Bài 17. Hô hấp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Chí Thanh
Ngày gửi: 19h:57' 22-02-2011
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 19
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Chí Thanh
Ngày gửi: 19h:57' 22-02-2011
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích:
0 người
Giảng Viên : Cô Phan Thị Trúc Linh
Nhóm Báo Cáo : Nhóm 5
1. Néang Kim Siêm
2. Nguyễn Chí Thanh
3. Huỳnh Thị Bích Thu
4. Nguyễn Thị Bích Tuyền
5. Nguyễn Ngọc Tiền
6. Lâm Thị Tiền
7. Nguyễn Xuân Vinh
8. Nông Thị Hồng Thúy
Bài Báo Cáo : Chương 6
Nội Dung :
ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ QUAN HÔ HẤP
II. CẤU TẠO CƠ QUAN HÔ HẤP
1. Ý nghĩa của cơ quan hô hấp
2. Sự phát triển chủng loại của cơ quan hô hấp
3. Lịch sử phát triển của phổi và sự phát triển phôi của cơ quan hô hấp
1. Đường hô hấp
2 Phổi (Pulmones)
ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ QUAN HÔ HẤP
? Khái Niệm Hô Hấp :
Hoâ haáp laø quaù trình khoâng ngöøng cung caáp oxi cho teá baøo cuûa cô theå vaø loïai thaûi caùcboâníc ra ngoøai.
Quaù trình hoâ haáp goàm : söï thôû, trao ñoåi khí ôû phoåi, trao ñoåi khí ôû teá baøo.
KK
O2
CO2
CO2
O2
CO2
1. Ý nghĩa của cơ quan hô hấp
Dị hóa phân hủy các chất hữu cơ để giải phóng năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động của cơ thể, đồng thời sản ra một số sản phẩm .
Quá trình dị hóa phải có O2.
Hình: hệ hô hấp
Ở động vật quá trình lấy O2 vào, thải CO2 và hơi nước ra là do hệ hô hấp đảm nhận.
Sinh vật hút O2 và nhả CO2 ( vk yếm khí ). O2 rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật . VD: SGK
Trong cơ thể, O2 cần thiết cho mỗi tế bào. Nhiệm vụ của hoạt động hô hấp là dẫn khí cho tiếp xúc với máu.
2. Sự phát triển chủng loại của cơ quan hô hấp:
Cơ quan hô hấp ngày càng phức tạp và thay đổi hình dạng.
Hướng tiến hóa còn thể hiện ở sự tăng cường bề mặt tiếp xúc của máu với không khí.
- Bò sát : Phổi có nhiều nếp gấp hơn của lưỡng cư.
- Chim và động vật có vú: Số nếp gấp ở phổi tăng lên hàng triệu lần.
Cử động cơ học ngày càng hoàn thiện :
- Bò sát: Cơ bụng và cơ sườn.
- Động vật có vú: Cơ hoành. Có 2 kiểu hô hấp, ngực và bụng.
3. Lịch sử phát triển của phổi và sự phát triển phôi của cơ quan hô hấp:
a. Lịch sử phát triển của phổi: Có 3 thuyết
Thuyết tương đồng giữa phổi và bong bong cá.
Thuyết do đáy hầu và miệng ống tiêu hóa biến thành.
Thuyết do tuyến mang cuối cùng biến thành.
b. Sự phát triển phôi của cơ quan hô hấp:
Từ tuần thứ 4 của phôi đã xuất hiện mầm của cơ quan hô hấp.
Tháng thứ 7 hình thành tiểu phế quản và phế nang.
Ngày thứ 4 sau khi sinh phổi đã được độ lớn đầy đủ.
Ba tháng đầu, phổi lớn rất nhanh.
Trẻ 8 tuổi phổi lớn gấp 8 lần, người lớn phổi gấp 20 – 22 lần trẻ sơ sinh.
Căn cứ vào nhiệm vụ từng phần, người ta chia cơ quan hô hấp làm 2 phần:
Đường hô hấp: dẫn khí vào phổi và từ phổi ra.
Phổi: nơi thực hiện trao đổi khí giữa không khí và máu.
