Violet
Baigiang
8tuoilaptrinh

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

GV Lương Thị Ngọc Bích - Ngữ văn 9 - Bài 24 Sang thu

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn Hà Giang
Ngày gửi: 09h:52' 27-04-2021
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích: 0 người
I- D?c, chỳ thớch
1- Tác giả
Nguyễn Hữu Thỉnh sinh năm1942.
Quê quán: huyện Tam Duơng, tỉnh Vĩnh Phúc
Nhiều năm làm công tác tuyên huấn trong quân đội.
Trưuởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, ngòi bút gắn với đề tài chiến tranh, ngưuời lính và cuộc sống nông thôn.

Sang thu

1. Tác giả:
- Hữu Thỉnh -
2. Tác phẩm:
Bài thơ in trong tập thơ:
" Từ chiến hào tới thành phố"
- Hoàn cảnh sáng tác:
+ Thiên nhiên bắt đầu sang thu
+ Đất nưuớc vừa bưuớc từ chiến tranh sang hoà bình (1977).
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
TÁC GIẢ : Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM: Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
Bỗng nhận ra huơng ổi
Phả vào trong gió se
Suương chùng chình qua ngõ
Hình nhuư thu đã về
Sông đuược lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mua
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
2.Tác phẩm
a. Thể thơ:
b. Phưuơng thức biểu đạt:
d. Cảm xúc chung của bài thơ:
Những rung động và suy tu của nhà thơ trưuớc cảnh vật thiên nhiên lúc giao mùa.
c. Bố cục:
Phần1: Tín hiệu báo thu về ( khổ 1).
Phần2: Quang cảnh đất trời vào thu (khổ2).
Phần3: Những biến đổi âm thầm trong lòng cảnh vật (khổ3).
Thơ năm chữ.
Biểu cảm kết hợp với miêu tả.
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
II/ Đọc, hi?u văn bản.
Bỗng nhận ra huương ổi
Phả vào trong gió se
Sưuơng chùng chình qua ngõ
Hình nhuư thu đã về
1. Tín hiệu báo thu về.
Hưuơng ổi
Gió se: -
Sưuơng
? Nghệ thuật: nhân hoá,
- phả -> Khứu giác.
-> Xúc giác.
- chùng chình ->Thị giác
=>Tạo ra những bưuớc chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa.
từ láy hình ảnh giàu sức gợi tả.
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
Bỗng nhận ra hưuơng ổi
Phả vào trong gió se
Sưuơng chùng chình qua ngõ
Hình nhuư thu đã về
1. Tín hiệu báo thu về.
huương ổi
Gió se
Sưuơng
- Nghệ thuật: nhân hoá, từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi tả -> Những bưuớc chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa.
- phả
- chùng chình
Bỗng.
Hình nhưu. Cảm xúc ngỡ ngàng, bâng khuâng, mơ hồ
=>Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
SƠ ĐỒ TƯ DUY – TIẾT 121 : SANG THU ( Hữu Thỉnh )
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
NỘI DUNG
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
1. Tín hiệu báo thu về.
2. Quang cảnh đất trời sang thu.
Sông đưuợc lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Sông:
Chim:
Đám mây:
dềnh dàng
bắt đầu vội vã.
: Vắt nửa mình sang thu
Nghệ thuật đối, diễn tả sự vận động tưuơng phản của sự vật.
Từ láy gợi cảm, nhân hoá sống động làm cho sự vật trở nên, có hồn.
=>Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.
Nếu tưởng tượng , em sẽ vẽ bức tranh thu lúc giao mùa như thế nào ?

