Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

giáo dục địa phương thành phố đà nẵng lớp 8 chủ đề 1 lịch sử vùng đất THÀNh phố ĐÀ NẴNG TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần ngọc huy
Ngày gửi: 17h:30' 04-07-2026
Dung lượng: 123.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Chủ đề 1

LỊCH SỬ VÙNG
ĐẤT THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG TỪ
THẾ KỈ XVI ĐẾN
CUỐI THẾ KỈ XIX

I. Đà Nẵng từ thế kỉ
XIV đến trước năm
1858.
a) quá
trình hình thành phố cảng Đà Nẵng.
-Vào thế kỷ XVII, cửa biển Đà Nẵng và cửa Đại Chiêm (Hội An) có vai trò
hải khẩu quan trọng ngang nhau. Các tàu thuyền từ phương Đông
(Trung Hoa, Nhật Bản...) thường chọn đi qua sông Cổ Cò để rút ngắn
$1/3$ quãng đường và tránh sóng lớn qua bán đảo Sơn Trà. Sau khi làm
thủ tục an ninh và thuế quan tại Sở Tuần Đà Nẵng, các thương thuyền
mới được phép ngược sông Hàn và sông Cổ Cò để tiến vào bến Hội An.
-Tuy nhiên, do Hội An là giang cảng cách biển dưới 7 km, lòng sông
không đủ sâu và rộng nên các tàu buôn cỡ lớn của phương Tây không
thể vào được, buộc phải neo đậu và bốc xếp hàng hóa ngay tại cửa biển
Đà Nẵng. Sự sầm uất của cửa Hàn thời kỳ này từng được hòa thượng
Thích Đại Sạn ghi lại trong hồi ký năm 1695 với cảnh tượng cột buồm
san sát như rừng, bờ sông nhà cửa đông đúc và chợ búa nhộn nhịp.
-Theo thời gian, do sông Cổ Cò và cửa Đại Chiêm bị bồi lấp dần, lượng
tàu thuyền về Hội An suy giảm khiến vịnh Đà Nẵng càng trở nên tấp
nập hơn. Nhờ những lợi thế tự nhiên và xã hội này, phố cảng Đà Nẵng
đã ra đời khá sớm — khoảng từ giữa đến cuối thế kỷ XVII — gắn liền với

Trong các thế kỷ XVI – XVII, Đà Nẵng và Hội An đã thiết lập mối quan hệ cảng thị bổ trợ mật thiết về cả
địa lý, giao thông lẫn thương mại. Về giao thông, hệ thống sông Hàn và sông Cổ Cò là tuyến đường thủy
huyết mạch nối liền hai khu vực; các thương thuyền phương Đông thường chọn lộ trình này để rút
ngắn gần $1/3$ quãng đường và tránh sóng lớn quanh bán đảo Sơn Trà khi muốn tiếp cận Hội An. Về
quản lý thương mại, hai cửa biển phối hợp chặt chẽ trong quy trình thuế quan: tàu thuyền nước ngoài
bắt buộc phải neo đậu tại cửa biển Đà Nẵng để Sở Tuần kiểm tra an ninh và thu thuế trước, sau khi
hoàn tất thủ tục mới được ngược dòng vào bến Hội An.
Bên cạnh đó, Đà Nẵng còn đóng vai trò là trạm trung chuyển hàng hóa bắt buộc cho Hội An. Do Hội An
là giang cảng có lòng sông nông, không đủ điều kiện tiếp nhận các tàu buôn cỡ lớn của phương Tây, các
tàu này phải đỗ lại cửa biển Đà Nẵng để bốc xếp và sang mạn hàng hóa sang thuyền nhỏ hơn nhằm
đưa vào nội địa. Mối liên hệ này mang tính song hành và kế thừa rõ rệt khi bước vào giai đoạn biến đổi
tự nhiên. Khi sông Cổ Cò và cửa Đại Chiêm bị bồi lấp dần làm suy giảm lượng tàu về Hội An, dòng chảy
giao thương đã dịch chuyển mạnh mẽ sang vịnh Đà Nẵng, thúc đẩy phố cảng Đà Nẵng phát triển nhộn
nhịp từ nửa cuối thế kỷ XVII.

