Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đôi mới PPDH

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Lâm
Ngày gửi: 22h:44' 27-09-2008
Dung lượng: 157.0 KB
Số lượt tải: 57
Số lượt thích: 0 người
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG
1. Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học?
a. Về mặt lí luận
Luật Giáo dục, Nghị quyết 40/2000/QH 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Định hướng chung về đổi mới PPDH là:
- Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của HS.
- Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG
b. Về mặt thực tiễn
- Tâm lí xã hội, thi cử làm cho học sinh (HS) không quan tâm học đều các môn học.
- Giáo viên tham gia dạy nghề phổ thông được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau , chưa tạo được môi trường học tập tích cực cho HS, làm HS trở nên thụ động, ít hứng thú với việc học tập, khả năng tự học, vận dụng kiến thức đã học được vào thực tiễn yếu.
- Đòi hỏi của xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học- công nghệ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG
2. Quan điểm chung về đổi mới PPDH môn giáo dục nghề phổ thông
- Đổi mới PPDH phải phù hợp với xu thế chung đổi mới PPDH của cấp học, bậc học.
- Đổi mới PPDH phải xuất phát từ mục tiêu và hướng tới mục tiêu, chương trình, nội dung SGK mới của hoạt động giáo dục nghề phổ thông .
- Đổi mới PPDH phải tính đến điều kiện dạy học thực tế ở các trung tâm KTTH-HN và các trường trung học phổ thông.
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
a. Thay đổi cách xác định mục tiêu
- Mục tiêu là căn cứ để xây dựng tiêu chí đánh giá
- Mục tiêu xác định cụ thể những yêu cầu cần đạt của đầu ra
Thay đổi cách xác định mục tiêu bài học như thế nào?
- Xác định mục tiêu bài học cho HS
- Mục tiêu phải được bắt đầu bằng động từ xác định để có thể kiểm chứng và đánh giá được
+ Mục tiêu về kiến thức: Thường được thể hiện là biết và hiểu được. Nếu ở mức độ “ biết”, HS phải có khả năng nêu được, trình bày lại được, nhớ lại được, mô tả được, liệt kê được... Nếu ở mức độ “ hiểu” , HS có khả năng phân tích được, xác định được, giải thích được, minh hoạ được
+ Mục tiêu về kĩ năng thường được thể hiện bằng những động từ ở đầu câu như: làm được.......; sử dụng được....; Nhận biết, phân biệt được....; áp dụng được....; giải quyết được...; lựa chọn được... thực hiện được......; thiết kế được....( nên ghi cụ thể mức độ đạt được).
+ Mục tiêu về thái độ: nên thể hiện bằng các động từ ở đầu câu như quan tâm đến......; đánh giá được.....
b. Thay đổi cách thiết kế kế hoạch bài học
Quá trình dạy học gồm hai giai đoạn cơ bản là:
- Giai đoạn thiết kế : có tác dụng định hướng cho thi công, được thể hiện trong bản thiết kế kế hoạch bài học.
- Giai đoạn thi công : triển khai bản thiết kế vào quá trình tổ chức giờ học
- Phần mở đầu: bao gồm các nội dung về thời gian học tập, tên môn học, tên bài học và thời gian dành cho bài học.
- Mục tiêu bài học: bao gồm mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Các điều kiện thực hiện kế hoạch bài học: bao gồm các phương tiện dạy học GV và HS cần chuẩn bị để thực hiện bài học đạt mục tiêu đã xác định.
- Tiến trình giờ học: ghi rõ các bước, các hoạt động được thực hiện trong giờ học.
Thông thường, tiến trình giờ học được cấu trúc như sau:
+ Giới thiệu bài
+ Các hoạt động dạy học (hay còn gọi là phần bài mới) : Thể hiện cụ thể các nội dung chủ yếu của bài học, cách sử dụng các phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiện dạy học nhằm đạt được mục tiêu bài học.
