Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

GD CD: Nâng cao đạo đức CM, quét sạch CN cá nhân

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: http://violet.vn/hdhh/present/show/entry_id/2627517
Người gửi: Trần Việt Thao
Ngày gửi: 07h:59' 23-04-2013
Dung lượng: 296.0 KB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích: 0 người
TÁC PHẨM

NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
( Nguồn: http://violet.vn/hdhh/present/show/entry_id/2627517 ).
I. Bối cảnh ra đời, chủ đề và kết cấu tác phẩm
Bối cảnh ra đời:

Là điều kiện lịch sử cụ thể để ra đời 1 quan điểm, 1 tư tưởng, 1 tác phẩm.

Phải trình bày bối cảnh là tính nguyên tắc Vậy tác phẩm “nâng cao......” ra đời trong bối cảnh quốc tế và trong nước ?
a. Bối cảnh quốc tế (Bác viết 2/1969).
+ Là những năm mà CNXH hiện thực trên thế giới giành được nhiều thành tựu to lớn, rực rỡ trên các lĩnh vực KT-VH-XH….. => Cũng từ đó, một số nước XHCN xuất hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội - ví dụ ở Liên Xô 1967, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng 10, người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô xác định: Liên Xô ở giai đoạn CNXH phát triển; và trong lãnh đạo, quản lý xuất hiện quan liêu => đó là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.
+ Trong xây dựng CNXH lúc đó, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, cách làm có tính tả khuynh. Bác Hồ quan niệm ĐCS ở các nước XHCN là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có lãnh đạo sự nghiệp văn hóa. Do vậy, Đảng phải có chiều sâu lãnh đạo văn hóa, đặc biệt là khâu ứng xử văn hóa quá khứ (có nơi phủ định sạch) => đó là biểu hiện của CN cá nhân.
a. Bối cảnh quốc tế (Bác viết 2/1969).
+ Quan hệ 1 số ĐCS công nhân có sự rạn nứt, bất đồng chính kiến, có hại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế => từ đó làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vốn vô tư trong sáng trở thành không lành mạnh => đó là biểu hiện của CN cá nhân trong quan hệ giữa các ĐCS anh em.
a. Bối cảnh quốc tế (Bác viết 2/1969).
b. Bối cảnh trong nước
+ Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, chúng ta tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược…. Thế nhưng sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc không được bao lâu, sau đó phải đánh trả cuộc tấn công của Đế quốc Mỹ bằng máy bay…. và mãi cho đến 1/11/1968 Tổng thống Mỹ ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc.
Như vậy, lúc này có điều kiện tập trung xây dựng CNXH ở miền Bắc và làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà. Đó là nhiệm vụ nặng nề to lớn, đòi hỏi Đảng ta phải có sự đoàn kết thống nhất thật sự. Bởi lẽ, lúc này xuất hiện tư tưởng nghĩ ngơi, xã hơi sau những năm chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ác liệt. Vì vậy, Bác viết tác phẩm “nâng cao...” nhằm để tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, từ trên xuống để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
b. Bối cảnh trong nước
b. Bối cảnh trong nước
+ Xuất phát từ nhận thức của Bác về một số biểu hiện trong Đảng không lành mạnh, mà sau này ta gọi là biểu hiện của CN cá nhân.

Sau 1945 ĐCS VN trở thành Đảng cầm quyền, khi đó các đảng viên được cử sang nắm giữ các chức vụ then chốt trong bộ máy Nhà nước và khi có quyền lực trong tay, một số đảng viên không giữ được đạo đức cách mạng và bộc lộ những biểu hiện của CN cá nhân.
Thực tế biểu hiện của CN cá nhân có xu hướng tăng và ngày càng trầm trọng hơn.
Ví dụ:
- 1962-1964: Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận 2.376 đơn thư tố cáo cán bộ.
- 1965-1969: Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận 6.904 đơn thư tố cáo cán bộ.
Sau xác minh, kết luận cho thấy đại bộ phận đơn thư tố đúng. Từ thực tế đó, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thật sự là Đảng cầm quyền, Bác yêu cầu phải “phải nâng cao đạo đức...” và tác phẩm này gắn với bối cảnh quốc tế, trong nước và thực tế lúc đó là như vậy.
2. Tên gọi và bút danh của tác phẩm này
+ Tên gọi của tác phẩm trong tài liệu các đ/c và HCM toàn tập là “nâng cao...” Nhưng lúc đầu Bác Hồ chọn tên tác phẩm và yêu cầu Trưởng ban Tuyên huấn viết là “Quét sạch.....”. Sau đó, đ/c Trưởng Ban Tuyên huấn và 1 số đ/c khác đề nghị đổi 2 vế ngược lại. Đây không phải là hình thức đổi trước hay sau mà sự đổi chỗ ấy thể hiện quan điểm của Hồ Chí Minh về sự kết hợp, về mối liên hệ giữa 2 mặt xây và chống trong quá trình hình thành đạo đức cách mạng.
=> Theo quan điểm của Bác muốn xây dựng đạo đức cách mạng thì trước hết phải quét sạch rác rưởi, những đạo đức không lành mạnh, quét càng sạch thì kết quả xây dựng đạo đức CM càng nhanh chóng.
=> Đọc tác phẩm chúng ta thấy: tên gọi có đổi lại nhưng nội dung bài viết giữ theo ý của Bác “quét sạch CN cá nhân...” là mối quan hệ giữa xây và chống, chống càng mạnh thì xây sẽ có hiệu quả hơn.
+ Bút danh: TL, đăng báo nhân dân ngày 3/2/1969.