Nguyễn Thị Thanh Hường - THCS Bình Minh
Đáp án
Thiên nhiên sang thu
Khổ 1
Khổ 2
Giác quan
Vị trí miêu tả của cảnh
Thính giác, thị giác, khứu giác (cảm giác- ngỡ ngàng)
Ngắm nhìn
(tri giác)
Thiên nhiên đuợc miêu tả ở tầm thấp, gần
Thiên nhiên đuợc miêu tả ở tầm cao, xa, rộng
Quang cảnh đất trời sang thu: Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.( nắng nhạt, mưa vơi, sấm cũng bớt bất ngờ…)
SƠ ĐỒ TƯ DUY – TIẾT 121 : SANG THU ( Hữu Thỉnh )
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
NỘI DUNG
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Quang cảnh đất trời sang thu: Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.( nắng nhạt, mưa vơi, sấm cũng bớt bất ngờ…)
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
1. Tín hiệu báo thu về.
2. Quang cảnh đất trời ngả dần sang thu.
3. Những chuyển biến âm thầm trong lòng cảnh vật.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưua
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Cảnh
đứng tuổi
Hàng cây
Vẫn còn - vơi dần - cũng bớt
Nắng - muưa - sấm
Bản lĩnh cứng cỏi
Điềm tĩnh
? Nghệ thuật ẩn dụ.
? Từ cảnh vật gợi gợi suy ngẫm sâu xa, kín đáo về cuộc đời.Cảnh vật sang thu và con ngưuời cũng ở độ "sang thu"
" Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tuợng thiên nhiên này, tôi muốn gửi gắm suy ngẫm của mình - khi con ngưuời đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trưuớc những tác động bất thưuờng của ngoại cảnh, của cuộc đời."
( Lời tâm sự của nhà thơ Hữu Thỉnh)
Những biến chuyển âm thầm trong lòng cảnh vật: đất trời chuyển mùa, cảnh vật thời tiết thay đổi gợi suy ngẫm sâu xa kín đáo => cảnh vật sang thu và con người, đất nước cũng ở độ “ sang thu”
SƠ ĐỒ TƯ DUY – TIẾT 121 : SANG THU ( Hữu Thỉnh )
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
NỘI DUNG
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Quang cảnh đất trời sang thu: Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.( nắng nhạt, mưa vơi, sấm cũng bớt bất ngờ…)
Những biến chuyển âm thầm trong lòng cảnh vật: đất trời chuyển mùa, cảnh vật thời tiết thay đổi gợi suy ngẫm sâu xa kín đáo => cảnh vật sang thu và con người cũng ở độ “ sang thu”
- Em hãy trình bày những nét đặc sắc về nghệ thuật sử dụng thành công trong tác phẩm ?
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
1. Nghệ thuật:
- Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ kết hợp với đối lập tương phản..
- Sử dụng nhiều từ láy gợi tả, hình ảnh giàu tính tượng trưng.
- Bài thơ có nhiều lớp nghĩa : Trời đất sang thu; đời sống cảnh vật sang thu; đời người, đất nước sang thu.
SƠ ĐỒ TƯ DUY – TIẾT 121 : SANG THU ( Hữu Thỉnh )
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
NỘI DUNG
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Quang cảnh đất trời sang thu: Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.( nắng nhạt, mưa vơi, sấm cũng bớt bất ngờ…)
Những biến chuyển âm thầm trong lòng cảnh vật: đất trời chuyển mùa, cảnh vật thời tiết thay đổi gợi suy ngẫm sâu xa kín đáo => cảnh vật sang thu và con người cũng ở độ “ sang thu”
NGHỆ THUẬT
Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ kết hợp với đối lập tương phản.
Sử dụng nhiều từ láy gợi tả, hình ảnh giàu tính tượng trưng.
Bài thơ có nhiều lớp nghĩa : Trời đất sang thu; đời sống cảnh vật sang thu; đời người sang thu.
Cảnh
Khổ I
Nghệ thuật
Nhân hoá, ẩn dụ kết hợp đối lập tuương phản.....
Từ ngữ giàu sức gợi cảm, hình ảnh giàu tính tuợng trựng.
Khổ II
Khổ III
Tình
Tín hiệu thu về
(thấp, hẹp, gần)
Đất trời sang thu
(cao,rộng,xa)
Đổi thay sâu kín
(ngoài vào trong)
Ngỡ ngàng
(cảm giác)
Ngắm nhìn
(tri giác)
Trầm ngâm
(suy ngẫm)
Sang Thu
(Cảnh vật thiên nhiên lúc giao mùa)
Tính đa nghĩa của bài thơ
Sang thu
Thiên nhiên
Đất nưuớc
Đời ngưuời
Em hãy nêu ý nghĩa văn bản ?
Cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước thiên nhiên ở thời điểm giao mùa, thể hiện tình cảm tha thiết , trân trọng vẻ đẹp của quê hương xứ sở.
Suy ngẫm sâu lắng về con người, về cuộc đời, về đất nước..
Ý NGHĨA VĂN BẢN
SƠ ĐỒ TƯ DUY – TIẾT 121 : SANG THU ( Hữu Thỉnh )
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
NỘI DUNG
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Quang cảnh đất trời sang thu: Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.( nắng nhạt, mưa vơi, sấm cũng bớt bất ngờ…)
Những biến chuyển âm thầm trong lòng cảnh vật: đất trời chuyển mùa, cảnh vật thời tiết thay đổi gợi suy ngẫm sâu xa kín đáo => cảnh vật sang thu và con người cũng ở độ “ sang thu”
NGHỆ THUẬT
Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ kết hợp với đối lập tương phản.
Sử dụng nhiều từ láy gợi tả, hình ảnh giàu tính tượng trưng.
Bài thơ có nhiều lớp nghĩa : Trời đất sang thu; đời sống cảnh vật sang thu; đời người sang thu.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
Cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước thiên nhiên ở thời điểm giao mùa, thể hiện tình cảm tha thiết , trân trọng vẻ đẹp của quê hương xứ sở.
Suy ngẫm sâu lắng về con người, về cuộc đời.
Nắng thu đang trải đầy
Đã trăng non múi buưởi
Bên cầu con nghé đợi
Cả chiều thu sang sông
( Hữu Thỉnh, Chiều sông Thưuơng)
Em không nghe rừng thu
Lá thu rơi xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
( Luưu Trọng Luư, Tiếng thu)
Long lanh đáy nưuớc in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.
( Nguyễn Du)
Nguyễn Thị Thanh Hường - THCS Bình Minh
Bỗng nhận ra hưuơng ổi
Phả vào trong gió se
Sưuơng chùng chình qua ngõ
Hình nhuư thu đã về
Sông đưuợc lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn muưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Sang thu