II. CẤU TẠO CƠ QUAN HÔ HẤP
1. Đường hô hấp:
1.1. Xoang mũi (cavum nasis):
Không khí 2 lỗ mũi xoang mũi hầu thanh quản khí quản phế quản phổi.
Thành mũi trong hay vách mũi có hai phần:
- Phần sụn: ở trước, gồm trụ trong sụn cánh mũi lớn (tạo nên phần màng di động phía dưới của vách mũi) và sụn vách mũi, sụn lá mía mũi.
- Phần xương: ở sau, do mảnh thẳng đứng của xương sàng và xương lá mía tạo nên.
Xoang mũi có 4 thành:
Thành dưới: tạo bởi mảnh ngang của xương khẩu cái và mấu khẩu cái của xương hàm trên.
Thành trên: bởi mảnh sàng của xương sàng, và 2 xương mũi ở trước.
Thành mũi ngoài: cấu tạo bởi xương hàm trên, xương khẩu cái, mấu chân bướm, ở trên bởi khối bên của xương sàng, ở dưới bởi các xương xoăn.
Các hố mũi được thông với nhiều xoang (xoang hàm trên, xoang bướm, xoang sàng, xoang trán).
Các thành của hố mũi và các xoang đều có lớp niêm mạc chứa mao mạch, lông tơ và tuyến nhày có tác dụng sưởi ấm, lọc sạch và làm ẩm không khí trước khi vào phổi.
Ngoài ra lớp niêm mạc còn được làm ẩm nhờ nước mắt do tuyến lệ tiết ra.
Các xương xoăn ở hố mũi có tác dụng tăng cường diện tiếp xúc của không khí với niêm mạc lót thành xoang.
Ở người có 3 đôi xương xoăn :
Đôi trên.
Đôi giữa.
Đôi dưới.
Ở động vật có vú khác số xương xoăn nhiều hơn do cơ quan khứu giác phát triển.
Ở phôi người có 4 – 5 đôi xương xoăn.
1.2. Thanh quản (Larynx):
Thanh quản là một phần của đường hô hấp, có hình ống, trên thông với hầu, dưới nối với khí quản, có nhiệm vụ phát âm và dẫn khí. Thanh quản nằm ở cổ, phía trước hầu.
Vị trí: thanh quản nằm ở giữa các cơ trước hầu, ứng với các đốt cổ từ IV VI.
Phần trên được treo vào xương móng.
Phần dưới nối liền với khí quản.
Cấu tạo: thanh quản gồm các sụn liên kết với nhau bởi các dây chằng và các cơ.
Thanh quản có 4 sụn: sụn giáp trạng; sụn nhẫn; sụn phễu; sụn thanh thiệt.
Sụn giáp trạng (cartilago thyreoidea): giống 1 quyển sách mở gáy quay về trước. Ở nữ góc này lớn hơn ở nam nên không nổi rõ, khoảng 1200 .
Bờ 2 bên phía sau của sụn giáp kéo dài thành 2 sừng (sừng lớn ở trên, sừng bé ở dưới).
Bờ trên ở chính giữa có một khuyết sụn và nối liền với xương móng bằng màng giáp móng.
a. Các sụn thanh quản:
Sụn giáp
Sụn Nhẫn
Sụn Thanh Thiệt
Sụn Nhẫn
Sụn Phễu
Sụn nhẫn (cartilago cricoidea): hình cái nhẫn nằm ngang, vòng nhẫn quay ra trước, mặt nhẫn quay ra sau.
Ở phần mặt nhẫn có 2 diện khớp để khớp với 2 sụn phễu
Ở 2 bên có 2 diện khớp để khớp với 2 sừng bé của sụn giáp.
Sụn phễu (cartilagines arythenoidea):gồm 1 đôi, có hình tháp nhỏ, đáy tỳ lên sụn nhẫn ở phần mặt nhẫn.
Phía trước sụn phễu có mỏm thanh âm để mắc dây thanh âm, ở sau và ngoài có mỏm cổ để mắc các cơ vận động sụn phễu.