Bác cầm bút viết báo trong vòng 50 năm, (9/1919 - 6/1969).

Bác có hơn 100 bút danh. Riêng bút danh TL Bác sử dụng hơn 70 lần, bắt đầu sử dụng 1950 và sử dụng bút danh này thường khi đề cập những vấn đề bức xúc trong Đảng, trong xã hội.
3. Chủ đề tư tưởng và kết cấu tác phẩm
Từ ĐH.3 cho đến 1969 Bác có 4 bài viết nhân ngày thành lập Đảng:

- B1: 30 năm hoạt động của Đảng - đăng tạp chí những vấn đề hòa bình và CNXH - ở Praha năm 1960.

- B2: 1963 - Đảng tròn 33 tuổi, Bác viết “đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới và ở đó Bác chỉ ra 4 dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong Đảng.
- B3: 1964 nhân 34 năm ngày thành lập Đảng, Bác viết dưới chủ đề xây dựng Đảng, nhưng xây dựng Đảng về mặt đạo đức
- B4: Là bài đang nghiên cứu. Như vậy, đây không phải là bài duy nhất nhân ngày thành lập Đảng Bác bàn về đạo đức CM. (Bác có 55 tác phẩm bàn về đạo đức CM không tính các tác phẩm có liên quan đến đạo đức).
3. Chủ đề tư tưởng và kết cấu tác phẩm
Từ ĐH.3 cho đến 1969 Bác có 4 bài viết nhân ngày thành lập Đảng:
=>Do đó, chủ đề tư tưởng xây dựng Đảng về mặt đạo đức là xuyên suốt, là nhất quán của Bác từ tác phẩm đầu tiên “Đường kách mệnh” ở đó Bác chỉ ra 23 tư cách của người cách mạng.
=>Bác quan niệm “Lý luận Mác-Lênin là lý luận cao cả, trong sáng chứa đựng trong nó những giá trị nhân văn lớn và không phải bất kỳ con người nào cũng có những phẩm chất, năng lực để lĩnh hội những phẩm chất cao cả đó, mà chỉ có những người có những phẩm chất nhất định mới lĩnh hội được hạt nhân cơ bản của nó. Vì vậy, theo quan điểm của Bác muốn tìm hiểu lý luận CM thì trước hết phải có tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, thì mới lĩnh hội được -> cho nên Bác chỉ ra 23 tư cách người CM.
* Kết cấu tác phẩm: là bài báo ngắn, có 686 từ (khoảng 1,5 trang A4) nhưng có logic rất chặt chẽ, dưới dạng tổng kết lý luận - thực tiễn và có thể chia nội dung 4 phần độc lập nhau:

Một là: Vai trò lãnh đạo của Đảng và truyền thống đấu tranh CM cao đẹp của Đảng ta (212 từ).
Hai là: Thực chất của CNCN và những hình thức biểu hiện cụ thể của nó.
Ba là: Các giải pháp “nâng cao......”
Bốn là: phần Kết luận
II. Nội dung cơ bản của tác phẩm.
1. Quan điểm HCM về vai trò lãnh đạo của Đảng và truyền thống đạo đức CM tốt đẹp của Đảng ta
a. Về tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
Mở đầu bài viết bằng câu khẳng định: “Nhân dân ta thường nói, đảng viên đi trước làng nước theo sau”

=> Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta, đó là khách quan, là sự tôn vinh của nhân dân đối với Đảng.
+ Về lý luận: Chí ít trong các tác phẩm của mình, Bác nhắc đi nhắc lại 14 lần câu nói đó:
- Năm 1955 trong bài đạo đức CM. HCM cho rằng: “đại đa số những người chiến sĩ CM là những người có đạo đức, cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt hàng ngày thì gương mẫu, gian khổ, chất phát nghĩa là: lo thì lo trước thiên hạ, hưởng thì hưởng sau thiên hạ”.
- 3/1961 khi bàn về đạo đức CM. HCM nhấn mạnh: “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” chớ nên “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau”.
- 12/1961 HCM nói “sự khổ sở, khó khăn thì đảng viên ta đi trước, khi sướng thì đảng viên ta hưởng sau”.
+ Về thực tiễn: cán bộ đảng viên chúng ta: lo trước, làm trước, đi trước => đó là cách hành xử của người đảng viên => đó là tính tiên phong, là đạo đức người CS, là tư cách người đảng viên.
b. Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với CM. VN
+ Trong tác phẩm HCM nêu lên những thắng lợi to lớn của CM Việt Nam, mà một trong những nguyên nhân tạo nên các thắng lợi đó chính là => sự gương mẫu, tận tụy của cán bộ, đảng viên đi đầu trong lãnh đạo toàn dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, ở đây Bác nêu 3 sự kiện lớn:
- Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo CMT8 thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy chấn động địa cầu.
- Vai trò lãnh đạo xây dựng CNXH ở miền Bắc và đâu tranh thống nhất đất nước. Từ đó, Bác khẳng định CM. VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác….
Vấn đề đặt ra tại sao Đảng ta làm được chuyện đó?
HCM khẳng định: “Vì Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, trí tuệ”, “Vì Đảng ta đã đào tạo 1 đội ngũ cán bộ có phẩm chất cao đẹp”
Vậy phẩm chất đạo đức CM là gì? mà tập hợp được nhân dân, lãnh đạo được nhân dân làm CM? Chung quanh bản chất đạo đức CM, Bác Hồ nói chung quy lại có 4 nội dung (Bác nói 1958). Cụ thể là:
- Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho CM, đó là điểm chủ chốt nhất.
- Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích cá nhân. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.
- Ra sức học tập CN Mác-Lênin, dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đ/c mình tiến bộ.
=> Những phẩm chất đạo đức đó đã thẩm thấu, thẩm thấu trong lớp lớp cán bộ, đảng viên, dù trong tác phẩm này Bác không kể tên những tấm gương “gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau”.
Mà nhiều lần Bác nói “trong đảng ta có hàng trăm nghìn cán bộ đảng viên” như thế;
Và nhiều lần Bác nhắc đến những tấm gương tiền bối CM, như Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ... đã thấm nhuần đạo đức CM (Giàu sang không khuyến rủ; Khó khăn không lay chuyển; Không gì khuất phục được họ).
Nhân dịp 30 năm thành lập Đảng, Bác nêu dẫn chứng những tấm gương của những đảng viên cấp cao (1960) => trong 31 đ/c UVTW hiện nay, trước ngày khởi nghĩa được Đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày (không kể án tử hình và vượt ngục trước khi hết hạn).

Trong tác phẩm “nâng cao...” Bác nói: Đảng ta đã đào tạo 1 thế hệ thanh niên CM, gái cũng như trai rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác”. Những người Bác nhắc đến: Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, .. đó là những bông hoa tươi thắm của CN anh hùng CM; Đảng ta, nhân dân ta rất tự hào có những người con như thế.
=> Và như vậy, đạo đức CM đã thẩm thấu vào lớp lớp cán bộ, đảng viên, và nhờ có đạo đức CM, nên có bản lĩnh làm người,. “Đảng ta là đạo đức, văn minh”, “lịch sử Đảng ta là lịch sử bằng vàng”,=> “văn hóa, đạo đức của Đảng đã tạo thành một dòng chảy liền mạch” và tạo nên truyền thống cực kỳ vẻ vang của Đảng.
2. Quan điểm HCM về thực chất của CN cá nhân và các hình thức biểu hiện của nó
a. Vài nét về Chủ nghĩa cá nhân (CNCN)
a. Vài nét về Chủ nghĩa cá nhân (CNCN)
- Những biểu hiện đầu tiên của CNCN xuất hiện cùng với phong trào văn hóa phục hưng, gắn liền với văn hóa ánh sáng, các nhà triết học khai sáng.
- Lúc đầu, CNCN xuất hiện như trạng thái đối lập lại chế độ chính trị, nói đến tính độc lập của con người, sự nổ lực vươn lên của cá nhân, quyền tự do dân chủ của cá nhân trong lòng XH. Vì thế, CNCN xuất hiện có tác dụng thúc đẩy phát triển lịch sử, tiến bộ XH (g/c TS đã lợi dụng triệt để mặt tích cực này)
- Tư tưởng CNCN có rất sớm, nhưng về thuật ngữ CNCN xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ 19. CNCN cực đoan gắn với CN ích kỷ của g/c TS (Nó có những dấu hiệu hết sức tiêu cực, mặt tích cực thì bị che mất, còn mặt tiêu cực thì nổi cộm lên). Sau này rất nhiều phân tích đánh giá CNCN đó là 1 thế giới quan mà thế giới quan đó dựa trên sự đối lập cá nhân-XH.
Bác nói: CNCN phát triển đến dạng cực đoan, tức là gắn với CNCN cực đoan, ích kỷ của g/c TS với những biểu hiện của nó.

Bác không hoàn toàn phủ nhận vai trò CNCN, Bác nói Quyét sạch CNCN, nhưng Bác có bao giờ nói chống lại cá nhân, mà còn khẳng định “chỉ có trong CNXH quyền và lợi ích cá nhân được đảm bảo triệt để”. Bác xem CNCN đó đối lập với đạo đức CM, những gì đối lập với đạo đức CM là CN Đế quốc.

- Bác dùng thuật ngữ CNCN từ 1947 trong tác phẩm “sửa đổi lối làm việc”. Ở đó Bác nói đến CNCN và chỉ ra 7 biểu hiện tiêu cực của nó.