- Hữu Thỉnh -
Ghi nhớ
Từ cuối hạ sang đầu thu, đất trời có những chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt. Sự chuyển biến này đã đưuợc Hữu Thỉnh gợi lên bằng cảm nhận tinh tế, qua những hình ảnh giàu sức biểu cảm trong bài " Sang thu."
TÁC GIẢ
Hữu Thỉnh ( 1942), quê ở Tam Dương- Vĩnh Phúc, là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thường viết về con người và cuộc sống làng quê.
TÁC PHẨM
Bài thơ sáng tác năm 1977, in trong tập “ Từ chiến hào đến thành phố”
NỘI DUNG
Tín hiệu báo thu về: Những biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa ( hương ổi, gió se, sương chùng chình…). Bức tranh giao mùa nồng nàn hơi ấm làng quê trong cảm nhận ngỡ ngàng của tác giả.
Quang cảnh đất trời sang thu: Đất trời biến chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.( nắng nhạt, mưa vơi, sấm cũng bớt bất ngờ…)
Những biến chuyển âm thầm trong lòng cảnh vật: đất trời chuyển mùa, cảnh vật thời tiết thay đổi gợi suy ngẫm sâu xa kín đáo => cảnh vật sang thu và con người cũng ở độ “ sang thu”
NGHỆ THUẬT
Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ kết hợp với đối lập tương phản.
Sử dụng nhiều từ láy gợi tả, hình ảnh giàu tính tượng trưng.
Bài thơ có nhiều lớp nghĩa : Trời đất sang thu; đời sống cảnh vật sang thu; đời người sang thu.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
Cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước thiên nhiên ở thời điểm giao mùa, thể hiện tình cảm tha thiết , trân trọng vẻ đẹp của quê hương xứ sở.
Suy ngẫm sâu lắng về con người, về cuộc đời.
trò chơi ô chữ
H
Ư
Ơ
N

