Bài 1. Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bac Cam Cap
Ngày gửi: 15h:33' 02-03-2012
Dung lượng: 6.2 MB
Số lượt tải: 83
Nguồn:
Người gửi: Bac Cam Cap
Ngày gửi: 15h:33' 02-03-2012
Dung lượng: 6.2 MB
Số lượt tải: 83
Số lượt thích:
0 người
Kính chào quý thầy cô và các bạn
(Tiếp)
Sinh viên : Hoàng Thị Minh
Lớp K50 ĐHSP ĐỊA LÝ
ĐỊA LÝ KINH TẾ- XÃ HỘI CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC
(Tiếp)
3. Kinh tế
3.1. Nông nghiệp
Điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nhưng do có trình độ cơ giới hóa, hóa học hóa cao, áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến nên Đức có nền nông nghiệp khá phát triển. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp so với các nước EU Đức chỉ kém Pháp, một số sản phẩm kém Italia. Nhưng ngành nông nghiệp của CHLB Đức chỉ giữ vai trò nhỏ bé trong nền kinh tế và đang bị suy giảm: năm 2003 đóng góp 1,1% GDP và có mức tăng trưởng -0,7%; năm 2007 đóng góp 0,8% GDP và có mức tăng trưởng 1%. Năm 1999 ngành này sử dụng 2,8% nguồn lao động. Các sản phẩm nông nghiệp của Đức đáp ứng nhu cầu trong nước, trong đó ngành chăn nuôi chiếm hơn 2/3 giá trị sản phẩm nông nghiệp. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Đức gồm: khoai tây, lúa mì, lúa mạch, củ cải đường, hoa quả, bắp cải, gia súc, gia cầm.
Nền nông nghiệp Đức có trình độ thâm canh cao nên năng suất cây trồng cao: lúa mì là 55 tạ/ha, khoai tây hơn 300 tạ/ha, củ cải đường 500 tạ/ha. 2/3 diện tích đất canh tác của nước này dành cho trồng cây lương thực, còn lại trồng cỏ cho chăn nuôi và trồng củ cải đường. Sản lượng ngũ cốc hằng năm đạt trên 30 triệu tấn. Lúa mì là cây quan trọng nhất, ngoài ra còn trồng các loại lúa mạch. Lúa mì chủ yếu trồng ở miền Tây-Nam, còn lúa mạch trồng ở miền Bắc.
CHLB Đức có đàn lợn gần 40 triệu con, đứng thứ nhất trong khối EU và đàn bò trên 20 triệu con.
Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu ở Đức
3. Kinh tế
3. Kinh tế
Chăn nuôi gia súc ở Đức
3.2.Công nghiệp
3. Kinh tế
Công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chính trong nền kinh tế của CHLB Đức. Tuy nhiên, do xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp ở Đức có xu hướng giảm : năm 1990 là 33%, năm 1999 là 28% (sử dụng 33,4% nguồn lao động), năm 2003 là 29,4%, năm 2007 là 29%. Năm 2007 ngành công nghiệp của Đức đạt được mức tăng trưởng là 2,1%.
Có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên, trình độ KHKT và nguồn lao động nên CHLB Đức là một trong những nước có vị trí hàng đầu trong phát triển công nghiệp và có nền công nghiệp hùng hậu.
Công nghiệp là ngành kinh tế chính của Đức, phát triển theo hướng đa ngành. Trong đó, những ngành công nghiệp truyền thống có xu hướng giảm sản lượng và giá trị sản lượng. Những ngành công nghiệp kỹ thuật cao được quan tâm phát triển. Nhiều sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp nặng của CHLB Đức đã nổi tiếng trên thị trường thế giới như: thép, ôtô, tàu biển, hóa chất, dụng cụ quang học, máy móc chính xác, sản phẩm điện tử, thiết bị điện, thiết bị máy, hóa dầu, tân dược, thực phẩm,...Tập trung tư bản và sản xuất công nghiệp đạt mức cao, nhất là các ngành: hóa chất, thép, sản xuất ôtô, chế tạo máy, vũ khí chiến tranh là đặc trưng trong sản xuất công nghiệp của Đức.