- Sau này, trong quá trình lãnh đạo CM Bác thấy CNCN ngày càng tinh vi, phức tạp có những hình thức biểu hiện đặc thù trong những điều kiện, môi trường công tác khác nhau
Nói về chủ nghĩa cá nhân
Bác có quan điểm rất nhất quán:
=> Vì thế, 1963, Bác chỉ ra 4 biểu hiện mới của CNCN và cho đến bài báo này, diện mạo của CNCN được HCM chỉ ra tương đối toàn diện và cụ thể.

=> Và CNCN đó HCM cho rằng đó chính là sự tuyệt đối hóa, sự tôn thờ quyền và lợi ích cá nhân, đến mức nó đối lập hoàn toàn với lợi ích tập thể, lợi ích XH. Bác nói: Nếu CNCN như vậy thì hoàn toàn đối lập với đạo đức CM.
Từ quan điểm đạo đức CM và CNCN như vậy, Bác dùng để tiếp cận với bản chất của CNXH.

=> Bác nói thêm: Bản chất CNCN hoàn toàn đối lập với CNXH. Vì thế, muốn có CNXH thì phải tiêu diệt CNCN. Cuộc đấu tranh cho CNXH cũng đồng thời là cuộc đấu tranh tiêu diệt CNCN trong từng con người và trong phạm vi XH.
b. Hồ Chí Minh chỉ ra 1 cách rất cụ thể các
hình thức biểu hiện của CNCN
- Biểu hiện của sự tham lam: CNCN là sự tham lam (tiền tài, của cải, quyền lực, thậm chí là sắc đẹp) đã tham là không liêm => CNCN là bất liêm.
Chính vì lòng tham đó, trong những trường hợp nhất định, mù quán về vật chất, tham quyền cố vị, con người rất dễ rơi vào sự phản bội lại Đảng và nhân dân => Lòng tham là 1 biểu hiện của đạo đức
- Sự lười biếng (không chịu làm việc) khó khăn gian khổ là từ chối, béo bỡ là lao vào.
Sự lười biếng còn là sự lười suy nghĩ, làm việc theo thói quan, kinh nghiệm, không suy nghĩ, không cách tân, không đổi mới, thậm chí nhờ người khác suy nghĩ => không có sự đổi mới trong lãnh đạo, trong quản lý, giậm chân tại chỗ, CM không tiến lên được. Lười trong học tập lý luận, văn hóa để nâng cao trình độ, kiến thức để phục vụ tốt hơn cho Đảng, cho CM (rồi tự cho mình cái gì cũng biết, cái gì cũng giỏi).
Cái lười do CNCN, Bác nói không thể một sớm một chiều có thể chữa được, mà bệnh lười này gắn với quan điểm của g/c TS thống trị tức là ngồi mát ăn bát vàng, không làm cũng được hưởng. Nó hoàn toàn khác với đạo đức CM.
- Quan liêu: gắn với lãnh đạo, quản lý => mọi quyết định đưa ra từ bàn giấy, không sát với thực tế, không xâm nhập thực tiễn => sai về đường lối, chủ trương chính sách;

Phương pháp lãnh đạo quan liêu tức là lãnh đạo trái với dân chủ => quan liêu tức là mất dân chủ không nắm bắt vấn đề từ thực tiễn, không xuất phát nhu cầu từ thực tiễn, mà đặt vấn đề... “ông quan liêu khi được phân công..”.
- Kiêu ngạo: Sau khi giành được chính quyền, tức là lãnh đạo nhân dân giành được 1 số thắng lợi nhất định, từ đó cán bộ đảng viên ta tỏ ra kiêu ngạo, cái gì cũng biết, cũng làm được, dời non lấp biển làm được, mọi thứ đều biết, rất chủ quan kiêu ngạo => coi thường tổ chức, coi khinh quần chúng, cho ta là nhất, là tất cả thiên hạ.
- Vô kỷ luật: Phớt lờ tổ chức, cán bộ đảng viên không tuân thủ điều lệ của Đảng, Pháp luật Nhà nước => vô tổ chức vô kỷ luật => làm Đảng yếu đi.
- Địa phương cục bộ: Gắn với địa phương mình, 1 lĩnh vực nào đó, sau khi chú ý đến lợi ích của mình, thì coi lợi ích của cả nước, của những nơi khác không ra gì.