Sụn giáp
Sụn Nhẫn
Sụn Thanh Thiệt
Sụn Nhẫn
Sụn Phễu
Sụn thanh thiệt (epiglottés):
Là sụn mỏng, có hình lá, dính vào góc trong của sụn giáp. Khi động tác nuốt xảy ra, sụn thanh thiệt úp xuống đậy đường vào thanh quản, vì vậy, sụn này có tên gọi là sụn nắp thanh quản.
Sụn giáp
Sụn Nhẫn
Sụn Thanh Thiệt
Sụn Nhẫn
Sụn Phễu
b. Các dây chằng: Bao gồm các hệ thống dây chằng bằng tổ chức liên kết nối thanh quản với các bộ phận lân cận như xương móng, khí quản và các dây chằng nối các sụn thanh quản với nhau:
Dây chằng nhẫn giáp.
Dây chằng giáp phễu trên và dưới.
Các cơ thanh quản có 3 tác dụng :
Khép thanh môn: có cơ liên phổi, cơ nhẫn phễu bên và cơ giáp phễu dưới.
Mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau
Làm căng dây âm thanh: cơ giáp phễu dưới và cơ nhẫn giáp.
Khi các cơ mở bị tê liệt thì ta khàn tiếng và chít hơi thở
c. Các cơ và dây âm thanh:
Các dây âm thanh trên và dưới đi từ góc thụt vào của sụn giáp tới sụn phễu.
Dây âm thanh trên là dây chằng giáp phễu trên, Dây âm thanh dưới là dây chằng giáp phễu dưới cùng với cơ thanh âm.
Thanh môn là khoảng giữa 2 bờ tự do của các dây âm thanh dưới.
Khoảng giữa 2 dây âm thanh trên và dưới ở mỗi bên là buồng cộng hưởng moóc-ga-nhi. Trong sự phát thanh thì dây thanh âm dưới đóng vai trò chủ yếu.
Bắt đầu từ đốt sống cổ VI-VII. Là một ống dài khoảng 12cm, nối tiếp thanh quản, nằm phía trước thực quản.
Ống này gồm 16-20 vòng sụn có tiết diện ngang hình chữ D xếp chồng lên nhau. ¼ phía sau vòng sụn cấu tạo bằng màng liên kết. Các vành sụn nối nhau bằng các dây chằng vòng. Bên trái ở 1/3 trên của khí quản có ấn giáp trạng, 1/3 dưới ấn động mạch chủ.
1.3. Khí quản (trachea):
1.4. Phế quản (bronchi):
Hai phế quản đi vào 2 phổi không đối xứng: bên phải ngắn có hướng đi ngang, bên trái dài hơn hướng đi xuống.
Đến núm phổi thì các phế quản, động mạch, tĩnh mạch, và thần kinh làm cuống phổi.
Các phế quản tiếp tục chia thành các phế quản thùy. Phổi trái có 2 phế quản thùy đi vào 2 thùy phổi. Phổi phải có 3 phế quản thùy đi vào 3 thùy phổi.
Các phế quản thùy lại chia nhỏ thành các phế quản tiểu thùy đi vào các tiểu thùy phổi.
2. Phổi(Pulmones)
Phổi là bộ phận chủ yếu của cơ quan hô hấp.
2.1/ Vị trí: phổi nằm trong lồng ngực và chiếm 4/5 thể tích lồng ngực. Giới hạn trên ngang mức xương đòn, ngoài áp sát các xương sườn, phía dưới 2 lá phổi ngồi lên cơ hoành.
2.2/ Tính chất và chức năng:
Tính chất: có tính đàn hồi, xốp và mềm.
chức năng: nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường.
Tính chất, chức năng của phổi?
Vị trí của phổi?
Hình: hệ hô hấp
2.3-Cấu tạo của phổi:
a/Cấu tạo đại thể của phổi:
Phổi có hình nón, gồm phổi trái và phổi phải, giữa có khoang trung thất. Bề mặt hô hấp của phổi khoảng 170m2 (gấp 75 lần diện tích bề mặt cơ thể).
Phổi ở bào thai lúc sắp sanh nặng 65g, có màu hồng tươi. Phổi trẻ sơ sinh nặng 90g, có màu hồng nhạt. Phổi người lớn nặng 1000g, màu xám trắng. Phổi người già có nhiều chấm đen.