Thay đổi cách thiết kế các hoạt động theo hướng lấy HS làm trung tâm: lấy thiết kế hoạt động của HS làm cơ sở để xác định các hoạt động của GV
+ Kết thúc

Cấu trúc chung của kế hoach bài học
* Một số mẫu kế hoạch bài học(Dïng ®Ó tham kh¶o)
1. Kế hoạch bài học soạn theo cách chia làm 3 cột
2. Kế hoạch bài học soạn theo cách chia làm 4 cột
3. Kế hoạch bài học soạn theo cách chia làm 5 cột
4. Kế hoach bài học soạn theo cách không chia cột
- Hoạt động 1 (ghi rõ tên của hoạt động, bắt đầu bằng động từ)
Mục tiêu (của hoạt động 1)
Cách tiến hành ( hoạt động 1)
- Hoạt động 2
Mục tiêu (của hoạt động 2)
Cách tiến hành (hoạt động 2)
- …
2. Mục tiêu và phương pháp dạy học đặc trưng của HĐGD nghề phổ thông
Mục tiêu chủ yếu của dạy học nghề phổ thông là hình thành kỹ năng kĩ thuật cho HS, bao gồm các kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt.
Kĩ năng kĩ thuật là những thuộc tính khác nhau của nhân cách, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công những hoạt động kĩ thuật. Kĩ năng được hình thành qua huấn luyện và luyện tập.
Kĩ năng là điều kiện cần thiết để hoàn thành một cách có ý thức hoạt động lao động.
Điều kiện:
- HS phải hiểu rõ mục đích, nhiệm vụ và phương thức đạt đến mục đích.
- HS phải có kiến thức cần thiết tương ứng với nhiệm vụ.
- Có sự phù hợp giữa PPDH với đặc điểm của kĩ năng.
- Luyện tập đủ sức, phức tạp hoá dần nhiệm vụ và đảm bảo tính hiệu quả của huấn luyện.
- Đánh giá kịp thời và khách quan.
- Chủ thể phải tích cực hoạt động.

Các kĩ năng được hình thành qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1- Hướng dẫn ban đầu nhằm tạo hình ảnh, biểu tượng vận động và chuyển chúng thành động hình vận động về công việc cần thực hiện.
Giai đoạn 2 - Giai đoạn luyện tập thực hành nhằm hình thành kỹ năng ban đầu.
Giai đoạn 3 - Giai đoạn kết thúc và đánh giá kết quả thực hành.
Phương pháp dạy học đặc trưng của môn giáo dục nghề phổ thông là phương pháp thực hành.

a. Nhóm phương pháp thực hành:
Phương pháp thực hành là phương pháp dạy học do giáo viên tổ chức nhằm giúp học sinh hiểu rõ và vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành rèn kĩ năng .
Nhóm phương pháp thực hành, gồm:
Phương pháp làm mẫu là phương pháp dạy học trong đó giáo viên biểu diễn các thao tác kĩ thuật kết hợp với giải thích nhằm giúp học sinh hiểu rõ cách thực hiện từng thao tác kĩ thuật trong quy trình kĩ thuật hoặc hoàn thành công việc đạt kết quả.
Phương pháp này thường được sử dụng khi tiến hành hướng dẫn ban đầu
Phương pháp huấn luyện- luyện tập: là phương pháp dạy học trong đó học sinh thực hiện lặp đi lặp lại các thao tác dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên nhằm hình thành kĩ năng kĩ thuật.
Phương pháp này thường được sử dụng khi tiến hành hướng dẫn thường xuyên trong giai đoạn tổ chức cho HS thực hành


- Làm cho HS hiểu rõ mục đích, yêu cầu của bài thực hành.
- Làm cho HS có được hình ảnh, biểu tượng rõ ràng, đầy đủ về sản phẩm phải hoàn thành bằng cách trình diễn vật mẫu kết hợp các PPDH khác như giải thích, quan sát, vấn đáp…
- Trong quá trình hướng dẫn thao tác kĩ thuật, bản thân GV phải là người thực hiện thành thạo các thao tác trong quy trình kĩ thuật.
- Dụng cụ, vật liệu sử dụng để hướng dẫn thao tác kĩ thuật phải điển hình, có kích thước đủ lớn
- Khi hướng dẫn thao tác kĩ thuật cần hướng dẫn cách thực hiện các thao tác theo đúng quy trình kĩ thuật và luôn có sự liên hệ kiến thức, kĩ năng đã học với kiến thức, kĩ năng mới
- Tập trung hướng dẫn những thao tác mới, khó. Có thể hướng dẫn 2 lần
Kĩ thuật sử dụng phương pháp thực hành
- Luôn đặt các câu hỏi để HS động não suy nghĩ và phát triển khả năng sáng tạo trong quá trình GV hướng dẫn kĩ thuật để HS phát hiện lỗi, giải thích lỗi và đưa ra giải pháp khắc phục lỗi.
