Chương VII Giáo trình chính trị

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: 123CNT
Người gửi: Chu Minh Tuân
Ngày gửi: 23h:57' 17-12-2009
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 72
Nguồn: 123CNT
Người gửi: Chu Minh Tuân
Ngày gửi: 23h:57' 17-12-2009
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 72
Số lượt thích:
0 người
Chương VII
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng,
phát triển nền văn hoá.
Đường lối xây dựng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội
II. Quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội.
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng, phát triển nền văn hoá:
- Văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước.
- Là đời sống tinh thần của xã hội.
- Là hệ các giá trị, truyền thống, lối sống, năng lực sáng tạo, bản sắc.
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng, phát triển nền văn hoá:
Trong những năm 1943 - 1954:
- 1943, Đảng ta họp bàn và có chủ trương kịp thời về văn hoá văn nghệ Việt Nam, do đồng chí Trường Chinh dự thảo bản
(Đề cương văn hoá Việt Nam).
- 1945, xác định nhiệm vụ hàng đầu về xây dựng văn hoá của nước Việt Nam độc lập là: Chống nạn mù chữ và giào dục lại tinh thần nhân dân.
- 11-1945, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Kháng chiến kiến quốc.
- 1946, cuộc vận động thực hiện Đời sống mới.
1. Thời kỳ trước đổi mới:
a) Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới.
Trong những năm 1955 - 1986:
- 1960, Đại hội lần thứ III Chủ trương tiến hành Cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá cùng CM quan hệ sản xuất, CM KHKT.
Mục đích làm cho nhân dân thoát nạn mù chữ và thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, có trình độ văn hoá ngày càng cao, tiến bộ KHKT.
- Đại hội IV và V, tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển mạnh khoa học, văn hoá nghệ thuật, giáo dục tinh thần làm chủ tập thể, chống tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, phê phàn tư tưởng tiểu tư sản, xoá bỏ ảnh hưởng của tư tưởng - văn hoá thực dân mới ở miền Nam.
a) Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới.
Trong những năm 1955 - 1986 công tác tư tưởng và văn hoá đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng cả nước.
b) Đánh giá sự thực hiện đường lối.
Công tác tư tưởng và văn hoá thiếu nhiều sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây dựng thể chế văn hoá còn chậm. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có chiều hướng phát triển. Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập.
Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá giai đoạn 1955 - 1986 bị chi phối bởi tư duy chính trị "nắm vững chuyên chính vô sản" mà thực chất là đấu tranh giai cấp.
Cuộc cách mạng quan hệ sản xuất ảnh hưởng tới cách mạng tư tưởng văn hoá trong giai đoạn này.
Chiến tranh cùng với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp và tâm lý bình quân chủ nghĩa đã làm giảm độc lực phát triển văn hoá, giáo dục; kìm hãm năng lực tự do sáng tạo.
Hạn chế và nguyên nhân
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Đại hội VI (1986) xác định khoa học kỹ thuật là một động lực to lớn đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hôi.
- Đại hội VII (1991) đưa ra quan niệm nền văn hoá Việt Nam có đặc trưng: tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng. Xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.
- Đại hội VIII (1996) cũng khẳng định: khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc.
- Đại hộc IX (2004) xác định thêm "Phát triển văn hoá đồng bộ với phát triển kinh tế".
a) Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
- Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp chung của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
- Văn hoá là một mặt trân; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
b) Quan điểm chỉ đạo và chủ trương về xây dựng và phát triển nền văn hoá.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Trong những năm qua, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền văn hoá mới đã bước đầu được tạo dựng; quá trình đổi mới tư duy về văn hoá, về xây dựng con người và nguồn nhân lực có bước phát triển rõ rệt; môi trường văn hoá có những chuyển biến theo hướng tích cực; hợp tác quốc tế về văn hoá được mở rộng.
- Quy mô giáo dục và đào tạo tăng ở tất cả các cấp, bậc học. Dân trí tiếp tục được nâng cao.