G
I
M
Ơ
H

B

T
N

G
N
H
Â
N
H
ó
T
U
Y
Ê
N
H
U
A
Tác giả cảm nhận mùa thu bắt đầu từ hương vị này?
1
2
3
4
5
H
M
T
A
U
U
Đây là từ diễn tả tâm trạng của nhà thơ qua câu "Hình như thu đã về"
Từ bỗng thể hiện trạng thái cảm xúc này
Biện pháp tu từ này được dùng nhiều nhất trong bài"Sang thu"
Đây là công việc mà Hữu Thỉnh từng làm trong quân đội.
M
ù
A
T
H
U

N
LUYỆN TẬP
Đề 1:
Viết bài văn cảm nhận khổ thơ sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
( Sang thu - Hữu Thỉnh - SGK Ngữ văn 9 tập 2)
1. Mở bài:
- Dẫn dắt giới thiệu khái quát về tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ "Sang thu"
- Nêu vấn đề nghị luận: Khổ thơ đầu của bài thơ là những cảm xúc ngỡ ngàng của nhà thơ về vẻ đẹp của mùa thu qua những tín hiệu ban đầu báo thu sang.
- Trích dẫn khổ thơ.
2. Thân bài:
a. Khái quát chung.
Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ: Bài thơ được sáng tác vào cuối năm 1977, in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.
“Sang thu” gợi lên khoảnh khắc giao mùa của thiên nhiên, khi đất trời chuyển từ hạ sang thu.
- Mạch cảm xúc: Bài thơ bắt đầu từ cảm xúc ngỡ ngàng, bâng khuâng trước những tín hiệu giao mùa nơi thôn xóm đến say mê trước những cảnh vật sang thu xa rộng, và rồi trầm ngâm trước những biến đổi bên trong của thiên nhiên và con người.
- Vị trí khổ thơ : Khổ thơ trên nằm ở đầu bài thơ thể hiện những cảm xúc ban đầu của nhà thơ trước những tín hiệu mùa thu.
Luận điểm 1. Vẻ đẹp của mùa thu ở ba câu thơ đầu là những tín hiệu nhẹ nhàng mà rõ rệt.
- Từ "bỗng" thể hiện sự bất ngờ, ngỡ ngàng trước những tín hiệu của mùa thu.  Bằng cảm nhận tinh tế, bằng khứu giác, thị giác, nhà thơ đã chợt nhận ra tín hiệu của thiên nhiên khi mùa thu lại về. .
- Mùa thu bắt đầu bằng “hương ổi” - Người ta có thể đưa vào bài thơ về mùa thu các hương vị ngọt ngào của ngô đồng, cốm xanh, hoa ngâu,... nhưng Hữu Thỉnh thì nhận ra hương vị dìu dịu, nhè nhẹ. Hương vị ấy đơn sơ, mộc mạc, đồng nội, rất quen thuộc của quê hương.
- Động từ “phả” thể hiện mùi hương ổi ở độ đậm nhất, thơm nồng quyến rũ, sánh lại, đậm đặc hoà vào gió heo may của mùa thu lan toả khắp không gian ...
- "gió se" là làn gió nhẹ, mang chút hơi lạnh đầu thu, còn được gọi là gió heo may. Ngọn gió se se lạnh, se se thổi, thổi vào cảnh vật, thổi vào lòng người một cảm giác mơn man, xao xuyến. Mùi hương ổi kết hợp với gió se tạo nên một bức tranh thu đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ.
- Nghệ thuật nhân hóa “Sương chùng chình qua ngõ" kết hợp với từ láy “chùng chình” gợi ra những màn sương nhỏ, mỏng, mềm mại, như “cố ý” chậm lại, thong thả giăng mắc nhẹ nhàng đường thôn ngõ xóm làng quê. Nó làm cho khí thu mát mẻ, cảnh thu thơ mộng, bình yên, huyền ảo.
-  Mùi hương ổi, một làn sương, chút gió se là những sự vật gần gũi làm nên những đường nét riêng của bức tranh mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ. Tất cả những tín hiệu thu ấy đến với tác giả nhẹ nhàng mà đột ngột quá, thu về với đất trời quê hương, với lòng người mà không hề báo trước.