Hình: hệ hô hấp
Mỗi phổi gồm: mặt ngoài, mặt trong, nền phổi, đỉnh phổi và các bờ (bờ trước và bờ sau).
Mặt ngoài: hình cong rất rộng, uốn khung vào lồng ngực. Phổi phải có 3 thùy, phổi trái có 2 thùy. Giữa các thùy có các rãnh liên thùy.
Ở phổi phải: rãnh liên thùy lớn đi chéo từ trên xuống, rãnh liên thùy bé đi ngang.
Ở phổi trái: rãnh liên thùy đi chếch từ trên xuống.
- Ở đỉnh phổi có rãnh động mạch dưới đòn, ngoài ra còn có các ấn xương sườn.
Mặt trong: hơi lõm, gồm hai phần:
- Phần sau: liên quan với cột sống gọi là phần cột sống.
- Phần trước: quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; Còn phổi trái, ấn tim rất sâu nên gọi là hố tim.
+ Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt mà cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.
+ Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản (ở phổi phải) và rãnh động mạch chủ (ở phổi trái).
+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.
Nền phổi: phần nền lõm và rộng, uốn cong theo cơ hoành.
Hình: hệ hô hấp
Đỉnh phổi: đỉnh phổi tròn. Đỉnh phải cao hơn đỉnh trái ứng với sườn 1 ở ngoài và động mạch dưới đòn ở trong
Hình: phổi
1. Khe ngang, 2. Ngách sườn trung thất
3. Khe chếch, 4. Ngách sườn hoành
5. Đỉnh phổi, 6. Tuyến ức
Các bờ:
- Bờ trước: mỏng, sắc, ngắn. Do mặt sườn và mặt hoành tạo nên, nằm gần đường giữa.
- Bờ sau: dày, tròn, dài. Gồm hai đoạn, đoạn cong do mặt sườn và mặt hoành tạo nên, lách sâu vào ngách
b/ Cấu tạo vi thể của phổi
Phổi được cấu tạo bởi các đơn vị gọi là tiểu thùy phổi. Tiểu thùy phổi là những khối hình tháp bé có thể tích 1 cm3 cấu tạo bởi sự phân nhánh của các phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các sợi thần kinh và các mô liên kết đàn hồi.
Trong tiểu thùy phổi, phế quản tiểu thùy phân chia thành các ống nhỏ gọi là tiểu phế quản, có đường kính 1/10 mm. Tận cùng của các tiểu phế quản gọi là tiểu phế quản tận (hay tiểu phế quản cung) dẫn đến 1 xoang nhỏ gọi là tiền đình. Từ tiền đình tỏa ra các ống dẫn phế nang dẫn đến thùy phễu.
Thành của thùy phễu cấu tạo bởi những nang bé như tổ ong gọi là phế nang có đường kinh 0.1- 0.2mm.
Số lượng phế nang ở người trưởng thành khoảng 400-500 triệu làm cho bề mặt hô hấp tăng lên rất nhiều.
Thành của phế nang mỏng, chứa nhiều sợi đàn hồi, được bao bởi lưới mao mạch dày đặc, thực hiện quá trình trao đổi khí giữa máu với không khí bên ngoài. Ở phế nang, máu thải khí co2 và nhận được o2 nên biến sắc từ màu đỏ thẩm sang đỏ tươi.
Mặt trong của phế nang có lớp tế bào biểu bì dẹt có khả năng thực bào các bụi và vật lạ trong không khí
c/ Màng phổi:
Phổi được bao bởi màng phổi 2 lớp: lớp ngoài là lớp thành lót mặt trong của lồng ngực gọi là lá thành, lớp trong bao chặt lấy phổi gọi là lá tạng.
Giữa 2 lớp màng là khoang ảo có áp suất âm, tạo điều kiện cho không khí vào phổi dễ dàng, trong đó có chứa một ít chất dịch nhờn để giảm ma sát khi lá thành và lá tạng trượt lên nhau lúc thở. Khi bị viêm màng phổi có thể bị khô, hoặc quá nhiều nước (tràn dịch màng phổi) gây khó khăn trong quá trình hô hấp.
