Tìm kiếm Bài giảng
Địa lý 12 Hiện trang sản xuất lương thực ở việt nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Quang Huy (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:43' 17-10-2009
Dung lượng: 5.1 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Đinh Quang Huy (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:43' 17-10-2009
Dung lượng: 5.1 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
[c] Thuy Chau
Lớp 12
ịa Lý
D
Hiện trạng sản xuất lương thực ở Việt Nam…
Khái Quát
Ở nước ta, việc đẩy mạnh sản xuất lương thực có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm bảo đảm lương thực cho hơn 80 triệu dân, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi và nguồn hàng cho xuất khẩu nông nghiệp.
Sự phát triển của ngành sản xuất lương thực.
Từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, sản xuất lương thực đã đạt được những thành tựu khá vững chắc. Diện tích gieo trồng lúa cả năm không ngừng được mở rộng, từ 5,6 triệu ha (năm 1980), đến nay là hơn 7,6 triệu ha.
Diện tích lúa đông xuân được mở rộng, tới hơn 2,8 triệu ha. Lúa hè thu được đưa vào trồng đại trà. Hàng trăm nghìn ha lúa mùa được chuyển sang làm vụ hè thu, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long.
Sự phát triển của ngành sản xuất lương thực.
Các cánh đồng cho năng suất 7 tấn, 10 tấn (trên đất hai vụ lúa) đã trở nên phổ biến. Năng suất lúa cả năm liên tục tăng, từ 20 tạ/ha (năm 1980) lên hơn 40 tạ/ha (năm 1999), đặc biệt là nhờ năng suất cao và ổn định của lúa đông xuân và lúa hè thu.
Việc sản xuất các cây màu lương thực cũng có những tiến bộ, trong đó diện tích và năng suất ngô tăng lên nhiều.
Nguyên nhân: Nhờ phát triển thuỷ lợi và đưa vào các giống mới phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, đẩy mạnh việc thâm canh.
Việt Nam là nước xuất khẩu lúa gạo đứng hàng thứ 2 thế giới.
Sự phát triển của ngành sản xuất lương thực.
Mặc dù trong 8 năm qua, diện tích đất trồng lúa của Việt Nam giảm bình quân mỗi năm hơn 51.000 héc ta, nhường chỗ cho công nghiệp và đô thị hóa nhưng sản lượng lúa hàng năm vẫn xấp xỉ 35 triệu tấn trong cả giai đoạn 2001-2007, tức cao hơn 3,9 triệu tấn/năm so với giai đoạn 5 năm trước đó.
Những khó khăn.
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước, khí hậu của nước ta cho phép phát triển sản xuất lương thực phù hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp. Tuy Nhiên, thiên tai (bão lụt, hạn hán…) và sâu bệnh vẫn thường xuyên đe dọa sản xuất lương thực.
Tình trạng thiếu vốn, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu trong nước chưa đáp ứng nhu cầu, công nghiệp sau thu hoạch còn nhiều hạn chế. Hình thức canh tác, thu hoạch còn thô sơ, vẫn phụ thuộc nhiều vào sức người.
Những khó khăn.
Bên cạnh đó, đất nông nghiệp bị thu hồi và chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng tăng. Tính riêng năm 2007, diện tích lúa gieo trồng cũng đã giảm 125.000ha, giảm mạnh nhất là các vùng kinh tế trọng điểm.
=> Một trong những nguyên nhân chính đe dọa an ninh lương thực vì những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ đã được thay thế bằng các khu công nghiệp, đô thị.
=> Trong những năm gần đây sản xuất lương thực ở nước ta tăng mạnh. Theo thống kê, nếu năm 2000, tổng sản lượng lương thực các loại cả nước mới đạt 38,1 triệu tấn, thì đến năm 2008 đã tăng lên 52,4 triệu tấn. Tuy nhiên, hiện nay, dù là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, song vẫn còn 6,7% hộ thiếu đói, trong đó địa bàn nông thôn có tỷ lệ là 8,7%.
Kết luận.
=> Cần có thêm những biện pháp để phát triển ngành sản xuất lương thực. Từ đó đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của dân nhân. Hướng tới xóa đói
Phim 1
Phim 2
Nguồn tư liệu
Tư Liệu
báo Sài Gòn giải phóng
onthi.com
nguoidaibieu.com.vn
Hình Ảnh
google.com
Phim
clip.vn
Thành Viên
Powerpoint
Thùy Châu
Tư liệu
Thanh Tú
Quang Tuyến
Hình ảnh
Thế Anh
Ngọc Thùy
Phim
Thủy Tiên
Cảm ơn
thầy cô và các bạn
đã theo dõi
Nhóm 2 – lớp 11a2
thực hiện
---Hết---
Lớp 12
ịa Lý
D
Hiện trạng sản xuất lương thực ở Việt Nam…
Khái Quát
Ở nước ta, việc đẩy mạnh sản xuất lương thực có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm bảo đảm lương thực cho hơn 80 triệu dân, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi và nguồn hàng cho xuất khẩu nông nghiệp.