Năm 1999, Đức có 48.900nhà máy công nghiệp và thu hút 6,3 triệu lao động.
Cơ cấu ngành công nghiệp chủ yếu của Đức là các doanh nghiệp hạng trung. Chỉ có khoảng 1,9% các doanh nghiệp công nghiệp lớn trên 1.000 lao động, ¾ doanh nghiệp chỉ có dưới 100 lao động.
3. Kinh tế
Chính phủ liên bang khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới được thành lập phát triển. Luật mua trứng khoán, sáp nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/1/2002 góp phần tăng cường cạnh tranh và cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thuế, giảm thuế cho các doanh nghiệp, các chương trình hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp mới thành lập và mở rộng doanh nghiệp. Chính phủ lấy từ khoản tài sản đặc biệt (ERP) 5,5 tỷ Euro đẻ cấp tín dụng ưu đãi.
Công nghiệp năng lượng khai thác than đá tập trung chủ yếu ở vùng Rua, chiếm 4/5 sản lượng khai thác than toàn quốc.
3. Kinh tế
Dầu lửa trong cán cân năng lượng của Đức ngày càng tăng. Sản lượng dầu lửa khai thác của Đức ở trong nước chỉ khoảng 10 triệu tấn/năm, không đáp ứng đủ nhu cầu nên phải nhập nhiều.
Sản xuất gas tự nhiên của Đức năm 2005 là 19,9 tỷ m3 (tiêu thụ 96,84 tỷ m3/năm, xuất khẩu 9,42 tỷ m3/năm, nhập khẩu tỷ m3/năm). Lượng dự trữ gas tự nhiên năm 2006 của Đức là 246,5 tỷ m3.
Sản lượng điện năng ở Đức tăng khá nhanh, so với hồi đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, sản lượng điện năm 2005 của CHLB Đức lớn gấp 3 lần, từ 200 tỷ kwh so với trên 579,4 tỷ kwh và năm 2005 lượng điện: tiêu thụ 545,4 tỷ kwh, xuất khẩu 61,43 tỷ kwh, nhập khẩu 56,86 tỷ kwh. Sản xuất nhiệt điện chiếm 85% sản lượng, giữ vai trò ưu thế so với thủy điện và điện nguyên tử. Các nhà máy thủy điện lớn được xây dựng trên miền thượng lưu sông Rainơ và ven bờ sông Ddurnai.
CHLB Đức có ngành công nghiệp luyện kim đen khá phát triển, sản xuất thép có chất lượng tốt.
Trong công nghiệp luện kim màu, công nghiệp luyện nhôm phát triển nhất và dựa vào nguyên liệu nhập ngoại. Các nhà máy luyện nhôm lớn phân bố chủ yếu ở vùng Rainơ-Vetphali. Ngoài nhôm, Đức còn luyện đồng, chì, kẽm.
Công nghiệp chế tạo máy có vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp và nền kinh tế của CHLB Đức. Giá trị sản phẩm đứng thứ ba thế giới (sau Hoa Kỳ, Nhật), giá trị sản lượng và tỷ trọng trong xuất khẩu đứng đầu các ngành công ngiệp.
3. Kinh tế
Đức có số lượng ôtô chế tạo hằng năm khoảng 4 triệu chiếc (chủ yếu là xe con loại sang trọng dành cho giới thượng lưu), có số lượng đứng thứ ba thế giới, trên 50% số lượng ôtô sản xuất để xuất khẩu.
Xe hơi Mercedes-Benz
Công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử cũng là ngành được chú trọng phát triển, năm 1999 đạt giá trị xuất khẩu là 123,9 tỷ DM, chiếm 12% tổng giá trị xuất khẩu sau ngành sản xuất ôtô và hóa chất.
CHLB Đức hiện nay đứng đầu châu Âu và đứng thứ năm trên thế giới về đóng tàu biển. Các nhà máy cơ khí chế tạo máy phân bố nhiều ở vùng Rua, Tây Nam, ven biển(đóng tàu).