b) Tổ chức hành chính

I. Đà Nẵng từ thế kỉ
XIV đến trước năm
1858.

Năm 1802, nhà Nguyễn chính thức
thành lập, chọn Phú Xuân (Thừa Thiên
Huế) làm kinh đô và xây dựng nhà
nước quân chủ chuyên chế tập quyền
trên toàn lãnh thổ. Trong bối cảnh đó,
vùng đất Đà Nẵng trở thành địa bàn
quan trọng, được triều đình ưu tiên đầu
tư xây dựng hệ thống phòng thủ ven
biển ở khu vực cửa Hàn — nơi được
xem là yết hầu của kinh đô Huế. Tầm
quan trọng chiến lược này càng được
khẳng định khi chính vua Gia Long đã
tuyên bố Quảng Nam - Đà Nẵng là
"quận chân tay", tức phên dậu bảo vệ

c) Tình hình văn hóa - Xã hội
c) tình hình văn hóa xã hội:
• Người dân Đà Nẵng sở hữu đời sống văn hóa xã hội truyền thống mang tính làng xã đậm
nét, với những phẩm chất nổi bật như cần cù lao động, hiếu khách, thật thà, đồng thời rất
dễ tiếp nhận và hòa nhập với các tinh hoa văn hóa mới. Bên cạnh việc trân trọng các lễ
hội mang tính chất bảo hộ nghề nghiệp truyền thống, đây cũng là thời kỳ người dân nơi
đây đặc biệt coi trọng việc học, từ học chữ cho đến học nghề. Nhờ tinh thần hiếu học đó,
nền giáo dục khoa cử Nho học của triều Nguyễn đương thời đã bắt đầu ghi nhận và làm
nổi bật lên một số tên tuổi tài năng xuất thân từ chính cư dân vùng đất này.

Từ cuối thế kỷ XVI, các nước phương Tây đã thường xuyên qua lại Đà
Nẵng, và đến giữa thế kỷ XIX, nơi đây trở thành cửa ngõ chiến lược
để họ thực hiện tham vọng xâm lược Việt Nam. Trong những thập kỷ
đầu thế kỷ XIX, Pháp liên tục cho tàu đến Đà Nẵng đòi thực hiện các
quyền lợi nhượng địa từ Hiệp ước Versailles 1787 nhưng đều bị nhà
Nguyễn cự tuyệt. Điều này khiến Pháp quyết định chuyển sang
dùng vũ lực, nổ súng tấn công thủy quân năm 1847, bắn phá Sơn
Trà năm 1856 và chính thức chọn Đà Nẵng làm điểm khởi đầu cho
kế hoạch xâm lược vào năm 1858.
Trước âm mưu của Pháp, triều đình nhà Nguyễn nhận thức rõ vị trí
xung yếu của Đà Nẵng nên đã quy hoạch nơi đây thành cửa ngõ
duy nhất được phép giao thương với phương Tây để dễ bề kiểm
soát. Quyết định này được thể hiện nghiêm ngặt qua đạo dụ của
vua Minh Mạng, bắt buộc tất cả tàu buôn phương Tây chỉ được đậu
tại cửa Hàn và nghiêm cấm ghé vào các cửa biển khác.
Để bảo vệ kinh đô, triều đình đã ráo riết tăng cường phòng thủ bằng
cách xây thành lũy, tăng quân, trang bị thêm súng thần công và
kính thiên lý châu Âu. Vào năm 1840, vua Minh Mạng đã trực tiếp
chỉ thị cho Tổng đốc Nguyễn Tri Phương phải đặc biệt chú trọng tu
bổ, chỉnh lý hai thành An Hải, Điện Hải cùng pháo đài Phòng Hải
nhằm sẵn sàng đối phó với tàu phương Tây tại vùng biển yết hầu

d) Thực dân Pháp xâm lược Đà
Nẵng

II.. Đà Nẵng từ năm 1858 đến cuối thế
kỉ XIX
Nhờ sở hữu những lợi thế sẵn có của mình, ngay từ buổi đầu mới
thiết lập vương triều Nguyễn, cảng Đà Nẵng đã được triều đình tin
tưởng lựa chọn để trở thành cửa ngõ đối ngoại chính thức của
nước ta trong việc giao thương và tiếp xúc với các quốc gia
phương Tây.

Nguyễn Tri
Phương

là danh tướng kiệt xuất của triều Nguyễn, quê ở Thừa Thiên Huế, từng được
các vua Minh Mạng, Tự Đức tin dùng và giao nhiều trọng trách như Thượng
thư Bộ Công, Thượng thư Bộ Lại, Phụ chính đại thần. Trong sự nghiệp quân sự,
ông lập nhiều chiến công vang dội từ việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở cả hai
miền Nam, Bắc đến việc khẩn hoang lập ấp. Khi thực dân Pháp xâm lược, ông
là linh hồn của cuộc kháng chiến, nổi bật với việc tổ chức phòng thủ kiên
cường tại mặt trận Đà Nẵng năm 1858, bẻ gãy kế hoạch "đánh nhanh thắng
nhanh" của địch. Sau đó, ông tiếp tục vào Nam chỉ huy chiến tuyến Chí Hòa
(1860 - 1861) và ra Bắc làm Khâm mạng đại thần giữ thành Hà Nội. Năm
1873, khi thành Hà Nội thất thủ, ông bị thương nặng và đã khảng khái nhịn ăn
để tuẫn tiết sau khi con trai ông là phò mã Nguyễn Lâm hy sinh.
Để tri ân lòng yêu nước và công lao to lớn của ông, nhân dân Đà Nẵng luôn
dành cho vị danh tướng này sự tôn kính sâu sắc. Tượng của ông đã được trân
trọng dựng ngay bên trong di tích thành Điện Hải — nơi ông từng tổng chỉ huy
chống Pháp. Ngoài ra, tên của ông cũng được đặt cho một con đường lớn và
một cây cầu huyết mạch bắc qua sông Cẩm Lệ của thành phố.