- Trước khi tổ chức thực hành, giáo viên cần tổ chức cho HS thực hiện thử những thao tác kĩ thuật chủ yếu trong quy trình
- Chú ý nhắc nhở an toàn lao động và kiểm tra sự chuẩn bị vật liệu, dụng cụ thực hành của học sinh để đảm bảo cho mọi học sinh đều tham gia được hoạt động thực hành.
- Vị trí thực hành phải có đầy đủ ánh sáng và thuận lợi cho việc thực hiện các thao tác kĩ thuật.
- Có thể tổ chức thực hành theo nhóm hoặc thực hành cá nhân.
- Cần dành thời gian thích hợp để tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả và đánh giá kết quả thực hành. Khi đánh giá, cần kết hợp tự đánh giá của HS với đánh giá của GV, kết hợp đánh giá với nhận xét và đổi mới phương pháp đánh giá.
b. Phương pháp dùng ngôn ngữ
- Phương pháp dùng ngôn ngữ là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng ngôn ngữ (lời nói, kí hiệu, quy ước kĩ thuật) để giúp học sinh tiếp thu kiến thức và hình thành thái độ theo mục tiêu đã xác định.
- Nhóm phương pháp dùng ngôn ngữ gồm nhiều phương pháp như giải thích - minh hoạ, giảng giải, thuyết trình, đàm thoại (vấn đáp), nêu vấn đề …
- PPDH dùng ngôn ngữ được áp dụng trong hầu hết các bước lên lên, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc giờ học.
Sử dụng PPDH dùng ngôn ngữ như thế nào trong dạy học tích cực?
- Ngôn ngữ phải trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu. Ngôn ngữ kĩ thuật phải rõ ràng, chính xác
- Diễn đạt thong thả, tính cảm. Giải thích ngắn gọn, rõ ràng. Những chỗ khó phải giảng với tốc đọ chậm và kĩ hơn.
- Luôn kết hợp chặt chẽ với việc sử dụng các phương pháp dạy học khác. Tránh kéo dài thời gian sử dụng đơn điệu phương pháp dùng ngôn ngữ trong giờ học, nhất là đối với những bài học dạng lý thuyết.
- Khi sử dụng phương pháp đàm thoại, phải lấy kiến thức, khái niệm, hiểu biết HS đã có làm xuất phát điểm.

c. Phương pháp dạy học đàm thoại
* Khái niệm: Phương pháp đàm thoại là PPDH dùng ngôn ngữ, trong đó GV khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để HS trả lời. Qua đó giúp HS sáng tỏ những vấn đề mới hoặc tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm tích luỹ được trong cuộc sống nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá tri thức đã tiếp thu được và kiểm tra, đánh giá được mức độ lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS.
- Phương pháp đàm thoại thường được sử dụng khi:
+ Cần hồi phục những kiến thức, kĩ năng liên quan đến bài học
+ GV muốn tạo cơ hội cho HS đề xuất, lựa chọn phương án (vật liệu, phương tiện, điều kiện) hành động hoặc tự phát hiện ra mối liên hệ giữa kiến thức, kỹ năng đã có với kiến thức, kĩ năng trong bài học mới.
+ GV muốn biết được mặt bằng trình độ hiện có và nhu cầu cụ thể của HS đối với bài học.
* Vì sao phương pháp đàm thoại được sử dụng rộng rãi trong dạy học?
- Kích thích HS học tập tích cực, độc lập; bồi dưỡng hứng thú học tập, làm cho không khí học tập sôi nổi.
- Bồi dưỡng cho người học năng lực diễn đạt những vấn đề khoa học bằng lời nói
- Giúp GV thường xuyên thu được những tín hiệu ngược từ phía HS để có sự điều chỉnh hoạt động dạy học kịp thời.
Hạn chế: dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch lên lớp hoặc biến thành cuộc tranh luận tay đôi giữa GV với HS, giữa HS với HS.
* Sử dụng PPDH đàm thoại như thế nào để phát huy tính tích cực của HS ?
- Chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi, tập trung vào nội dung trọng tâm của bài học. Đối với những câu hỏi khó, nên có câu hỏi phụ gợi ý để học sinh trả lời được câu hỏi.