- Kéo bè, kéo cánh gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và nhân dân: không dùng những người có tài mà chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình dù không có tài => mất đoàn kết trong Đảng => Bác cho rằng: nguy cơ của 1 Đảng cầm quyền do CNCN mà có.
Vậy, theo Hồ Chí Minh, CNCN được thể hiện
trong các mối quan hệ nào?
a. CNCN thể hiện trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể: Theo quan hệ này thì người theo CNCN đặt lợi ích của mình là trên hết, trên lợi ích của Đảng, của CM, của nhân dân.
b. CNCN biểu hiện trong lối sống: Trở thành sự tham ô, hối lộ, hữu hóa, lãng phí, xa hoa => con người tự cao tự đại, lên mặt quan CM. Bác nói: tức là đứng trên đầu trên cổ người ta, trở lại thời kỳ chế độ cũ.
c. Biểu hiện trong quan hệ lãnh đạo, quản lý: Lãnh đạo theo cách quan liêu: nghĩa là độc đoán, chuyên quyền, phớt lờ tổ chức, tập thể; quyết định của mình là tất cả, bắt cá nhân khác phục tùng quyết định của mình. Nên cách lãnh đạo, quản lý trong CNCN Bác nói đó là lãnh đạo theo cách chuyên chế => trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.
Vậy, theo Hồ Chí Minh, CNCN được thể hiện
trong các mối quan hệ nào?
d. Quan hệ của cán bộ đảng viên với quần chúng: Người cán bộ, đảng viên có tính CNCN thì họ coi khinh quần chúng => CNCN là xa rời quần chúng => cho nên quần chúng coi khinh, không tin tưởng cán bộ vào sự lãnh đạo của Đảng => nên rất nguy hiểm.
Vậy, theo Hồ Chí Minh, CNCN được thể hiện
trong các mối quan hệ nào?
Bác nói: CNCN nó xuyên suốt vào các quan hệ, kể cả quan hệ đời tư, quan hệ lãnh đạo, quản lý và kể cả quan hệ cán bộ đảng viên với quần chúng => đây là thứ vi trùng rất nguy hiểm với các quan hệ trên và ảnh hưởng tới các quan hệ khác làm cho các quan hệ xấu đi, nhân cách làm người bị méo mó, cách nhìn của quần chúng đối với cán bộ, đảng viên đó không phản ánh được bản chất của Đảng =>nên CNCN từ những biểu hiện trên gây ra những hậu quả rất lớn, đe dọa sự lãnh đạo của Đảng.
Vì thế, trong quá trình lãnh đạo CM. VN,
Bác nói: chúng ta cần chống lại 3 loại kẻ thù:
- Đế quốc, thực dân, phong kiến và tay sai của chúng.
- Thói quen, truyền thống lạc hậu, tư tưởng tiểu tư sản.
- Biểu hiện tinh vi, phức tạp nhất là CNCN dưới mọi hình thức, là giặc nội tâm, giặc trong lòng, trong mỗi con người. Tập trung chống biểu hiện tiêu cực về đạo đức đó chính là chống CNCN.
3. Các giải pháp nâng cao đạo đức CM, quét sạch CNCN:
- “Nâng cao.....” là 1 nhiệm vụ thường trực, 1 việc làm thường xuyên của Đảng [trong 1 đoạn ngắn mà HCM đã dùng - 10 từ phải..];
Phải ở đây là bắt buộc (phải tuân theo, phải làm) gắn với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Vì thế, các giải pháp ở đây trở thành những vấn đề có tính sống còn, những nhiệm vụ bắt buộc mà Đảng ta cần phải làm.
Bác quy lại thành 2 nhóm chính:
Nhóm 1: gồm 4 giải pháp cụ thể,
có liên quan về phía Đảng,
tổ chức Đảng, để “nâng cao...”

Nhóm 2: Bác đưa ra 4 giải pháp
có liên quan đến tự ý thức,
tự rèn luyện của từng cán bộ đảng viên.
Nhóm 1: gồm 4 giải pháp cụ thể, có liên quan
về phía Đảng, tổ chức Đảng, để “nâng cao...”
cần phải làm gì?
a. Trước hết, Đảng phải giáo dục trong toàn Đảng lý tưởng CSCN, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, đạo đức và nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên => việc giáo dục ở đây liên quan đến lý tưởng CM, đến nền móng tư tưởng lý luận của Đảng. => Muốn vậy, phải có phương pháp, nội dung, và cách thức tổ chức giáo dục đúng (chỉ trở thành người CS khi biến kiến thức...và...)
b. Liên quan về phía Đảng, Bác nói để “nâng cao...” là phải thực hành tự phê bình và phê bình rộng rãi trong Đảng.
* Thực hành tức là phải thực hiện tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, trong mọi quan hệ của cán bộ, đảng viên.
Nhóm 1: gồm 4 giải pháp cụ thể, có liên quan
về phía Đảng, tổ chức Đảng, để “nâng cao...”
cần phải làm gì?
- Bác cho rằng tự phê bình và phê bình ở đây là quy luật phát triển của Đảng.

- Bác dùng tự phê bình trước, tức là mỗi cán bộ đảng viên trước khi phê bình người khác, phê bình tổ chức Đảng thì phải soi lại mình, tự phê bình mình, điều mình làm được, không làm được !
=> Thực hành rộng rãi tự phê bình và phê bình trong Đảng: Đây là điều kiện tồn tại của Đảng, tạo sức mạnh cho Đảng.
- Ngoài ra, còn cần phải khuyến khích quần chúng nhân dân góp phần phê bình cán bộ, đảng viên

=> để cán bộ đảng viên hoàn thiện nhân cách của mình.
- Quan tâm DLXH, sự đánh giá của quần chúng nhân dân, cơ quan, đơn vị và nơi cư trú sẽ góp phần hoàn thiện tư cách, nhân cách đạo đức của cán bộ đảng viên.
c. Giữ nghiêm chế độ sinh hoạt và kỷ luật Đảng:

- Đây là yêu cầu bắt buộc để “nâng cao....”.