Ngành công nghiệp hóa chất của CHLB Đức được quan tâm phát triển nhờ vào nguồn nguyên liệu trong nước : than nâu, muối mỏ, muối kali, than đá và nguyên liệu nhập : dầu lửa, lưu huỳnh, pyrit, phôt pho.
Dệt và thực phẩm cũng là ngành công nghiệp truyền thống của Đức, trong đó ngành công nghiệp dệt phát triển hơn.
Ngành công nghệ bảo vệ môi trường là thế mạnh của Đức, năm 2000 ngành này chiếm 16,5% thị phần thế giới và đứng thứ hai (sau Hoa Kỳ).
3. Kinh tế
3.3.Dịch vụ
a. Giao thông vận tải-thông tin liên lạc
Đức có mạng lưới giao thông hiện đại và dày đặc, tổng chiều dài đường sắt và đường ôtô lớn so với các nước EU, với các đầu mối giao thông là Beclin, Bon, Kôn, Hămbuôc (2007).
-Đường không: có 530 sân bay lên thẳng các loại, 28 sân bay trực thăng, trong đó có 219 sân bay có đường bay được lát, máy bay lên xuống thuận tiện(38 sân bay có đường bay rộng từ 914 m-3074m và 181 sân bay có đường rộng dưới 914m).
Sân bay Berlin Tegel
Sân bay quốc tế Franz Josef Strauss
3. Kinh tế
-Đường sắt : Dài 48.215km, gồm 47.962km đường đạt tiêu chuẩn, khổ đường rộng 1,435m, trong đó 20.278km được điện hóa.
Magnetic Levitation Train
-Đường bộ : có 231.500km đường được trải nhựa, trong đó 12.400km đường cao tốc.
-Đường thủy : dài 7467km (sông Rainơ, Enxơ, Enbơ; kênh nối sang Danuyp với biển Bắc và biển Đen). Cảng sông lớn nhất là Hămbuôc.
Bên luồng cảng Hămbuôc
Đức có đội tàu biển trọng tải lớn gồm 382 tàu có trọng tải từ 1.000 GRT trở lên và 2.716 tàu đăng ký ở các nước khác.
Các hải cảng lớn của Đức là Brenmen, Bremenhaven, Duisbung, Hămbuôc,...
Cơ sở hạ tầng thông tin viễn thông của Đức có công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu rộng rãi của dân cư trong nước và quốc tế, gồm 51 trạm radio phát sóng AM, 787 trạm phát sóng FM, 4 trạm phát sóng ngắn, 373 trạm thu phát truyền hình.
-Số điện thoại cố định: 54,2 triệu.
-Số thuê bao di động : 84,3 triệu.
-Số người sử dụng Internet: 38,6 triệu.
b. Ngoại thương
Các hoạt động ngoại thương có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế-xã hội của CHLB Đức bởi công nghiệp nước này phụ thuộc nhiều vào các nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp trên thị trường thế giới.
Giá trị kim ngạch xuất-nhập khẩu của nước này đứng thứ hai thế giới (sau hoa kỳ). Đức là nước xuất siêu,giá trị xuất siêu của Đức ngày càng lớn.
3. Kinh tế
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu : máy móc, phương tiện giao thông, hóa chất, kim loại, hàng chế tác, thực phẩm, hàng dệt và thiết bị công nghệ thông tin.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu : máy móc và các phương tiện giao thông, hóa chất, thực phẩm, kim loại, hàng dệt.
c. Du lịch
Nước Đức có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, núi hồ xen kẽ và có nhiều công trình kiến trúc cổ và đặc sắc, kết cấu hạ tầng hoàn thiện, hiện đại, mức sống của người dân cao, chất lượng dịch vụ tốt. Đây là những điều kiện thuận lợi để ngành du lịch của nước này phát triển và đứng thứ chín trên thế giới về số lượt khách du lịch quốc tế trong nhiều năm. Từ năm 2004-2006, nước Đức đứng thứ 7 các nước trên thế giới về số lượt khách quốc tế đến. Năm 2006, Đức chiếm 3,6% thị trường khách du lịch quốc tế.
Tổng số lao động trực tiếp và gián tiếp làm việc cho ngành du lịch tới 2,8 triệu người. Hằng năm, ngành du lịch mang lại doanh thu hơn 10 tỷ USD cho nước Đức.