Luận điểm 2: Tâm trạng của thi nhân trước những tín hiệu mùa thu.
- Tín hiệu mùa thu được cảm nhận bằng cả khứu giác (hương ổi), cả thị giác (sương). Những tín hiệu, bởi vậy, tạo nên ấn tượng mới mẻ với những liên tưởng mơ hồ, chập chờn không rõ nét. Phải vậy chăng mà nhà thơ, khi đã cảm nhận những nét riêng của mùa thu, vẫn còn dè dặt: Hình như thu đã về.
- Từ "Hình như" không có nghĩa là không chắc chắn, mà là thể hiện cái ngỡ ngàng, ngạc nhiên và có chút bâng khuâng. Đó là một trạng thái cảm xúc của thời điểm chuyển giao từ cuối hạ sang đầu thu. Thu đến nhẹ nhàng quá, mơ hồ quá. Bức tranh thu không phải chỉ cảm nhận bằng giác quan mà bằng cả tâm hồn nữa.
c. Khái quát, đánh giá.
- Khổ thơ viết bằng thể thơ năm chữ, có nhiều hình ảnh đẹp, trong sáng, gợi cảm. Giọng thơ êm ái, chậm rãi và nhẹ nhàng.
- Đoạn thơ là những cảm nhận về sự biến đổi nhẹ nhàng mà rõ rệt mang vẻ đẹp đặc trưng của bức tranh thu ở làng quê Bắc Bộ
- Liên hệ: Mùa thu trong thơ ca...
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ, bài thơ.
- Tình cảm, cảm xúc của em.
- Liên hệ bản thân.
- Nghệ thuật nhân hóa “Sương chùng chình qua ngõ" kết hợp với từ láy “chùng chình” gợi ra những màn sương nhỏ, mỏng, mềm mại, như “cố ý” chậm lại, thong thả giăng mắc nhẹ nhàng đường thôn ngõ xóm làng quê. Nó làm cho khí thu mát mẻ, cảnh thu thơ mộng, bình yên, huyền ảo.
Nguyễn Thị Thanh Hường - THCS Bình Minh
LUYỆN TẬP
Đề 2:
Viết bài văn cảm nhận về sự biến chuyển của cảnh vật, đất trời sang thu trong khổ thơ sau:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
(Sang thu - Hữu Thỉnh - SGK Ngữ văn 9 tập 2)
1. Mở bài:
- Dẫn dắt giới thiệu khái quát về tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ "Sang thu“: Hữu Thỉnh là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại VN. Ông là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con người, cuộc sống ở nông thôn, về mùa thu. Những vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vương vấn trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng đặc biệt là bài thơ Sang thu
- Nêu vấn đề nghị luận: Khổ thơ thứ hai của bài thơ là những cảm xúc của thi sĩ tiếp tục lan tỏa, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn về sự biến chuyển của cảnh vật, đất trời lúc sang thu.(trích thơ_
2. Thân bài:
a. Khái quát chung.
Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ: Bài thơ được sáng tác vào cuối năm 1977, đây là thời kì đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, thống nhất được hai năm và đi len xây dựng XHCN. Bài thơ in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.
“Sang thu” gợi lên khoảnh khắc giao mùa của thiên nhiên, khi đất trời chuyển từ hạ sang thu.
- Mạch cảm xúc: Bài thơ bắt đầu từ cảm xúc ngỡ ngàng, bâng khuâng trước những tín hiệu giao mùa nơi thôn xóm đến say mê trước những cảnh vật sang thu xa rộng, và rồi trầm ngâm trước những biến đổi bên trong của thiên nhiên và con người.