- Câu hỏi, vấn đề đặt ra sao cho HS chấp nhận mối liên hệ đó một cách tự nhiên, lôgíc, kích thích trí tò mò, ham hiểu biết của các em. Câu hỏi dễ hoặc khó quá đều không có tác dụng thu hút sự chú ý của HS.
- Hệ thống câu hỏi phải có nhiều dạng khác nhau để HS được trình bày những hiểu biết, kinh nghiệm, tri thức đã có hoặc nêu những phát hiện, tìm tòi hoặc so sánh, phân tích, giải thích các hiện tượng trong thực tiễn.
- Câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu, nâng dần mức độ khó. Sau khi đặt câu hỏi, cần dành thời gian hợp lý cho học sinh suy nghĩ tìm lời giải đáp.
- Khi HS trình bày một vấn đề nào đó hoặc trả lời câu hỏi, GV cần chú ý lắng nghe và có nhận xét, động viên kịp thời những ý tưởng, đề xuất của HS (cho dù chưa phải là câu trả lời, phương án đúng nhất).
- Chú ý tạo dựng, duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực giữa thày và trò trong quá trình dạy học.
d. Phương pháp trực quan
* Khái niệm: Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan như tranh ảnh, mô hình, mẫu vật… nhằm giúp học sinh có được biểu tượng đúng về sự vật và tiếp thu kiến thức, kĩ năng theo mục tiêu bài học một cách thuận lợi, dễ dàng.
Nhóm phương pháp trực quan bao gồm phương pháp trình bày trực quan và phương pháp quan sát.
* Sử dụng PPDH trực quan như thế nào để phát huy tính tích cực của HS?
- Chuẩn bị đầy đủ phương tiện trực quan; phương tiện trực quan phải đảm bảo tính thẩm mĩ , phản ánh đúng yêu cầu kĩ thuật và có đủ độ lớn để học sinh quan sát rõ.
- Kết hợp sử dụng nhiều phương tiện trực quan trong giờ học như tranh, ảnh, bảng biểu, mẫu vật, tranh quy trình, các hình ảnh trong sách giáo khoa…Đặc biệt, cần tăng cường sử dụng các phương tiện nghe nhìn hoặc phần mềm dạy học trong các giờ học lý thuyết cũng như khi hướng dẫn thao tác kĩ thuật.
- Tăng cường kết hợp sử dụng với phương pháp dùng ngôn ngữ, nhất là phương pháp đàm thoại nhằm khai thác các nội dung chứa đựng trong phương tiện trực quan và phát huy tính tích cực của học sinh.
- Phương tiện trực quan phải được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ và gây hứng thú học tập cho học sinh. Khi trình bày phương tiện trực quan, giáo viên cần tìm vị trí thích hợp để học sinh cả lớp đều quan sát được.
e. Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
* Khái niệm: Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là phương pháp dạy học trong đó học sinh được tổ chức thành các nhóm để thảo luận, trao đổi và hợp tác với nhau nhằm hoàn thành công việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
* Trường hợp áp dụng:
- Khi giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để tìm tòi, phát hiện, phân tích, minh hoạ cho kiến thức chủ yếu của bài học lý thuyết
- Khi tổ chức hoạt động thực hành.
Cấu tạo của một hoạt động nhóm

1. Làm việc chung cả lớp
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
2. Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi, thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện (hoặc phân công) trình bày kết quả làm việc theo nhóm
3. Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho phần tiếp theo
Làm thế nào để phát huy được hiệu quả của phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ?
- Chuẩn bị đầy đủ yêu cầu, nội dung làm việc theo nhóm. Nếu định tổ chức cho học sinh thảo luận, giáo viên cần chuẩn bị câu hỏi hoặc vấn đề thảo luận trong bài học.
- Nhiệm vụ giao cho nhóm phải rõ ràng, cụ thể. Nếu tổ chức cho học sinh thảo luận, giáo viên cần chuẩn bi phiếu học tập phát cho các cá nhân, nhóm.
- Tạo điều kiện, khuyến khích, động viên học sinh trình bày kết quả hoạt động của nhóm. Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, tổng hợp để đi đến thống nhất các ý kiến.
f. Dạy học theo dự án.
Khái niệm: Là cách dạy trong đó HS (hoặc từng nhóm) được giao nhiệm vụ tổng hợp từ xác định mục tiêu, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra và tự điều chỉnh quá trình thực hiện, đánh giá kết quả sản phẩm... của một công viêc nào đó theo nhiệm vụ môn học. Đây là kiểu dạy học có hiệu quả nhất trong việc phát huy tính tích cực của HS.