a) cuộc kháng chiến
chống pháp tại Đà Nẵng
Cuộc kháng chiến chống Pháp tại Đà Nẵng chính thức bùng nổ vào ngày
31 tháng 08 năm 1858, khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha gồm 2.350
quân cùng 16 chiến hạm rầm rộ tập kết tại vịnh Đà Nẵng. Mờ sáng ngày
hôm sau, ngày 01 tháng 09 năm 1858, tướng Rigault de Genouilly gửi tối
hậu thư ép quan trấn thủ Đà Nẵng phải đầu hàng và nộp toàn bộ vũ khí,
đồn lũy trong vòng hai tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, không đợi hết thời gian
hẹn, liên quân đã chủ động nổ súng bắn phá dữ dội vào các vị trí đặt đại
bác cùng các hải đài của triều đình nhà Nguyễn ở phía tây nam bán đảo
Sơn Trà. Đồng thời, các tàu chiến của địch tiến hành thả neo ở cửa sông,
pháo kích trực tiếp vào các đồn chiến lược gồm Nại Hiên Đông, An Hải và
Điện Hải. Mặc dù quân đội nhà Nguyễn đã anh dũng bắn trả quyết liệt,
song do phần lớn đạn pháo của ta thiếu tính năng sát thương, công phá
mạnh như của địch và bắn không trúng mục tiêu, lực lượng đồn trú tại
các đồn tiền tiêu bị tiêu hao nặng nề và buộc phải lui binh. Đến chiều
cùng ngày, toàn bộ các đồn của ta ở phía hữu ngạn đều bị hạ, và sang
ngày 02 tháng 09 năm 1858, quân Pháp tiếp tục tập trung hỏa lực đánh

a) cuộc kháng chiến
chống pháp tại Đà Nẵng
Ngay sau khi nhận được tin cấp báo về việc quân Pháp gây hấn, triều đình
nhà Nguyễn lập tức điều động quân viện binh ứng cứu và cử danh tướng
Nguyễn Tri Phương làm Tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam. Sau khi trực tiếp
vào chiến trường và phân tích kỹ lưỡng các điểm mạnh, điểm yếu của cả
hai bên, Nguyễn Tri Phương đã đề ra một kế sách "giằng dai" vô cùng đúng
đắn và sáng suốt nhằm bẻ gãy sức mạnh quân sự của giặc. Ông chủ trương
tổ chức bao vây chặt chẽ, chặn địch ngay ngoài mé biển, liên tục tổ chức
các trận phục kích và thực hiện triệt để chiến thuật "vườn không nhà trống"
bằng cách di dời toàn bộ người dân vào bên trong nhằm cắt đứt mọi nguồn
tiếp tế của kẻ thù. Chiến lược này đã giúp quân ta phát huy tối đa lợi thế về
địa hình, cô lập quân giặc, giữ vững trận địa và trực tiếp làm phá sản hoàn
toàn kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp. Hệ quả là sau
hơn 5 tháng bị giam chân tại chỗ, liên quân Pháp – Tây Ban Nha lâm vào
tình cảnh kiệt quệ do hao mòn lực lượng, thiếu thốn lương thực, thuốc men,
cùng với việc bệnh tật gia tăng trầm trọng. Bước đầu thất bại thảm hại tại
đây, đến tháng 02 năm 1859, phần lớn quân địch buộc phải chuyển hướng

Sáng ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở
màn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với âm mưu thực hiện kế hoạch "Đánh nhanh thắng nhanh".
Trước thế giặc mạnh, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của danh tướng Nguyễn Tri Phương đã anh dũng, chủ
động đứng lên kháng chiến. Chúng ta đã triển khai chiến thuật phòng thủ kiên cố bằng hệ thống lũy liên
hoàn, đồng thời kiên quyết thực hiện chiến lược "Vườn không nhà trống" để triệt tiêu nguồn tiếp tế của
địch. Phối hợp với quân triều đình, các đội nghĩa binh địa phương liên tục ngày đêm phục kích, quấy rối và
bẻ gãy các cuộc càn quét của quân xâm lược. Tinh thần chiến đấu kiên cường ấy đã khiến quân Pháp rơi
vào tình cảnh khốn đốn, bị giam chân suốt nhiều tháng liền trên bán đảo Sơn Trà trong tình trạng thiếu
lương thực, dịch bệnh hoành hành và tổn thất nặng nề. Kế hoạch "Đánh nhanh thắng nhanh" của thực
dân Pháp hoàn toàn bị phá sản, buộc chúng phải để lại một lực lượng nhỏ và chuyển mũi nhọn tấn công
vào Gia Định năm 1859, rồi rút toàn bộ khỏi Đà Nẵng vào năm 1860. Thắng lợi này là minh chứng hùng
hồn cho lòng yêu nước và ý chí bất khuất của nhân dân ta ngay từ những ngày đầu chống Pháp.