- Tuân thủ nghiêm ngặt điều lệ Đảng, pháp luật nhà nước, quy định quy chế của cơ quan, xí nghiệp, trường học.

- Kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt, kỷ luật tự giác. Nếu chúng ta thực hiện kỷ luật Đảng 1 cách nghiêm minh, tự giác thì mỗi cán bộ đảng viên ngày càng trưởng thành hơn, hoàn thiện hơn về mặt nhân cách làm người.
d. Tăng cường chặt chẽ công tác kiểm tra Đảng:

- Phải kiểm tra quá trình cán bộ đảng viên “nâng cao….”; nếu chỉ nói, chỉ thực hiện mà không kiểm tra là không được.

- Phải kiểm tra thực hiện từ trên xuống dưới, đặc biệt kiểm tra từ dưới lên thông qua cán bộ, đảng viên, từng cấp tổ chức Đảng. Kiểm tra, đánh giá đạo đức CM của từng đảng viên, của các tổ chức đảng và cuối cùng là đánh giá đạo đức CM của toàn Đảng ta.
Một là, Công tác kiểm tra cần làm có hệ thống, thường xuyên, đây là công việc thường nhật của Đảng chứ không phải khi cần mới kiểm tra.
Để thực hiện biện pháp kiểm tra trong quá trình “nâng cao….”, Bác nói cần phải có 2 điều kiện:
- Hai là, muốn kiểm tra được thì người đi kiểm tra phải là người có nhân cách đạo đức, có uy tín mới đi kiểm tra người khác có kết quả.
=> Để “nâng cao...” về phía tổ chức Đảng phải hình thành nhóm các giải pháp như vậy: đó là giải pháp về vấn đề giáo dục, về tổ chức và về công tác kiểm tra Đảng , xuyên suốt các mặt hoạt động của Đảng.
Nhóm 2: Bác đưa ra 4 giải pháp có liên quan
đến tự ý thức, tự rèn luyện của từng cán bộ
đảng viên.
1. Bác nói: đối với từng cán bộ đảng viên, 1 mặt chịu sự giáo dục, chịu sự tổ chức, sự kiểm tra của tổ chức Đảng, nhưng như vậy thì xây dựng đạo đức CM chống CNCN khó thành công.
Muốn có đạo đức CM, quét sạch CNCN cần phải có sự nỗ lực, cố gắng của từng cán bộ đảng viên. Trước hết trong nhận thức tư tưởng phải giải quyết 1 cách rất rành mạch, rõ ràng: “luôn đặt lợi ích của CM của Đảng, của dân lên trên, lên trước” Bác Hồ nói dứt khoát như vậy.
Bác nói: Lợi ích của Đảng là lợi ích của dân tộc, của g/c, của nhân dân. Và trong lợi ích của Đảng có lợi ích của từng cán bộ đảng viên. Nên ta ưu tiên cho lợi ích của Đảng (tức là có lợi ích của cá nhân ta). Và trong 1 số trường hợp cần thiết, khi cần hy sinh lợi ích của cá nhân mình để bảo vệ lợi ích chung của dân tộc cho sự phát triển của Đảng, cá nhân cán bộ đảng viên phải hy sinh. Điều này rất khó, và điều này có được là trên cơ sở tự giác, tự nguyện.
=> Bác cho đây là vấn đề có tính nguyên tắc, đây là vấn đề tính Đảng của đảng viên. Nên đối với cán bộ đảng viên trong tư tưởng, nhận thức phải khẳng định dứt khoát rõ ràng mối quan hệ lợi ích là như vậy.
2. Đối với cán bộ, đảng viên, Bác nói: phải kiên quyết quét sạch CNCN, nâng cao đạo đức CM, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần làm việc. Có thái độ kiên quyết rõ ràng để quét sạch CNCN, không được có thái độ “lừng chừng” đối với bản thân cũng như người khác.
Bác nói: nếu mỗi đảng viên có thái độ rõ ràng đối với CNCN thì tự thân nó hình thành nên CN tập thể, trong tổ chức Đảng lưôn phát triển, ổn định, đoàn kết, người cán bộ đảng viên nhân cách cũng hoàn thiện hơn.
Trong tổ chức Đảng luôn bè cách, không có tư tưởng thương yêu đùm bộc nhau, không có tình có nghĩa thì người cán bộ đảng viên trong hoàn cảnh như vậy làm được người tốt rất khó.