Cám ơn các bạn
đã lắng nghe nhóm chúng tui báo cáo !
Nhóm Báo Cáo : Nhóm 5
1. Néang Kim Siêm
2. Nguyễn Chí Thanh
3. Huỳnh Thị Bích Thu
4. Nguyễn Thị Bích Tuyền
5. Nguyễn Ngọc Tiền
6. Lâm Thị Tiền
7. Nguyễn Xuân Vinh
8. Nông Thị Hồng Thúy
Bài Báo Cáo : Chương 6
Nội Dung :
ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ QUAN HÔ HẤP
II. CẤU TẠO CƠ QUAN HÔ HẤP
1. Ý nghĩa của cơ quan hô hấp
2. Sự phát triển chủng loại của cơ quan hô hấp
3. Lịch sử phát triển của phổi và sự phát triển phôi của cơ quan hô hấp
1. Đường hô hấp
2 Phổi (Pulmones)
ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ QUAN HÔ HẤP
? Khái Niệm Hô Hấp :
Hoâ haáp laø quaù trình khoâng ngöøng cung caáp oxi cho teá baøo cuûa cô theå vaø loïai thaûi caùcboâníc ra ngoøai.
Quaù trình hoâ haáp goàm : söï thôû, trao ñoåi khí ôû phoåi, trao ñoåi khí ôû teá baøo.
KK
O2
CO2
CO2
O2
CO2
1. Ý nghĩa của cơ quan hô hấp
Dị hóa phân hủy các chất hữu cơ để giải phóng năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động của cơ thể, đồng thời sản ra một số sản phẩm .
Quá trình dị hóa phải có O2.
Hình: hệ hô hấp
Ở động vật quá trình lấy O2 vào, thải CO2 và hơi nước ra là do hệ hô hấp đảm nhận.
Sinh vật hút O2 và nhả CO2 ( vk yếm khí ). O2 rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật . VD: SGK
Trong cơ thể, O2 cần thiết cho mỗi tế bào. Nhiệm vụ của hoạt động hô hấp là dẫn khí cho tiếp xúc với máu.
2. Sự phát triển chủng loại của cơ quan hô hấp:
Cơ quan hô hấp ngày càng phức tạp và thay đổi hình dạng.
Hướng tiến hóa còn thể hiện ở sự tăng cường bề mặt tiếp xúc của máu với không khí.
- Bò sát : Phổi có nhiều nếp gấp hơn của lưỡng cư.
- Chim và động vật có vú: Số nếp gấp ở phổi tăng lên hàng triệu lần.
Cử động cơ học ngày càng hoàn thiện :
- Bò sát: Cơ bụng và cơ sườn.
- Động vật có vú: Cơ hoành. Có 2 kiểu hô hấp, ngực và bụng.
3. Lịch sử phát triển của phổi và sự phát triển phôi của cơ quan hô hấp:
a. Lịch sử phát triển của phổi: Có 3 thuyết
Thuyết tương đồng giữa phổi và bong bong cá.
Thuyết do đáy hầu và miệng ống tiêu hóa biến thành.
Thuyết do tuyến mang cuối cùng biến thành.
b. Sự phát triển phôi của cơ quan hô hấp:
Từ tuần thứ 4 của phôi đã xuất hiện mầm của cơ quan hô hấp.
Tháng thứ 7 hình thành tiểu phế quản và phế nang.
Ngày thứ 4 sau khi sinh phổi đã được độ lớn đầy đủ.
Ba tháng đầu, phổi lớn rất nhanh.
Trẻ 8 tuổi phổi lớn gấp 8 lần, người lớn phổi gấp 20 – 22 lần trẻ sơ sinh.
Căn cứ vào nhiệm vụ từng phần, người ta chia cơ quan hô hấp làm 2 phần:
Đường hô hấp: dẫn khí vào phổi và từ phổi ra.
Phổi: nơi thực hiện trao đổi khí giữa không khí và máu.
II. CẤU TẠO CƠ QUAN HÔ HẤP
1. Đường hô hấp:
1.1. Xoang mũi (cavum nasis):
Không khí 2 lỗ mũi xoang mũi hầu thanh quản khí quản phế quản phổi.