Sự phát triển của ngành sản xuất lương thực.
Từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, sản xuất lương thực đã đạt được những thành tựu khá vững chắc. Diện tích gieo trồng lúa cả năm không ngừng được mở rộng, từ 5,6 triệu ha (năm 1980), đến nay là hơn 7,6 triệu ha.
Diện tích lúa đông xuân được mở rộng, tới hơn 2,8 triệu ha. Lúa hè thu được đưa vào trồng đại trà. Hàng trăm nghìn ha lúa mùa được chuyển sang làm vụ hè thu, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long.
Sự phát triển của ngành sản xuất lương thực.
Các cánh đồng cho năng suất 7 tấn, 10 tấn (trên đất hai vụ lúa) đã trở nên phổ biến. Năng suất lúa cả năm liên tục tăng, từ 20 tạ/ha (năm 1980) lên hơn 40 tạ/ha (năm 1999), đặc biệt là nhờ năng suất cao và ổn định của lúa đông xuân và lúa hè thu.
Việc sản xuất các cây màu lương thực cũng có những tiến bộ, trong đó diện tích và năng suất ngô tăng lên nhiều.
Nguyên nhân: Nhờ phát triển thuỷ lợi và đưa vào các giống mới phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, đẩy mạnh việc thâm canh.
Việt Nam là nước xuất khẩu lúa gạo đứng hàng thứ 2 thế giới.
Sự phát triển của ngành sản xuất lương thực.
Mặc dù trong 8 năm qua, diện tích đất trồng lúa của Việt Nam giảm bình quân mỗi năm hơn 51.000 héc ta, nhường chỗ cho công nghiệp và đô thị hóa nhưng sản lượng lúa hàng năm vẫn xấp xỉ 35 triệu tấn trong cả giai đoạn 2001-2007, tức cao hơn 3,9 triệu tấn/năm so với giai đoạn 5 năm trước đó.
Những khó khăn.
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước, khí hậu của nước ta cho phép phát triển sản xuất lương thực phù hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp. Tuy Nhiên, thiên tai (bão lụt, hạn hán…) và sâu bệnh vẫn thường xuyên đe dọa sản xuất lương thực.
Tình trạng thiếu vốn, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu trong nước chưa đáp ứng nhu cầu, công nghiệp sau thu hoạch còn nhiều hạn chế. Hình thức canh tác, thu hoạch còn thô sơ, vẫn phụ thuộc nhiều vào sức người.
Những khó khăn.
Bên cạnh đó, đất nông nghiệp bị thu hồi và chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng tăng. Tính riêng năm 2007, diện tích lúa gieo trồng cũng đã giảm 125.000ha, giảm mạnh nhất là các vùng kinh tế trọng điểm.
=> Một trong những nguyên nhân chính đe dọa an ninh lương thực vì những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ đã được thay thế bằng các khu công nghiệp, đô thị.
=> Trong những năm gần đây sản xuất lương thực ở nước ta tăng mạnh. Theo thống kê, nếu năm 2000, tổng sản lượng lương thực các loại cả nước mới đạt 38,1 triệu tấn, thì đến năm 2008 đã tăng lên 52,4 triệu tấn. Tuy nhiên, hiện nay, dù là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, song vẫn còn 6,7% hộ thiếu đói, trong đó địa bàn nông thôn có tỷ lệ là 8,7%.
Kết luận.
=> Cần có thêm những biện pháp để phát triển ngành sản xuất lương thực. Từ đó đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của dân nhân. Hướng tới xóa đói
Phim 1
Phim 2
Nguồn tư liệu
Tư Liệu
báo Sài Gòn giải phóng
onthi.com
nguoidaibieu.com.vn
Hình Ảnh
google.com
Phim
clip.vn
Thành Viên
Powerpoint
Thùy Châu
Tư liệu
Thanh Tú
Quang Tuyến
Hình ảnh
Thế Anh
Ngọc Thùy
Phim
Thủy Tiên
Cảm ơn
thầy cô và các bạn
đã theo dõi
Nhóm 2 – lớp 11a2
thực hiện
---Hết---
 








Các ý kiến mới nhất