=> Vì thế, sự đoàn kết của Đảng, tư tưởng tập thể và sự yêu thương lẫn nhau, nhân nghĩa với những người đồng chí sẽ tạo nên môi trường hoàn thiện về mặt nhân cách, làm đảng viên ta tốt hơn, sống tốt hơn, có ích cho CM, cho Đảng và cho nhân dân.
3. Cán bộ đảng viên phải sâu sát thực tế, gắn bó với dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của dân. Đây là phong cách công tác quần chúng, phong cách lãnh đạo, quản lý dân chủ của cán bộ đảng viên.

- Cán bộ đảng viên là người hướng dẫn nhân dân, tập hợp quần chúng đi theo Đảng, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng,…..
Vì vậy, phải nắm được “dân tình”; hiểu thấu “dân tâm”; có điều kiện để cải thiện dân sinh và nâng cao dân trí.

- Cán bộ đảng viên mà không có tình thương yêu đồng loại, tình thương yêu con người thì không lãnh đạo, quản lý được, và phải làm sao cho dân phục, dân tin để cuối cùng ta đi thì dân nhớ, chưa đến thì dân mong.
Bác Hồ là người đặt nền móng cho phong cách lãnh đạo dân chủ của Đảng ta [trong 10 năm (1954-1964), Bác đã thực hiện 700 cuộc đi về các địa phương, cơ sở, trung bình 1 tuần đi hơn 1 lần], đi để nắm được dân, nắm được tâm tư nguyện vọng của dân, đi vào lòng dân, từ đó điều chỉnh về mặt chính sách, cơ chế để nâng cao đời sống của nhân dân.
=> Và Bác Hồ đã để lại bài học rất lớn, đó là phong cách lãnh đạo HCM, phong cách lãnh đạo dân chủ - là nét văn hóa rất đẹp, rất riêng của HCM, nếu thực lòng thì mỗi cán bộ đảng viên, mỗi cán bộ quản lý đều có thể làm được.
4. Bác Hồ yêu cầu cán bộ đảng viên phải ra sức học tập, nâng cao trình độ hiểu biết để ra sức phục vụ tốt hơn cho Đảng, cho CM.


- Người có đạo đức CM là người luôn học hỏi, học tập không ngừng, còn sống còn lao động, còn làm việc là còn học tập, học để làm việc nhiều hơn cho Đảng, cho CM.
Bác nói: cán bộ đảng viên đừng tham, nhưng có 1 việc tham mà Bác thích đó là tham học, tham làm những việc ích nước lợi dân.


- Theo Bác, đối với cán bộ đảng viên quá trình học là quá trình tự nâng cao trình độ, nâng cao sự hiểu biết, đó là quá trình mang tính đạo đức CM => để phục vụ tốt hơn cho Đảng, cho CM và nhân dân.
Bác nói: Trước hết là học CN Mác- Lênin, học để làm thế nào đó cán bộ đảng viên biết cách sống với nhau có tình, có nghĩa. Học là học về văn hóa, để nâng cao hiểu biết về tự nhiên, XH; học về KH-KT để không tụt lùi so với cuộc sống; học phương pháp, phong cách của quần chúng để làm việc với quần chúng. Như vậy, học ở HCM là học toàn diện, học cả về tri thức, phương pháp lãnh đạo, cách sống, cách đối nhân xử thế. Học như vậy thì chiều sâu đó là chiều sâu về đạo đức. Trong học đó, Bác luôn nhấn mạnh “học đạo đức là yếu tố hàng đầu”.
Bác Hồ là 1 tấm gương sáng ngời trong việc học:

+ Bác không có điều kiện học nhiều trong trường lớp - Bác học ở trường lớp từ năm 1905-1908 học ở trường phổ thong - Sau này, từ 1934-1938 Bác có điều kiện học ở trường quốc tế Lênin, học nghiên cứu sinh bảo vệ luận án phó tiến sĩ - Sau đó, việc học của Bác dở chừng vì Bác chuyên tâm lo cho hoạt động CM.
Bác Hồ là 1 tấm gương sáng ngời trong việc học:

+ Bác không có điều kiện học trong trường lớp chính thức nhưng Bác là 1 con người có tri thức uyên bác, có thể tích lũy được tri thức của Đông, Tây, Kim cổ. Khi tiếp xúc với Bác dù là người lao động bình thường, dù là chính khách, là văn nghệ sĩ... bao giờ chúng ta cũng tiếp nhận được 2 điều rất có giá trị:
a. Muốn sống làm người hơn: bởi khi tiếp xúc với Bác, Bác tôn trọng chúng ta với tư cách cá nhân con người.