Thành mũi trong hay vách mũi có hai phần:
- Phần sụn: ở trước, gồm trụ trong sụn cánh mũi lớn (tạo nên phần màng di động phía dưới của vách mũi) và sụn vách mũi, sụn lá mía mũi.
- Phần xương: ở sau, do mảnh thẳng đứng của xương sàng và xương lá mía tạo nên.
Xoang mũi có 4 thành:
Thành dưới: tạo bởi mảnh ngang của xương khẩu cái và mấu khẩu cái của xương hàm trên.
Thành trên: bởi mảnh sàng của xương sàng, và 2 xương mũi ở trước.
Thành mũi ngoài: cấu tạo bởi xương hàm trên, xương khẩu cái, mấu chân bướm, ở trên bởi khối bên của xương sàng, ở dưới bởi các xương xoăn.
Các hố mũi được thông với nhiều xoang (xoang hàm trên, xoang bướm, xoang sàng, xoang trán).
Các thành của hố mũi và các xoang đều có lớp niêm mạc chứa mao mạch, lông tơ và tuyến nhày có tác dụng sưởi ấm, lọc sạch và làm ẩm không khí trước khi vào phổi.
Ngoài ra lớp niêm mạc còn được làm ẩm nhờ nước mắt do tuyến lệ tiết ra.
Các xương xoăn ở hố mũi có tác dụng tăng cường diện tiếp xúc của không khí với niêm mạc lót thành xoang.
Ở người có 3 đôi xương xoăn :
Đôi trên.
Đôi giữa.
Đôi dưới.
Ở động vật có vú khác số xương xoăn nhiều hơn do cơ quan khứu giác phát triển.
Ở phôi người có 4 – 5 đôi xương xoăn.
1.2. Thanh quản (Larynx):
Thanh quản là một phần của đường hô hấp, có hình ống, trên thông với hầu, dưới nối với khí quản, có nhiệm vụ phát âm và dẫn khí. Thanh quản nằm ở cổ, phía trước hầu.
Vị trí: thanh quản nằm ở giữa các cơ trước hầu, ứng với các đốt cổ từ IV VI.
Phần trên được treo vào xương móng.
Phần dưới nối liền với khí quản.
Cấu tạo: thanh quản gồm các sụn liên kết với nhau bởi các dây chằng và các cơ.
Thanh quản có 4 sụn: sụn giáp trạng; sụn nhẫn; sụn phễu; sụn thanh thiệt.
Sụn giáp trạng (cartilago thyreoidea): giống 1 quyển sách mở gáy quay về trước. Ở nữ góc này lớn hơn ở nam nên không nổi rõ, khoảng 1200 .
Bờ 2 bên phía sau của sụn giáp kéo dài thành 2 sừng (sừng lớn ở trên, sừng bé ở dưới).
Bờ trên ở chính giữa có một khuyết sụn và nối liền với xương móng bằng màng giáp móng.
a. Các sụn thanh quản:
Sụn giáp
Sụn Nhẫn
Sụn Thanh Thiệt
Sụn Nhẫn
Sụn Phễu
Sụn nhẫn (cartilago cricoidea): hình cái nhẫn nằm ngang, vòng nhẫn quay ra trước, mặt nhẫn quay ra sau.
Ở phần mặt nhẫn có 2 diện khớp để khớp với 2 sụn phễu
Ở 2 bên có 2 diện khớp để khớp với 2 sừng bé của sụn giáp.
Sụn phễu (cartilagines arythenoidea):gồm 1 đôi, có hình tháp nhỏ, đáy tỳ lên sụn nhẫn ở phần mặt nhẫn.
Phía trước sụn phễu có mỏm thanh âm để mắc dây thanh âm, ở sau và ngoài có mỏm cổ để mắc các cơ vận động sụn phễu.
Sụn giáp
Sụn Nhẫn
Sụn Thanh Thiệt
Sụn Nhẫn
Sụn Phễu
Sụn thanh thiệt (epiglottés):
Là sụn mỏng, có hình lá, dính vào góc trong của sụn giáp. Khi động tác nuốt xảy ra, sụn thanh thiệt úp xuống đậy đường vào thanh quản, vì vậy, sụn này có tên gọi là sụn nắp thanh quản.