Cảm ơn quý thầy cô
và các bạn đã chú ý lắng nghe
(Tiếp)
Sinh viên : Hoàng Thị Minh
Lớp K50 ĐHSP ĐỊA LÝ
ĐỊA LÝ KINH TẾ- XÃ HỘI CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC
(Tiếp)
3. Kinh tế
3.1. Nông nghiệp
Điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nhưng do có trình độ cơ giới hóa, hóa học hóa cao, áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến nên Đức có nền nông nghiệp khá phát triển. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp so với các nước EU Đức chỉ kém Pháp, một số sản phẩm kém Italia. Nhưng ngành nông nghiệp của CHLB Đức chỉ giữ vai trò nhỏ bé trong nền kinh tế và đang bị suy giảm: năm 2003 đóng góp 1,1% GDP và có mức tăng trưởng -0,7%; năm 2007 đóng góp 0,8% GDP và có mức tăng trưởng 1%. Năm 1999 ngành này sử dụng 2,8% nguồn lao động. Các sản phẩm nông nghiệp của Đức đáp ứng nhu cầu trong nước, trong đó ngành chăn nuôi chiếm hơn 2/3 giá trị sản phẩm nông nghiệp. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Đức gồm: khoai tây, lúa mì, lúa mạch, củ cải đường, hoa quả, bắp cải, gia súc, gia cầm.
Nền nông nghiệp Đức có trình độ thâm canh cao nên năng suất cây trồng cao: lúa mì là 55 tạ/ha, khoai tây hơn 300 tạ/ha, củ cải đường 500 tạ/ha. 2/3 diện tích đất canh tác của nước này dành cho trồng cây lương thực, còn lại trồng cỏ cho chăn nuôi và trồng củ cải đường. Sản lượng ngũ cốc hằng năm đạt trên 30 triệu tấn. Lúa mì là cây quan trọng nhất, ngoài ra còn trồng các loại lúa mạch. Lúa mì chủ yếu trồng ở miền Tây-Nam, còn lúa mạch trồng ở miền Bắc.
CHLB Đức có đàn lợn gần 40 triệu con, đứng thứ nhất trong khối EU và đàn bò trên 20 triệu con.
Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu ở Đức
3. Kinh tế
3. Kinh tế
Chăn nuôi gia súc ở Đức
3.2.Công nghiệp
3. Kinh tế
Công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chính trong nền kinh tế của CHLB Đức. Tuy nhiên, do xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp ở Đức có xu hướng giảm : năm 1990 là 33%, năm 1999 là 28% (sử dụng 33,4% nguồn lao động), năm 2003 là 29,4%, năm 2007 là 29%. Năm 2007 ngành công nghiệp của Đức đạt được mức tăng trưởng là 2,1%.
Có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên, trình độ KHKT và nguồn lao động nên CHLB Đức là một trong những nước có vị trí hàng đầu trong phát triển công nghiệp và có nền công nghiệp hùng hậu.
Công nghiệp là ngành kinh tế chính của Đức, phát triển theo hướng đa ngành. Trong đó, những ngành công nghiệp truyền thống có xu hướng giảm sản lượng và giá trị sản lượng. Những ngành công nghiệp kỹ thuật cao được quan tâm phát triển. Nhiều sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp nặng của CHLB Đức đã nổi tiếng trên thị trường thế giới như: thép, ôtô, tàu biển, hóa chất, dụng cụ quang học, máy móc chính xác, sản phẩm điện tử, thiết bị điện, thiết bị máy, hóa dầu, tân dược, thực phẩm,...Tập trung tư bản và sản xuất công nghiệp đạt mức cao, nhất là các ngành: hóa chất, thép, sản xuất ôtô, chế tạo máy, vũ khí chiến tranh là đặc trưng trong sản xuất công nghiệp của Đức.
Năm 1999, Đức có 48.900nhà máy công nghiệp và thu hút 6,3 triệu lao động.