Các bước dạy học theo dự án
 1. Giáo viên cung cấp (vừa đủ) những thông tin ban đầu có liên quan đến mục tiêu và các nhiệm vụ cho từng nhóm HS.
2. HS lập kế hoạch
3. HS chọn phương án hành động
4. HS thực hiện kế hoạch theo phương án đã chọn
5. Tự đánh giá của HS và đánh giá của GV
6. Rút kinh nghiệm và định hướng tiếp cho các hoạt động khác
g. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề.

Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở phải vượt qua.
* Các mức độ của dạy học nêu và giải quyết vấn đề

Mức 1 : GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề . HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc của HS.
Mức 2 : GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề . HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV và HS cùng đánh giá kết quả làm việc của HS.
Mức 3 : GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề . GV và HS cùng đánh giá kết quả làm việc của HS.
Mức 4 : HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết . HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.
Cấu trúc của một bài học (hoặc một phần trong bài học) theo dạy học dạy- học nêu và giải quyết vấn đề:

1.Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề.
- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
2.Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất cách giải quyết
- Lập kế hoạch giải quyết
- Thực hiện kế hoạch giải quyết
3.Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới.

3. Sử dụng và khai thác các phương tiện dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Khái niệm: Phương tiện dạy học (PTDH) là những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Nó còn là nguồn tri thức phong phú để HS lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng (ví dụ như các vật thật, mô hình, hình vẽ mô phỏng đối tượng...)
* Vai trò
- Đảm bảo cung cấp được các thông tin chủ yếu về các hiện tượng, sự vật liên quan đến bài học.
- Làm tăng hứng thú học tập của HS
- Đảm bảo tính trực quan, tạo cho HS khả năng tiếp cần nội dung bài học
- Tạo điều kiện để mở rộng nội dung SGK
- Tạo điều kiện để HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo.
Mục tiêu chủ yếu của dạy học nghề phổ thông là hình thành một số kĩ năng kĩ thuật của nghề và góp phần hướng nghiệp cho HS. Vì vậy, phương tiện dạy học đóng vai trò vô cùng quan trọng
* Sử dụng PTDH như thế nào để phát huy tính tích cực học tập của HS?
- Khai thác tốt kênh hình trong SGK
- Thực hiện đúng các nguyên tắc sử dụng PTDH (đúng lúc, đúng chỗ, đủ cường độ).
- Sử dụng các Graph nội dung dạy học (sơ đồ mô tả một cách trực quan về cấu trúc nội dung và mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức của bài dạy), nhất là các sơ đồ khối, sơ đồ nguyên lý chức năng của các đối tượng kỹ thuật, sơ đồ hệ thống hoá kiến thức ở các bài, chương, phần.
- Kết hợp sử dụng nhiều PPDH khi sử dụng phương tiện dạy học, đặc biệt là PPDH vấn đáp, thực hành kĩ thuật nhằm khai thác tối đa hiệu quả của các phương tiện dạy học.
4. Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả dạy học nghề phổ thông:
Về mặt lý luận:
- Đánh giá liên quan chặt chẽ với cách dạy và cách học. Đánh giá như thế nào thì cách dạy và cách học sẽ như thế đó
- Đánh giá có tác dụng thúc đẩy động cơ học tập của người học, khuyến khích người học tăng cường tham gia vào các hoạt động học tập để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành những năng lực cần thiết theo mục tiêu của bậc học, cấp học.
- Đánh giá là căn cứ để điều chỉnh các yếu tố khác của quá trình dạy học cho phù hợp.
Về mặt thực tiễn
- Nhận thức đối với hoạt động dạy học nghề PT
- Mục đích chủ yếu của việc tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập nghề phổ thông là đảm bảo đủ số điểm theo qui định và xem khả năng học thuộc bài, kĩ năng thực hành của học sinh đạt đến mức nào. Hầu hết giáo viên không chú ý phân tích, xử lý kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá đơn điệu, chủ yếu là tự luận và quan sát. Vì vậy nội dung kiểm tra không thể bao hàm được các hợp phần nội dung chương trình mà chỉ tập trung vào kiểm tra, đánh giá một số nội dung chủ yếu.