Sụn giáp
Sụn Nhẫn
Sụn Thanh Thiệt
Sụn Nhẫn
Sụn Phễu
b. Các dây chằng: Bao gồm các hệ thống dây chằng bằng tổ chức liên kết nối thanh quản với các bộ phận lân cận như xương móng, khí quản và các dây chằng nối các sụn thanh quản với nhau:
Dây chằng nhẫn giáp.
Dây chằng giáp phễu trên và dưới.
Các cơ thanh quản có 3 tác dụng :
Khép thanh môn: có cơ liên phổi, cơ nhẫn phễu bên và cơ giáp phễu dưới.
Mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau
Làm căng dây âm thanh: cơ giáp phễu dưới và cơ nhẫn giáp.
Khi các cơ mở bị tê liệt thì ta khàn tiếng và chít hơi thở
c. Các cơ và dây âm thanh:
Các dây âm thanh trên và dưới đi từ góc thụt vào của sụn giáp tới sụn phễu.
Dây âm thanh trên là dây chằng giáp phễu trên, Dây âm thanh dưới là dây chằng giáp phễu dưới cùng với cơ thanh âm.
Thanh môn là khoảng giữa 2 bờ tự do của các dây âm thanh dưới.
Khoảng giữa 2 dây âm thanh trên và dưới ở mỗi bên là buồng cộng hưởng moóc-ga-nhi. Trong sự phát thanh thì dây thanh âm dưới đóng vai trò chủ yếu.
Bắt đầu từ đốt sống cổ VI-VII. Là một ống dài khoảng 12cm, nối tiếp thanh quản, nằm phía trước thực quản.
Ống này gồm 16-20 vòng sụn có tiết diện ngang hình chữ D xếp chồng lên nhau. ¼ phía sau vòng sụn cấu tạo bằng màng liên kết. Các vành sụn nối nhau bằng các dây chằng vòng. Bên trái ở 1/3 trên của khí quản có ấn giáp trạng, 1/3 dưới ấn động mạch chủ.
1.3. Khí quản (trachea):
1.4. Phế quản (bronchi):
Hai phế quản đi vào 2 phổi không đối xứng: bên phải ngắn có hướng đi ngang, bên trái dài hơn hướng đi xuống.
Đến núm phổi thì các phế quản, động mạch, tĩnh mạch, và thần kinh làm cuống phổi.
Các phế quản tiếp tục chia thành các phế quản thùy. Phổi trái có 2 phế quản thùy đi vào 2 thùy phổi. Phổi phải có 3 phế quản thùy đi vào 3 thùy phổi.
Các phế quản thùy lại chia nhỏ thành các phế quản tiểu thùy đi vào các tiểu thùy phổi.
2. Phổi(Pulmones)
Phổi là bộ phận chủ yếu của cơ quan hô hấp.
2.1/ Vị trí: phổi nằm trong lồng ngực và chiếm 4/5 thể tích lồng ngực. Giới hạn trên ngang mức xương đòn, ngoài áp sát các xương sườn, phía dưới 2 lá phổi ngồi lên cơ hoành.
2.2/ Tính chất và chức năng:
Tính chất: có tính đàn hồi, xốp và mềm.
chức năng: nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường.
Tính chất, chức năng của phổi?
Vị trí của phổi?
Hình: hệ hô hấp
2.3-Cấu tạo của phổi:
a/Cấu tạo đại thể của phổi:
Phổi có hình nón, gồm phổi trái và phổi phải, giữa có khoang trung thất. Bề mặt hô hấp của phổi khoảng 170m2 (gấp 75 lần diện tích bề mặt cơ thể).
Phổi ở bào thai lúc sắp sanh nặng 65g, có màu hồng tươi. Phổi trẻ sơ sinh nặng 90g, có màu hồng nhạt. Phổi người lớn nặng 1000g, màu xám trắng. Phổi người già có nhiều chấm đen.
Hình: hệ hô hấp
Mỗi phổi gồm: mặt ngoài, mặt trong, nền phổi, đỉnh phổi và các bờ (bờ trước và bờ sau).