Cơ cấu ngành công nghiệp chủ yếu của Đức là các doanh nghiệp hạng trung. Chỉ có khoảng 1,9% các doanh nghiệp công nghiệp lớn trên 1.000 lao động, ¾ doanh nghiệp chỉ có dưới 100 lao động.
3. Kinh tế
Chính phủ liên bang khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới được thành lập phát triển. Luật mua trứng khoán, sáp nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/1/2002 góp phần tăng cường cạnh tranh và cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thuế, giảm thuế cho các doanh nghiệp, các chương trình hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp mới thành lập và mở rộng doanh nghiệp. Chính phủ lấy từ khoản tài sản đặc biệt (ERP) 5,5 tỷ Euro đẻ cấp tín dụng ưu đãi.
Công nghiệp năng lượng khai thác than đá tập trung chủ yếu ở vùng Rua, chiếm 4/5 sản lượng khai thác than toàn quốc.
3. Kinh tế
Dầu lửa trong cán cân năng lượng của Đức ngày càng tăng. Sản lượng dầu lửa khai thác của Đức ở trong nước chỉ khoảng 10 triệu tấn/năm, không đáp ứng đủ nhu cầu nên phải nhập nhiều.
Sản xuất gas tự nhiên của Đức năm 2005 là 19,9 tỷ m3 (tiêu thụ 96,84 tỷ m3/năm, xuất khẩu 9,42 tỷ m3/năm, nhập khẩu tỷ m3/năm). Lượng dự trữ gas tự nhiên năm 2006 của Đức là 246,5 tỷ m3.
Sản lượng điện năng ở Đức tăng khá nhanh, so với hồi đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, sản lượng điện năm 2005 của CHLB Đức lớn gấp 3 lần, từ 200 tỷ kwh so với trên 579,4 tỷ kwh và năm 2005 lượng điện: tiêu thụ 545,4 tỷ kwh, xuất khẩu 61,43 tỷ kwh, nhập khẩu 56,86 tỷ kwh. Sản xuất nhiệt điện chiếm 85% sản lượng, giữ vai trò ưu thế so với thủy điện và điện nguyên tử. Các nhà máy thủy điện lớn được xây dựng trên miền thượng lưu sông Rainơ và ven bờ sông Ddurnai.
CHLB Đức có ngành công nghiệp luyện kim đen khá phát triển, sản xuất thép có chất lượng tốt.
Trong công nghiệp luện kim màu, công nghiệp luyện nhôm phát triển nhất và dựa vào nguyên liệu nhập ngoại. Các nhà máy luyện nhôm lớn phân bố chủ yếu ở vùng Rainơ-Vetphali. Ngoài nhôm, Đức còn luyện đồng, chì, kẽm.
Công nghiệp chế tạo máy có vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp và nền kinh tế của CHLB Đức. Giá trị sản phẩm đứng thứ ba thế giới (sau Hoa Kỳ, Nhật), giá trị sản lượng và tỷ trọng trong xuất khẩu đứng đầu các ngành công ngiệp.
3. Kinh tế
Đức có số lượng ôtô chế tạo hằng năm khoảng 4 triệu chiếc (chủ yếu là xe con loại sang trọng dành cho giới thượng lưu), có số lượng đứng thứ ba thế giới, trên 50% số lượng ôtô sản xuất để xuất khẩu.
Xe hơi Mercedes-Benz
Công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử cũng là ngành được chú trọng phát triển, năm 1999 đạt giá trị xuất khẩu là 123,9 tỷ DM, chiếm 12% tổng giá trị xuất khẩu sau ngành sản xuất ôtô và hóa chất.
CHLB Đức hiện nay đứng đầu châu Âu và đứng thứ năm trên thế giới về đóng tàu biển. Các nhà máy cơ khí chế tạo máy phân bố nhiều ở vùng Rua, Tây Nam, ven biển(đóng tàu).
Ngành công nghiệp hóa chất của CHLB Đức được quan tâm phát triển nhờ vào nguồn nguyên liệu trong nước : than nâu, muối mỏ, muối kali, than đá và nguyên liệu nhập : dầu lửa, lưu huỳnh, pyrit, phôt pho.