- Khoa học và công nghệ có bước phát triên, phục vụ thiết thực hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Văn hoá phát triển, việc xây dựng đời sống văn hoá và nếp sống văn minh có tiền bộ ở tất cả các tỉnh thành trong nước.
- Những thành tựu trên là sự tham gia tích cực của nhân dân cùng sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước.
c) Đánh giá việc thực hiện đường lối.
Hạn chế và nguyên nhân
c) Đánh giá việc thực hiện đường lối.
- Những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hoá còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng.
- Sự phát triển của văn hoá chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng.
- Việc xây dựng thể chế văn hoá còn chậm, chưa đổi mới, thiếu đồng bộ, làm hạn chế tác dụng của văn hoá đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước.
- Tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu về đời sống văn hoá - tinh thần ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc vẫn chưa được khắc phục có hiệu quả.
II. Quá trình nhận thức và chủ trương
giải quyết các vấn đề xã hội:
Giai đoạn 1945 - 1954:
- Sau Cách mạng Tháng Tám, với chủ trương làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành.
- Chính sách tăng gia sản xuất, chủ trương tiết kiệm, đồng cam cộng khổ trở thành phong trào rộng rãi.
Giai đoạn 1955 - 1975:
- Chế độ phân phối về thực chất; chế độ bao cấp tràn lan dựa vào viện trợ.
Giai đoạn 1975 - 1985:
- Cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp.
1. Thời kỳ trước đổi mới:
a) Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội.
Hạn chế và nguyên nhân
b) Đánh giá thực hiện đường lối.
Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong cách giải quyết các vẫn đề xã hội.
Trong 9 năm kháng chiến, kiến quốc và 25 năm thời kỳ bao cấp, đã đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương và an ninh xã hội, hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương với tiền tuyến.
Chúng ta đặt chưa đúng tầm chính sách xã hội trong quan hệ với chính sách thuộc các lĩnh vực khác, đồng thời lại áp dụng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Đại hội VI (1986) đưa vấn đề xã hội lên tầm chính sách xã hội.
- Đại hội VIII (1996) có quan điểm:
+ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Thực hiện nhiều hình thức phân phối.
+ Khuyến khích làm giàu hợp pháp.
+ Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần văn hoá.
- Đại hộc IX chủ trương phải kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, từng địa phương.
a) Quá trình đổi mới nhận thức về giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.
- Xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.
- Chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ.
- Coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI), và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội.
Khẳng định, mục tiêu cuối cùng và cao nhất của sự phảt triển phải là con người.
b) Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả mục tiêu xoá đói, giảm nghèo.
- Bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả.
- Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống nòi.
- Thực hiện tốt các chính sách dân số và cơ cấu dân số hợp lý.
- Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội.
- Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng.
c) Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Từ tâm lý thụ động, ỷ lại đã chuyển sang tính năng động, chủ động và tích cực.
- Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích tập thể một cách chung chung, trừu tượng chuyển sang phân phối theo lao động, cộng bằng xã hội được thể hiện rõ hơn.
- Thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
- Từ chỗ Nhà nước bao cấp chuyển sang nhiều thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm.
- Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hoá giàu - ngheo sang khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp.
- Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội thuần nhất sang xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng.
d) Đánh giá sự thực hiện đường lối.
Hạn chế và nguyên nhân
d) Đánh giá sự thực hiện đường lối.
áp lực gia tăng dân số còn lớn, chất lượng dân số còn thấp, vấn đề việc làm còn nan giải.
Sự phân hoá giàu - nghèo và bất công xã hội tiếp tục gia tăng đáng lo ngại.
Tệ nạn xã hội gia tăng .
Mội trường sinh thái bị ô nhiễm.
Hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu.
Qua hơn 20 năm đổi mới, lĩnh vực phát triển xã hội đã đạt nhiều thành tựu. Tính năng động xã hội khác hẳn thời bao cấp. Một xã hội mở đang dần được hình thành.
Tăng trưởng kinh tế vẫn tách rời mục tiêu và chính sách xã hội, chạy theo số lượng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững xã hội.
