoảng 2-3km so với bề mặt đáy đại dương.
Chiều rộng chân núi chừng 200-300m chiếm 1/3 tổng diện tích đáy đại dương, tương đương 1/4 diện tích bề mặt trái đất.
Đặc điểm
Hình thái:
- Đỉnh núi lởm chởm, khá phức tạp.
- Sườn núi thươn thoải do có trầm tích phủ.
thung lũng riftơ:
- Dọc theo đỉnh, bổ đôi sống núi giữa.
- Vách dốc đứng, sâu khoảng 1km hoặc hơn.Rộng 30 - 50km.
- Bị cắt ngang bởi vô số đứt gãy.
Đỉnh núi:
- Tập trung nhiều các chấn tâm động đất.
- Các hoạt động núi lửa
- Các dòng nhiệt cao liên quan tới sự chồi lên và tách dãn vật chất manti ép lên vỏ Trái Đất bên trên.
Sống núi giữa Đại Tây Dương.
Là dãy núi dài nhất trên thế giới, là ranh giới tự nhiên giữa các mảng
Nó chia tách mảng Á-Âu với mảng Bắc Mỹ ở phía Bắc Đại Tây Dương.
mảng châu Phi với mảng Nam Mỹ ở phía Nam Đại Tây Dương.
Ở gần xích đạo, sống núi giữa Đại Tây Dương bị cắt ra thành sống núi Bắc Đại Tây Dương và sống núi Nam Đại Tây Dương bởi rãnh Romanche
Kiểu sống núi Thái Bình Dương:
- Bề mặt dọc sống núi có dạng gò ,tách biệt nhau độ cao không quá 300m.
- Không có thung lũng riftơ .
- Ở trục sống núi hai bên sườn của sống núi bị phân cắt mạnh với các dãy núi hẹp, giữa là các lõm sụt
Sống núi Thái Bình Dương - Nam Cực
2.3. Hẻm vực đại dương.
Khái niệm:
- Xuất hiện sát các rìa lục địa có dãy núi lửa nằm ven bờ.
- Là nơi lớp vỏ đại dương chui xuống bên dưới các mảng lục địa.
- Gần các cung đảo, nơi lớp vỏ đại dương chui xuống bên dưới mảng đại dương khác.
Đặc điểm
Là các bẫy trầm tích nằm dưới chân sườn lục địa.
Có dạng hình chữ V với 1 vách dốc và 1 vách thoải hơn:
Vách dốc là các đứt gãy kéo dài, rất dốc thường dao động từ 80 – 150.
Vách thoải là các đứt gãy và uốn khúc vẫn còn lưu lại các trầm tích của mảng đại dương.
Phần đáy sâu nhất có lẽ bằng phẳng do trầm tích lấp đầy.
Độ sâu mỗi hẻm vực khác nhau:
Hẻm vực Mariana sâu cực đại 11.034m.
Tonga 10.800m.
Philippin 10.055m
Các dải chấn tâm động đất ở Thái Bình Dương
Chuỗi hẻm vực vây quanh Thái Bình Dương là nơi tập trung đa số các chấn tâm động đất trên Trái Đất: hơn 80% chấn tâm nông ( độ sâu< 60km), 90% chấn tâm sâu vừa ( 60-300km) và hầu như toàn bộ trấn tâm sâu ( 300-700km).
Vành đai lửa Thái Bình Dương
Vành đai lửa Thái Bình Dương: cũng có quan hệ chặt chẽ với các hẻm vực; các núi lửa nằm bên trên bề mặt chấn tâm động đất bị nhấn chìm dưới thạch quyển.
Mối quan hệ giữa lý thuyết tách dãn đại dương với sự hình sống núi và hẻm sâu đại dương
Tốc độ dãn tách-tốc độ của các phần đáy đại dương dịch chuyển về hai phía-ước tính trung bình khoảng 1-10cm/1 năm.
Ranh giới tại các đới tách dãn, dung nham lấp đầy khoảng trống giữa hai mảng và trào ra bên ngoài, đẩy hai mảng ra xa hơn. Kết quả tạo ra sống núi giữa đáy đại dương hoặc quần đảo núi lửa.
Ranh giới tại các đới nén ép: xảy ra ở rìa bồn địa đại dương, thạch quyển bị nhấn chìm (dày khoảng 100km), kết cục bị mất hút vào quyển mềm - phần mềm của manti trên.
Một mảng chui xuống dưới mảng kia, tạo nên một đới hút chìm. Đới này xuất hiện ở nơi một bên là hẻm vực và một bên là dãy núi trẻ (ví dụ: ở gần bờ đông Thái Bình Dương), hoặc ở nơi một bên là hẻm vực và một bên là cung đảo, biển rìa (ví dụ: ở bờ tây Thái Bình Dương).
Tại đới hút chìm, sự di động của mảng chui xuống tạo ra lực ma sát khiến nhiệt độ tăng làm nóng chảy đá trầm tích ở dưới sâu, dẫn đến các biểu hiện mạnh mẽ của hoạt động địa chất nội sinh.
III. Tài nguyên khoáng sản biển.
1.Băng cháy khí hydrat nguồn năng lượng tương lai: Băng mê-tan là một hợp chất gồm khí mê-tan và nước. Hợp chất này tồn tại chủ yếu dưới đáy đại dương và lớp đất băng khổng lồ. Các nhà khoa học ước tính có thể có từ 500 - 2500 tỷ tấn dưới đáy biển .Tuy nhiên khí mê tan là 1 khí nhà kính rất mạnh.
khí mê-tan đang bị thoát ra ở nhiều nơi trong vùng Bắc Cực.
2. Dầu mỏ và khí thiên nhiên: là hỗn hợp phức tạp của hydrocacbon phát sinh trong chất hữu cơ sản sinh cả trong lục địa và trên biển. Phần nhiều bắt gặp ở thềm lục địa và sườn lục địa
3.Sa khoáng ven biển: là loại hình mỏ có chứa chủ yếu các khoáng vật nặng( vàng, kim cương, thiếc, titan..)thành tạo ở vùng bờ biển, các bãi cát biển, các đồi cát hoặc sườn bờ cát.Ngày nay người ta bắt gặp các sa khoáng cổ chôn vùi ở các sườn bờ ngầm, các thành tạo trầm tích cổ ở nhiều nơi trên thế giới.
4. Các mỏ kim loại dưới đáy biển sâu:Kết hạch sắt- mangan, phôtphorit… có trữ lượng lớn , tập trung chủ yếu ở đáy đại dương.
5.Vật liệu xây dựng:gồm các thành tạo bở rời như cát, cuôi, sỏi, đá, vỏ sò, vỏ ốc…phân bố chủ yếu ở ven biển ven đảo và trầm tích thềm lục địa.
6.Bùn khoáng : phân bố rộng rãi dưới đáy đại dương với trữ lượng lớn
chứa nhiều kim loại quý hiếm như vàng, bạc…
IV.Tài liệu tham khảo
Cơ sở tài nguyên và môi trường biển, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, 2005.
Địa chất địa mạo biển, Th.s Trịnh Lê Hà, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Floor of Ocean, Bruce.C.Heezen and Marie Tharp,1975.
World ocean floor Panorama, Bruce.C.Heezen and Maria Tharp, 1977.
World’s ocean, Duxury.
http://www.suprememastertv.com/au/bbs/board.php?bo_table=sos_video_au&wr_id=28&goto_url=
The end.
The end.
 








Các ý kiến mới nhất