Dệt và thực phẩm cũng là ngành công nghiệp truyền thống của Đức, trong đó ngành công nghiệp dệt phát triển hơn.
Ngành công nghệ bảo vệ môi trường là thế mạnh của Đức, năm 2000 ngành này chiếm 16,5% thị phần thế giới và đứng thứ hai (sau Hoa Kỳ).
3. Kinh tế
3.3.Dịch vụ
a. Giao thông vận tải-thông tin liên lạc
Đức có mạng lưới giao thông hiện đại và dày đặc, tổng chiều dài đường sắt và đường ôtô lớn so với các nước EU, với các đầu mối giao thông là Beclin, Bon, Kôn, Hămbuôc (2007).
-Đường không: có 530 sân bay lên thẳng các loại, 28 sân bay trực thăng, trong đó có 219 sân bay có đường bay được lát, máy bay lên xuống thuận tiện(38 sân bay có đường bay rộng từ 914 m-3074m và 181 sân bay có đường rộng dưới 914m).
Sân bay Berlin Tegel
Sân bay quốc tế Franz Josef Strauss
3. Kinh tế
-Đường sắt : Dài 48.215km, gồm 47.962km đường đạt tiêu chuẩn, khổ đường rộng 1,435m, trong đó 20.278km được điện hóa.
Magnetic Levitation Train
-Đường bộ : có 231.500km đường được trải nhựa, trong đó 12.400km đường cao tốc.
-Đường thủy : dài 7467km (sông Rainơ, Enxơ, Enbơ; kênh nối sang Danuyp với biển Bắc và biển Đen). Cảng sông lớn nhất là Hămbuôc.
Bên luồng cảng Hămbuôc
Đức có đội tàu biển trọng tải lớn gồm 382 tàu có trọng tải từ 1.000 GRT trở lên và 2.716 tàu đăng ký ở các nước khác.
Các hải cảng lớn của Đức là Brenmen, Bremenhaven, Duisbung, Hămbuôc,...
Cơ sở hạ tầng thông tin viễn thông của Đức có công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu rộng rãi của dân cư trong nước và quốc tế, gồm 51 trạm radio phát sóng AM, 787 trạm phát sóng FM, 4 trạm phát sóng ngắn, 373 trạm thu phát truyền hình.
-Số điện thoại cố định: 54,2 triệu.
-Số thuê bao di động : 84,3 triệu.
-Số người sử dụng Internet: 38,6 triệu.
b. Ngoại thương
Các hoạt động ngoại thương có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế-xã hội của CHLB Đức bởi công nghiệp nước này phụ thuộc nhiều vào các nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp trên thị trường thế giới.
Giá trị kim ngạch xuất-nhập khẩu của nước này đứng thứ hai thế giới (sau hoa kỳ). Đức là nước xuất siêu,giá trị xuất siêu của Đức ngày càng lớn.
3. Kinh tế
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu : máy móc, phương tiện giao thông, hóa chất, kim loại, hàng chế tác, thực phẩm, hàng dệt và thiết bị công nghệ thông tin.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu : máy móc và các phương tiện giao thông, hóa chất, thực phẩm, kim loại, hàng dệt.
c. Du lịch
Nước Đức có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, núi hồ xen kẽ và có nhiều công trình kiến trúc cổ và đặc sắc, kết cấu hạ tầng hoàn thiện, hiện đại, mức sống của người dân cao, chất lượng dịch vụ tốt. Đây là những điều kiện thuận lợi để ngành du lịch của nước này phát triển và đứng thứ chín trên thế giới về số lượt khách du lịch quốc tế trong nhiều năm. Từ năm 2004-2006, nước Đức đứng thứ 7 các nước trên thế giới về số lượt khách quốc tế đến. Năm 2006, Đức chiếm 3,6% thị trường khách du lịch quốc tế.
Tổng số lao động trực tiếp và gián tiếp làm việc cho ngành du lịch tới 2,8 triệu người. Hằng năm, ngành du lịch mang lại doanh thu hơn 10 tỷ USD cho nước Đức.
Cảm ơn quý thầy cô
và các bạn đã chú ý lắng nghe
 








Các ý kiến mới nhất