- Nội dung của các đề kiểm tra chủ yếu là nhắc lại các kiến thức đã học theo kiểu học thuộc lòng. ít có câu hỏi vận dụng kiến thức và phát triển tính tích cực, sáng tạo của HS
- Không có sự phối hợp giữa đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh, giưã đánh giá với nhận xét
- Việc xây dựng bộ công cụ đánh giá cho hoạt động giáo dục nghề chưa được quan tâm.
* Một số phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS
1. Phương pháp kiểm tra vấn đáp
Kiểm tra vấn đáp là phương pháp thu thập thông tin bằng việc tương tác hỏi- đáp giữa thày và trò, trong đó giáo viên là người đặt câu hỏi, học sinh độc lập trả lời nhằm thu thập thông tin từ học sinh.
Ưu điểm :
- GV dễ dàng biết được mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng của HS.
- HS rèn luyện được khả năng diễn đạt và tính tự tin qua trình bày những hiểu, biết của mình.
Nhược điểm:
Thường mất nhiều thời gian, số lượng học sinh được tham gia kiểm tra, đánh giá ít. HS dễ rơi vào tình trạng bị động khi trả lời các câu hỏi do GV đặt ra.
2.Phương pháp kiểm tra viết
Phương pháp này được sử dụng nhằm kiểm tra đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu về kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức đã học của HS thông qua việc yêu cầu HS giải thích, chứng minh cơ sở khoa học, nguyên lý kĩ thuật của những biện pháp kĩ thuật, qui trình công nghệ được ứng dụng trong thực tiễn
Phương pháp kiểm tra viết bao gồm phương pháp trắc nghiệm tự luận và phương pháp trắc nghiệm khách quan (Test ).
2.1. Phương pháp trắc nghiệm tự luận được sử dụng khi cần yêu cầu học sinh phân tích,giải thích, chứng minh một vấn đề nào đó trong nội dung dạy học.
2.2.Phương pháp trắc nghiệm khách quan là phương pháp đánh giá được áp dụng khi cần biết khả năng tái hiện, ghi nhớ kiến thức và khả năng suy luận, phán đoán các tình huống của học sinh.
Ưu điểm: Cho phép giáo viên kiểm tra được kiến thức, kĩ năng của học sinh theo tiêu chí đã xác định trên phạm vi rộng trong một thời gian ngắn.
Các loại trắc nghiệm khách quan
+ Trắc nghiệm đúng - sai: Học sinh lựa chọn 1 trong 2 câu trả lời (đúng hoặc sai).
+ Trắc nghiệm điền khuyết: Học sinh điền vào chỗ trống theo yêu cầu của đề kiểm tra.
+ Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi: Cho hai nhóm đối tượng sắp xếp tách rời nhau. Học sinh phải nối một đối tượng của nhóm thứ nhất với một đối tượng thích hợp của nhóm thứ hai theo yêu cầu của đề .
+ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Loại trắc nghiệm này có 2 phần là phần câu hỏi và phần trả lời. Trong phần trả lời có đưa ra nhiều câu trả lời, thường là 3 hoặc 4 câu trả lời nhưng trong đó chỉ có 1 câu trả lời đúng nhất, còn các câu khác là sai hoặc không chính xác. Học sinh sẽ lựa chọn 1 câu trả lời đúng .
+ Trắc nghiệm câu trả lời ngắn: Đề ra câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời ngắn.
- Tăng cường các câu hỏi có yêu cầu vận dụng tổng hợp, giải quyết những tình huống thực tế có liên quan đến nội dung học tập và phù hợp với khả năng của HS.
- Sau mỗi bài kiểm tra cần có sự nhận xét, đánh giá cụ thể của GV về kết quả của từng HS. Cố gắng chỉ ra được sự thành công, nguyên nhân của sự chưa thành công của các em.
3. Phương pháp quan sát: Phương pháp này thường được áp dụng trong đánh giá kết quả thực hành
Đặc thù của hoạt động giáo dục nghề phổ thông là nội dung thực hành chiếm một tỉ lệ cao trong kế hoạch dạy học và đóng vai trò quyết định trong việc hoàn thành mục tiêu môn học.Vì vậy, đánh giá kĩ năng thực hành bằng phương pháp quan sát là một yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo yêu cầu toàn diện.