- Vị trí khổ thơ : Khổ thơ trên nằm ở phần trung tâm của bài thơ nối tiếp những cảm xúc ngỡ ngàng ban đầu của nhà thơ để rồi nhận ra sự đổi thay của cảnh vật, đất trời khi sang thu.
b. Các luận điểm:
Luận điểm 1. Hai câu thơ đầu là cảm nhận của nhà thơ về sự đổi thay của cảnh vật sang thu được thể hiện ở bức tranh nhiều tầng bậc.
- Nếu như ở khổ thơ đầu là cảnh vật sang thu ở vườn quê ngõ xóm thì ở khổ thơ thứ hai, cảnh vật đã mở rộng ra ở không gian rộng lớn với chiều sâu của dòng sông, chiều cao rộng của những cánh chim và bầu trời.
- Hình ảnh của dòng sông được nhân hóa“sông dềnh dàng”. Thu đã về, nước sông vẫn đầy chứ không cạn như mùa đông. Dòng sông êm đềm, thướt tha mềm mại, hiền hoà trôi một cách nhàn hạ, thanh thản khác hẳn với dòng chảy cuồn cuộn, gấp gáp, dữ dội như trong những ngày mưa lũ mùa hạ, gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu.
- Từ láy“dềnh dàng” không chỉ gợi ra vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu mà còn mang đầy tâm trạng của con người như chậm lại, như trễ nải, như ngẫm ngợi nghĩ suy về những trải nghiệm trong cuộc đời.
*Đó dường như cũng là tâm trạng của những người lính vừa trở về từ trong chiến tranh, giờ đây muốn sống chậm lại, tận hưởng niềm hạnh phúc của hòa bình.
- Tương phản với hình ảnh “sông dềnh dàng” là sự gấp gáp, vội vàng của những cánh chim "Chim bắt đầu vội vã”. Thu sang, khí trời se se lạnh, trên bầu trời trong xanh, cao rộng, những cánh chim chiều bắt đầu vội vã tìm nơi trú ngụ. Không gian trở nên xôn xao, không có âm thanh nhưng câu thơ lại gợi được cái động. Cái “vội vã” của những cánh chim hay đó cũng là cái tất bật lo toan của người lính khi trở về với cuộc sống thường nhật…
- Hình ảnh thơ chân thực, bình dị, hai câu thơ đối rất nhịp nhàng, kết hợp với từ láy “dềnh dàng", “vội vã” nhà thơ đã dựng lên hai hình ảnh đối lập nhau: sông dưới mặt đất và chim trên bầu trời: sông dềnh dàng, chậm rãi; chim vội vã, lo lắng. Đó chính là sự khác biệt của vạn vật trên cao và dưới thấp trong khoảnh khắc giao mùa - thời điểm giao thoa của muôn loài, muôn vật. Cả hai câu thơ là đặc trưng cho mùa thu ở vào lúc khởi đầu. Song nó không phẳng lặng, trôi xuôi êm đềm như cái nhìn trước đây của những bậc tao nhân mặc khách. Đó là cái nhìn vừa đặc trưng vừa hiện đại.
Luận điểm 2. Hai câu cuối là sự thay đổi của bầu trời mùa thu :
- Nhà thơ cảm nhận thấy đám mây cũng như có sự phân chia cái ranh giới vô cùng mong manh trên bầu trời, đám mây cũng : "đám mây mùa hạ"
- Hữu Thỉnh dùng động từ “vắt” để gợi ra trong thời điểm giao mùa, đám mây như kéo dài ra, nhẹ trôi như tấm lụa mềm treo lơ lửng giữa bầu trời trong xanh, cao rộng.