b) Đà Nẵng dưới thời
thành phố nhượng địa
của Pháp

Năm 1888, dưới sức ép của Toàn quyền Đông
Dương, vua Đồng Khánh buộc phải nhượng
đứt chủ quyền Đà Nẵng (Tourane) cùng Hà
Nội và Hải Phòng cho Pháp. Đà Nẵng trở
thành đơn vị hành chính duy nhất ở Trung Kỳ
áp dụng quy chế nhượng địa như chính quốc.
Toàn bộ bộ máy quản lý và hạ tầng đô thị
được quy hoạch đồng bộ theo trục dọc sông
Hàn, lấy Tòa Đốc lý nhìn ra vịnh Đà Nẵng làm
trung tâm, biến nơi đây thành một thành phố
cảng giàu tiềm năng kinh tế.
Từ đầu thế kỷ XX, chính quyền Pháp tập trung
đầu tư mạnh vào hạ tầng kỹ thuật như xây
đập ngăn cát, nạo vét sông cảng, xây hải
đăng, lắp cần trục và khánh thành sân bay
dân dụng vào năm 1926. Song song đó, các
dịch vụ đô thị hiện đại cũng lần lượt ra đời như

Quá trình Đà Nẵng trở thành "thành phố nhượng địa" của thực dân Pháp diễn ra từng bước thông qua các
hiệp ước bất bình đẳng được áp đặt lên triều đình nhà Nguyễn. Sau khi thất bại trong âm mưu chiếm Đà
Nẵng bằng quân sự (1858–1860) và chuyển hướng đánh chiếm Nam Kỳ, Pháp đã dùng sức ép ngoại giao để
từng bước thọc sâu vào vùng đất này. Theo Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Hiệp ước Giáp Tuất (1874), triều
đình buộc phải mở cửa biển Đà Nẵng cho Pháp thương mại, đồng thời cho phép họ thiết lập tòa Lãnh sự và
xây dựng doanh trại bảo vệ. Đến khi hoàn thành thôn tính Việt Nam bằng Hiệp ước Patenôtre (1884), thực
dân Pháp càng ráo riết hiện thực hóa việc chia cắt chủ quyền các đô thị chiến lược. Đỉnh điểm là vào ngày
3/10/1888, dưới áp lực toàn diện của Toàn quyền Đông Dương, vua Đồng Khánh đã phải ký Đạo dụ chính
thức nhượng hẳn quyền sở hữu hoàn toàn ba thành phố, trong đó có Đà Nẵng cho Pháp. Kể từ thời điểm
này, Đà Nẵng bị đổi tên thành Tourane, hoàn toàn tách khỏi sự quản lý của triều đình Huế và biến thành
một vùng đất thuộc địa trực trị, chịu sự cai trị trực tiếp của người Pháp nhằm phục vụ cho các mưu đồ quân
sự và khai thác kinh tế của chúng tại miền Trung.

1.
2.
3.

Củng Cố

4.

Từ thế kỷ XVI, Đà Nẵng (thời đó được gọi là Cửa
Hàn) đã bắt đầu trở thànĐà Nẵng trong hệ thống
giao thương quốc tế của Đàng Trong dưới thời các
chúa Nguyễn trước thế kỷ XIX? h một thương
cảng sầm uất. Bạn hãy cho biết vai trò của
Trong giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1860, thực
dân Pháp đã thực hiện âm mưu gì khi chọn Đà
Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên trong cuộc
xâm lược Việt Nam, và vì sao kế hoạch này của
chúng bị thất bại?
Hãy phân tích vai trò và những đóng góp chiến
lược của danh tướng Nguyễn Tri Phương trong
công cuộc tổ chức phòng thủ tại mặt trận Đà
Nẵng trong những năm đầu (1858–1860)?

Sự kiện ngày 3/10/1888 đánh dấu bước ngoặt lớn
trong lịch sử hành chính của Đà Nẵng. Hãy cho
biết nội dung của sự kiện này và hậu quả của nó
đối với quyền tự chủ của triều đình nhà Nguyễn
tại địa phương này là gì?

Trần Ngọc Huy

THANK
YOU
 
Gửi ý kiến