Sau đây là các tiêu chí để đánh giá kết quả thực hành bằng phương pháp quan sát
*Tiêu chí 1: Chuẩn bị vật liệu và bố trí, sắp xếp dụng cụ thực hành đúng yêu cầu, hợp lý, an toàn, tiết kiệm: (1 điểm)
Trong chương trình nghề phổ thông có nhiều bài thực hành HS tham gia chuẩn bị vật liệu, dụng cụ thực hành. Đối với những bài này, GV đánh giá tiêu chí 1 trên 2 cơ sở chủ yếu sau:
- HS chuẩn bị đầy đủ vật liệu, dụng cụ thực hành
- Bố trí, sử dụng vật liệu, dụng cụ thực hành hợp lý, an toàn tiết kiệm
- Còn với những bài HS không phải tham gia chuẩn bị dụng cụ, vật liệu thực hành, GV đánh giá tiêu chí 1 trên cơ sở quan sát cách bố trí, sắp xếp, sử dụng vật liệu, dụng cụ thực hành của HS trong giờ học
*Tiêu chí 2: Thực hiện đúng thao tác, quy trình kĩ thuật (2 điểm)
Tiêu chí này được đánh giá bằng cách quan sát hoạt động thực hành của HS:
- Thực hiện thao tác kĩ thuật có nhiều sai sót, không đúng quy trình kĩ thuật. Tùy mức độ sai sót cho từ 0- 1 điểm
- Thực hiện các thao tác đúng yêu cầu kĩ thuật, đúng quy trình: 2 điểm.
- Thực hiện một vài thao tác kĩ thuật còn lúng túng hoặc có sai sót nhỏ hoặc chưa tuân thủ đúng qui trình: 1,5 điểm
*Tiêu chí 3: Thực hiện bài thực hành đúng yêu cầu kĩ thuật (4 điểm)
Tiêu chí này được đánh giá qua sản phẩm hoặc kết quả thực hành của học sinh :
- Thực hiện bài thực hành có sai sót : 0-2 điểm.
- Thực hiện bài thực hành đúng yêu cầu kĩ thuật : 3 điểm
- Thực hiện bài thực hành đúng yêu cầu kĩ thuật, có tính sáng tạo (thể hiện ở sản phẩm hoặc kết quả thực hành): 4 điểm
*Tiêu chí 4: Đảm bảo thời gian qui định (2 điểm)
Thực hiện không đảm bảo thời gian qui định (1 điểm)
Thực hiện đúng thời gian qui định (2 điểm)
*Tiêu chí 5: Thái độ thực hành (1 điểm)
Tiêu chí này được đánh giá bằng cách quan sát
- Thực hiện nghiêm túc nội quy thực hành
Đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động
Có ý thức tiết kiệm nguyện vật liệu
Đổi mới đánh giá như thế nào để phát huy được tính tích cực của HS?
- Kết hợp sử dụng nhiều phương pháp đánh giá như kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết bao gồm trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệp khách quan), phương pháp quan sát
- Tăng cường các câu hỏi có yêu cầu vận dụng tổng hợp, giải quyết những tình huống thực tế có liên quan đến nội dung học tập và phù hợp với khả năng của HS.
- Sau mỗi bài kiểm tra cần có sự nhận xét, đánh giá cụ thể của GV về kết quả của từng HS. Cố gắng chỉ ra được sự thành công, nguyên nhân của sự chưa thành công của các em.
5. Đa dạng hoá các hình thức dạy học
Việc đổi mới PPDH sẽ kém hiệu quả nếu như chúng ta không đa dạng hoá các hình thức dạy học. Tuỳ mục tiêu, nội dung dạy học và điều kiện thực hiện, chúng ta tiến hành các hình thức dạy học như:
- Dạy học cả lớp kết hợp với dạy học cá nhân
- Dạy học theo nhóm
- Dạy học ngoài thực địa
- Dạy học tại xưởng thực hành, cơ sở sản xuất
- Tham quan, ngoại khoá…
Điều kiện đổi mới PPDH ?
- Nâng cao trình độ học vấn và năng lực sư phạm của đội ngũ GV
- HS tự giác, hứng thú học tập
- Đổi mới chương trình và SGK
- Đảm bảo có đồ dùng dạy học, trang thiết bị và cơ sở vật chất theo quy định của Bộ GD-ĐT
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá, ....
- Đổi mới công tác chỉ đạo của cán bộ quản lí các cấp.
 
Gửi ý kiến