- Hình như đám mây đó vẫn còn lại một vài tia nắng ấm của mùa hạ nên mới “Vắt nửa mình sang thu”. Động từ “vắt” ở đây được sử dụng thật độc đáo. Đám mây đang trôi dần về mùa thu, nhuốm sắc thu nhưng lại như còn luyến tiếc mùa hè đầy sôi nổi. Đám mây vắt lên cái ranh giới mỏng manh và ngày càng bé dần, bé dần đi rồi đến một lúc nào đó không còn ranh giới đó nữa, để cả đám mây mùa hạ hoàn toàn nhuốm màu sắc thu. Phải có sự quan sát tinh tế lắm, thi sĩ mới thấy được cái ranh giới vô cùng mong manh trên bầu trời thu ấy. Hình ảnh đám mây mùa hạ là hình ảnh đẹp gợi nhiều liên tưởng độc đáo. Có lẽ, đây là hai câu thơ hay nhất trong sự tìm tòi, khám phá của Hữu Thỉnh vào khoảnh khắc giao mùa. Nó như một bức tranh thu vĩnh hằng tạc bằng ngôn ngữ.
- Hình ảnh đám mây còn là hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. Phải chăng đó cũng là hình ảnh của những con người đã đi qua một thời tuổi trẻ, trải qua bao thử thách của lửa đạn bão giông, nay bình thản bước vào mùa thu của cuộc đời nhưng dường như vẫn còn luyến tiếc tuổi trẻ đầy sôi nổi, nhiệt huyết.
=> Dòng sông, cánh chim, đám mây đều được nhân hóa khiến cho bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Cả ba hình ảnh trên là tín hiệu của mùa thu sang còn vương lại một chút gì của cuối hạ. Nhà thơ đã mở rộng tầm quan sát lên chiều cao (chim), chiều rộng (mây) và chiều dài (dòng sông). => Qua cách cảm nhận ấy, ta thấy Hữu Thỉnh có một hồn thơ nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, một trí tưởng tượng bay bổng.
c. Khái quát, đánh giá.
- Khổ thơ viết bằng thể thơ năm chữ, có nhiều hình ảnh đẹp, trong sáng, gợi cảm.
+ Sử dụng nhiều biện pháp tu từ như đối lập, nhân hóa, từ láy gợi hình gợi cảm
+ Hình ảnh thơ đẹp bình dị, gần gũi, thân thuộc nhưng giàu ý nghĩa, gợi những liên tưởng sâu xa
+ Giọng thơ nhẹ nhàng, trầm lắng, dịu ngọt
- Khổ thơ đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên lúc sang thu tuyệt đẹp, ngọt ngào và thi vị và giàu ý nghĩa. Hữu Thỉnh có một thơ nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, một trí tưởng tượng bay bổng.
- Liên hệ: Đọc những vần thơ của Hữu Thỉnh, ta càng thêm yêu mùa thu của đất nước, dân tộc "Sáng mát trong như sáng năm xưa- Gió thổi mùa thu hương cốm mới..."
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vẻ đẹp, ý nghĩa của khổ thơ, bài thơ.
Liên hệ bản thân
Khổ thơ nói riêng và bài thơ nói chung mộc mạc, giản dị mà sâu sắc, đơn sơ mà gợi cảm. Bằng nhiều cảm xúc tinh tế và tình yêu quê hương đất nước tha thiết, Hữu Thỉnh đã phác họa một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp lúc sang thu Đọc thơ Hữu Thỉnh ta càng cảm thấy yêu quê hương đất nước hơn, càng cảm thấy mình cần phải ra sức góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
LUYỆN TẬP
Đề 2:
Viết bài văn cảm nhận về sự biến chuyển của cảnh vật, đất trời sang thu trong khổ thơ sau:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
(Sang thu - Hữu Thỉnh - SGK Ngữ văn 9 tập 2)
1. Mở bài:
- Dẫn dắt giới thiệu khái quát về tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ "Sang thu"
- Nêu vấn đề nghị luận: Khổ thơ thứ hai của bài thơ là những cảm xúc của thi sĩ tiếp tục lan tỏa, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn về sự biến chuyển của cảnh vật, đất trời lúc sang thu.
 
Gửi ý kiến