Quản lý xã hội còn nhiều bất cập, không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội.
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng,
phát triển nền văn hoá.
Đường lối xây dựng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội
II. Quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội.
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng, phát triển nền văn hoá:
- Văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước.
- Là đời sống tinh thần của xã hội.
- Là hệ các giá trị, truyền thống, lối sống, năng lực sáng tạo, bản sắc.
I. Quá trình nhận thức và nội dung đường lối xây dựng, phát triển nền văn hoá:
Trong những năm 1943 - 1954:
- 1943, Đảng ta họp bàn và có chủ trương kịp thời về văn hoá văn nghệ Việt Nam, do đồng chí Trường Chinh dự thảo bản
(Đề cương văn hoá Việt Nam).
- 1945, xác định nhiệm vụ hàng đầu về xây dựng văn hoá của nước Việt Nam độc lập là: Chống nạn mù chữ và giào dục lại tinh thần nhân dân.
- 11-1945, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Kháng chiến kiến quốc.
- 1946, cuộc vận động thực hiện Đời sống mới.
1. Thời kỳ trước đổi mới:
a) Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới.
Trong những năm 1955 - 1986:
- 1960, Đại hội lần thứ III Chủ trương tiến hành Cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá cùng CM quan hệ sản xuất, CM KHKT.
Mục đích làm cho nhân dân thoát nạn mù chữ và thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, có trình độ văn hoá ngày càng cao, tiến bộ KHKT.
- Đại hội IV và V, tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển mạnh khoa học, văn hoá nghệ thuật, giáo dục tinh thần làm chủ tập thể, chống tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, phê phàn tư tưởng tiểu tư sản, xoá bỏ ảnh hưởng của tư tưởng - văn hoá thực dân mới ở miền Nam.
a) Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới.
Trong những năm 1955 - 1986 công tác tư tưởng và văn hoá đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng cả nước.
b) Đánh giá sự thực hiện đường lối.
Công tác tư tưởng và văn hoá thiếu nhiều sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây dựng thể chế văn hoá còn chậm. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có chiều hướng phát triển. Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập.
Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá giai đoạn 1955 - 1986 bị chi phối bởi tư duy chính trị "nắm vững chuyên chính vô sản" mà thực chất là đấu tranh giai cấp.
Cuộc cách mạng quan hệ sản xuất ảnh hưởng tới cách mạng tư tưởng văn hoá trong giai đoạn này.
Chiến tranh cùng với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp và tâm lý bình quân chủ nghĩa đã làm giảm độc lực phát triển văn hoá, giáo dục; kìm hãm năng lực tự do sáng tạo.
Hạn chế và nguyên nhân
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Đại hội VI (1986) xác định khoa học kỹ thuật là một động lực to lớn đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hôi.
- Đại hội VII (1991) đưa ra quan niệm nền văn hoá Việt Nam có đặc trưng: tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng. Xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.
- Đại hội VIII (1996) cũng khẳng định: khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc.
- Đại hộc IX (2004) xác định thêm "Phát triển văn hoá đồng bộ với phát triển kinh tế".
a) Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
- Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp chung của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
- Văn hoá là một mặt trân; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
b) Quan điểm chỉ đạo và chủ trương về xây dựng và phát triển nền văn hoá.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Trong những năm qua, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền văn hoá mới đã bước đầu được tạo dựng; quá trình đổi mới tư duy về văn hoá, về xây dựng con người và nguồn nhân lực có bước phát triển rõ rệt; môi trường văn hoá có những chuyển biến theo hướng tích cực; hợp tác quốc tế về văn hoá được mở rộng.
- Quy mô giáo dục và đào tạo tăng ở tất cả các cấp, bậc học. Dân trí tiếp tục được nâng cao.
- Khoa học và công nghệ có bước phát triên, phục vụ thiết thực hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Văn hoá phát triển, việc xây dựng đời sống văn hoá và nếp sống văn minh có tiền bộ ở tất cả các tỉnh thành trong nước.