Mặt ngoài: hình cong rất rộng, uốn khung vào lồng ngực. Phổi phải có 3 thùy, phổi trái có 2 thùy. Giữa các thùy có các rãnh liên thùy.
Ở phổi phải: rãnh liên thùy lớn đi chéo từ trên xuống, rãnh liên thùy bé đi ngang.
Ở phổi trái: rãnh liên thùy đi chếch từ trên xuống.
- Ở đỉnh phổi có rãnh động mạch dưới đòn, ngoài ra còn có các ấn xương sườn.
Mặt trong: hơi lõm, gồm hai phần:
- Phần sau: liên quan với cột sống gọi là phần cột sống.
- Phần trước: quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; Còn phổi trái, ấn tim rất sâu nên gọi là hố tim.
+ Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt mà cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.
+ Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản (ở phổi phải) và rãnh động mạch chủ (ở phổi trái).
+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.
Nền phổi: phần nền lõm và rộng, uốn cong theo cơ hoành.
Hình: hệ hô hấp
Đỉnh phổi: đỉnh phổi tròn. Đỉnh phải cao hơn đỉnh trái ứng với sườn 1 ở ngoài và động mạch dưới đòn ở trong
Hình: phổi
1. Khe ngang, 2. Ngách sườn trung thất
3. Khe chếch, 4. Ngách sườn hoành
5. Đỉnh phổi, 6. Tuyến ức
Các bờ:
- Bờ trước: mỏng, sắc, ngắn. Do mặt sườn và mặt hoành tạo nên, nằm gần đường giữa.
- Bờ sau: dày, tròn, dài. Gồm hai đoạn, đoạn cong do mặt sườn và mặt hoành tạo nên, lách sâu vào ngách
b/ Cấu tạo vi thể của phổi
Phổi được cấu tạo bởi các đơn vị gọi là tiểu thùy phổi. Tiểu thùy phổi là những khối hình tháp bé có thể tích 1 cm3 cấu tạo bởi sự phân nhánh của các phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các sợi thần kinh và các mô liên kết đàn hồi.
Trong tiểu thùy phổi, phế quản tiểu thùy phân chia thành các ống nhỏ gọi là tiểu phế quản, có đường kính 1/10 mm. Tận cùng của các tiểu phế quản gọi là tiểu phế quản tận (hay tiểu phế quản cung) dẫn đến 1 xoang nhỏ gọi là tiền đình. Từ tiền đình tỏa ra các ống dẫn phế nang dẫn đến thùy phễu.
Thành của thùy phễu cấu tạo bởi những nang bé như tổ ong gọi là phế nang có đường kinh 0.1- 0.2mm.
Số lượng phế nang ở người trưởng thành khoảng 400-500 triệu làm cho bề mặt hô hấp tăng lên rất nhiều.
Thành của phế nang mỏng, chứa nhiều sợi đàn hồi, được bao bởi lưới mao mạch dày đặc, thực hiện quá trình trao đổi khí giữa máu với không khí bên ngoài. Ở phế nang, máu thải khí co2 và nhận được o2 nên biến sắc từ màu đỏ thẩm sang đỏ tươi.
Mặt trong của phế nang có lớp tế bào biểu bì dẹt có khả năng thực bào các bụi và vật lạ trong không khí
c/ Màng phổi:
Phổi được bao bởi màng phổi 2 lớp: lớp ngoài là lớp thành lót mặt trong của lồng ngực gọi là lá thành, lớp trong bao chặt lấy phổi gọi là lá tạng.
Giữa 2 lớp màng là khoang ảo có áp suất âm, tạo điều kiện cho không khí vào phổi dễ dàng, trong đó có chứa một ít chất dịch nhờn để giảm ma sát khi lá thành và lá tạng trượt lên nhau lúc thở. Khi bị viêm màng phổi có thể bị khô, hoặc quá nhiều nước (tràn dịch màng phổi) gây khó khăn trong quá trình hô hấp.
Cám ơn các bạn
đã lắng nghe nhóm chúng tui báo cáo !
 







Các ý kiến mới nhất