b. Được nâng cao tầm trí tuệ: qua tiếp xúc, Bác cho ta nhiều hiểu biết và đó chính là văn hóa.
Đó là:
Theo lời đánh giá của 1 nhà báo Liên Xô trước đây: “từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra 1 thứ văn hóa, không phải là văn hóa của Châu Âu mà có lẽ là văn hóa tương lai”. Qua tiếp xúc với HCM, được học nhân cách làm người, được nâng cao về tầm trí tuệ, học hỏi nhiều hơn.
Bác có trình độ học vấn uyên bác chủ yếu nhờ vào quá trình tự học, học trong cuộc sống, học ở nhân dân, ở trường CM => tri thức HCM luôn mới mẽ, gắn với thực tiễn cuộc sống, học là để chỉ đạo CM, giải quyết những vấn đề CM đặt ra. Nếu mỗi cán bộ đảng viên đều như vậy thì sẽ tạo ra 1 XH học tập, học để gắn bó với cuộc sống, để giải quyết cuộc sống.
=> Để “nâng cao.....” là học nhiều điều, con người có học thức, có văn hóa tự thân họ đòi hỏi những phẩm chất đạo đức tương ứng. Để trau dồi đạo đức CM, chống lại CNCN 1 cách kiên quyết, đòi hỏi phải có trình độ học vấn.
4. Kết luận

Nếu chúng ta nâng cao được đạo đức CM, quét sạch được CNCN thì chúng ta sẽ giữ được bản chất của Đảng, là bản chất tiên phong của g/c công nhân, Đảng của dân Việt Nam anh hùng => Việc “nâng cao ...” làm cho Đảng ta trở thành Đảng đại diện cho g/c, cho dân tộc và cho nhân dân lao động.
III. Giá trị thực tiễn của tác phẩm này.
1. Giá trị lý luận
2. Giá trị thực tiễn
1. Giá trị lý luận
- Thông qua tác phẩm, HCM đã có sự tổng kết khái quát về đạo đức CM, về CNCN với những tiêu chí rất cụ thể, làm căn cứ để đánh giá đạo đức của Đảng và thực trạng CNCN trong Đảng.
- Bác mở rộng nội hàm công tác xây dựng Đảng - công tác xây dựng Đảng trên 4 mặt: về tư tưởng, về chính trị, tổ chức cán bộ, về đạo đức lối sống). 4 mặt này liên quan chặt chẽ với nhau. Xây dựng Đảng về lối sống tức là văn hóa Đảng.
2. Giá trị thực tiễn
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới 20 năm qua, đại bộ phận cán bộ đảng viên vẫn giữ được đạo đức CM, nhân cách người CS, do đó sự nghiệp CM của Đảng giành được nhiều thành tựu, nhiều thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử (86% tiên phong gương mẫu).
Bên cạnh đại bộ phận trên thì 1 bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên (14%) thoái hóa về tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức, lối sống, bộ phận nhỏ nhiều khi gây ra hậu quả xấu, tác động mạnh !
Trong Đảng có 1 bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, qua tổng kết, gồm 8 nguyên nhân:

1. Không tích cực học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, bằng lòng với những nhận thức giản đơn, chung chung mơ hồ về CN Mác-Lênin, tư tưởng HCM, đường lối của Đảng.

2. Dao động với con đường phát triển của dân tộc, mục tiêu lý tưởng của Đảng, nền tảng tư tưởng của CM.VN.
Trong Đảng có 1 bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, qua tổng kết, gồm 8 nguyên nhân:

3. Phủ nhận thành quả CM và giá trị truyền thống của dân tộc VN.

4. Thiếu thống nhất về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, từ đó nói và làm không theo đường lối chủ trương của Đảng.
5. Không chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ.

6. Mất cảnh giác trước âm mưu và thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Không kịp thời và kiên quyết phê phán đấu tranh với những ý kiến, quam điểm sai trái.
Trong Đảng có 1 bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, qua tổng kết, gồm 8 nguyên nhân:
7. Cơ hội chính trị với các dạng thức biểu hiện khác nhau.

8. Phát tán tài liệu, truyền bá quan điểm trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước.
Trong Đảng có 1 bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, qua tổng kết, gồm 8 nguyên nhân:
10 Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
trong Đảng hiện nay
1. Phai nhạt lý tưởng, cơ hội chủ nghĩa.

2. Tham nhũng, tham ô, hối lộ, lãng phí.

3. Quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng.
4. Lợi dụng địa vị, chức quyền, dung túng bao che cho người thân làm ăn phi pháp, chiếm đoạt tài sản bất chính.
5. Nịnh hót cấp trên, dọa nạt cấp dưới, thành kiến hẹp hòi, bảo thủ trì trệ.

6. Phô trương hình thức, chạy theo thành tích, báo cáo sai sự thật.

7. Chạy danh, chạy lợi, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy bằng, chạy tuổi.
10 Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
trong Đảng hiện nay
8. Địa phương chủ nghĩa, cục bộ bản vị, hành xử theo kiểu phép vua thua lệ làng.

9. Ngại khó ngại khổ, tranh công đổ tội, lợi mình hại người.

10. Dĩ hòa vi quý, gió chiều nào theo chiều ấy, thủ tiêu đấu tranh.
10 Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
trong Đảng hiện nay
* Giải pháp: Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp….
* Thực hiện cuộc vận động “Học tập…..”
Lấy cái đẹp dẹp cái xấu.
Phát huy nhân tố tích cực, đẩy lùi tiêu cực.
KẾT LUẬN




XIN CHÂN THÀNH
CẢM ƠN!
468x90
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