- Những thành tựu trên là sự tham gia tích cực của nhân dân cùng sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước.
c) Đánh giá việc thực hiện đường lối.
Hạn chế và nguyên nhân
c) Đánh giá việc thực hiện đường lối.
- Những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hoá còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng.
- Sự phát triển của văn hoá chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng.
- Việc xây dựng thể chế văn hoá còn chậm, chưa đổi mới, thiếu đồng bộ, làm hạn chế tác dụng của văn hoá đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước.
- Tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu về đời sống văn hoá - tinh thần ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc vẫn chưa được khắc phục có hiệu quả.
II. Quá trình nhận thức và chủ trương
giải quyết các vấn đề xã hội:
Giai đoạn 1945 - 1954:
- Sau Cách mạng Tháng Tám, với chủ trương làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành.
- Chính sách tăng gia sản xuất, chủ trương tiết kiệm, đồng cam cộng khổ trở thành phong trào rộng rãi.
Giai đoạn 1955 - 1975:
- Chế độ phân phối về thực chất; chế độ bao cấp tràn lan dựa vào viện trợ.
Giai đoạn 1975 - 1985:
- Cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp.
1. Thời kỳ trước đổi mới:
a) Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội.
Hạn chế và nguyên nhân
b) Đánh giá thực hiện đường lối.
Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong cách giải quyết các vẫn đề xã hội.
Trong 9 năm kháng chiến, kiến quốc và 25 năm thời kỳ bao cấp, đã đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương và an ninh xã hội, hoàn thành nhiệm vụ của hậu phương với tiền tuyến.
Chúng ta đặt chưa đúng tầm chính sách xã hội trong quan hệ với chính sách thuộc các lĩnh vực khác, đồng thời lại áp dụng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Đại hội VI (1986) đưa vấn đề xã hội lên tầm chính sách xã hội.
- Đại hội VIII (1996) có quan điểm:
+ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Thực hiện nhiều hình thức phân phối.
+ Khuyến khích làm giàu hợp pháp.
+ Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần văn hoá.
- Đại hộc IX chủ trương phải kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, từng địa phương.
a) Quá trình đổi mới nhận thức về giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.
- Xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.
- Chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ.
- Coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI), và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội.
Khẳng định, mục tiêu cuối cùng và cao nhất của sự phảt triển phải là con người.
b) Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả mục tiêu xoá đói, giảm nghèo.
- Bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả.
- Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống nòi.
- Thực hiện tốt các chính sách dân số và cơ cấu dân số hợp lý.
- Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội.
- Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng.
c) Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Trong thời kỳ đổi mới.
- Từ tâm lý thụ động, ỷ lại đã chuyển sang tính năng động, chủ động và tích cực.
- Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích tập thể một cách chung chung, trừu tượng chuyển sang phân phối theo lao động, cộng bằng xã hội được thể hiện rõ hơn.
- Thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
- Từ chỗ Nhà nước bao cấp chuyển sang nhiều thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm.
- Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hoá giàu - ngheo sang khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp.
- Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội thuần nhất sang xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng.
d) Đánh giá sự thực hiện đường lối.
Hạn chế và nguyên nhân
d) Đánh giá sự thực hiện đường lối.
áp lực gia tăng dân số còn lớn, chất lượng dân số còn thấp, vấn đề việc làm còn nan giải.
Sự phân hoá giàu - nghèo và bất công xã hội tiếp tục gia tăng đáng lo ngại.
Tệ nạn xã hội gia tăng .
Mội trường sinh thái bị ô nhiễm.
Hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu.
Qua hơn 20 năm đổi mới, lĩnh vực phát triển xã hội đã đạt nhiều thành tựu. Tính năng động xã hội khác hẳn thời bao cấp. Một xã hội mở đang dần được hình thành.
Tăng trưởng kinh tế vẫn tách rời mục tiêu và chính sách xã hội, chạy theo số lượng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững xã hội.
Quản lý xã hội còn nhiều bất cập, không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội.
 







Các ý kiến mới nhất