Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

hình đại hôi CTD

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Thế Hậu (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:31' 25-07-2011
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA :SP KHOA HỌC – XÃ HỘI
LỚP: ĐẠI HỌC SỬ KHÓA 09 – HỆ LIÊN THÔNG
--------****-----------

BỘ MÔN:
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1945 – 1975
CHUYÊN ĐỀ :
CÁC TRẬN ĐÁNH VÀ CHIẾN DỊCH CỦA QUÂN DÂN TA CHỐNG CHIẾN TRANH CỤC BỘ
CỦA MĨ
Nhóm thực hiện:
Dương Việt Chiến
Hà Thị Loan
Đinh Thị Thanh Toàn
Phạm Thị Ngọc Ngân
Nguyễn Thị Cẩm Hồng
Trần Thị Thanh Tuyền
Nguyễn Phương Đại
Trịnh Thế Hậu
Vương Trần Huyền Trân
Nguyễn Thị Hoàng Anh
Phần mở đầu,tổng hợp : Dương Việt Chiến- Nguyễn Thị Hoàng Anh
Trận Vạn Tường:
Hà Thị Loan
Đinh Thị Thanh Toàn
Đánh tan hai cuộc phản công mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967:
Phạm Thị Ngọc Ngân
Trần Thị Thanh Tuyền
Chiến dịch đường 9 – Khe Sanh
Vương Trần Huyền Trân
Nguyễn Phương Đại
Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968
Trịnh Thế Hậu
Nguyễn Thị Cẩm Hồng



















Khái quát chiến tranh cục bộ.
Cuối 1954 đầu 1965, cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà Mĩ tiến hành miền Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Nhằm cứu lấy chính quyền Sài Gòn cũng là cứu lấy chính sách xâm lược của Mĩ ở Việt Nam,Nhà Trắng quyết định thay chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
Trước khi thực hiện “Chiến tranh cục bộ” Mĩ đã xem xét các vấn đề trên thế giới,vì biện pháp này sẽ làm “lộ mặt” sự mâu thuẫn chủ nghĩa thực dân mới mà Mĩ tiến hành ở Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó Mĩ vẫn có điều kiện để thực hiện cuộc chiến này,đó là Mĩ nhận định Liên Xô sẽ có chính sách giới hạn với Việt Nam, trong khi đó Trung Quốc đang tiến hành cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản nên cả Liên Xô và Trung Quốc sẽ không can thiệp quá nhiều vào tình hình Việt Nam. Vì vậy tháng 12 năm 1964, tổng thống Johnson đã đi đến quyết định thay thế “Chiến tranh đặc biệt” bằng “chiến tranh cục bộ”.
Đây là cuộc chiến tranh xâm lược thưc dân mới được tiến hành băng lực lượng quân viễn chinh Mĩ, quân một số nước phụ thuộc Mĩ,và quân ngụy tay sai ở miền Nam, trong đó quân Mĩ giữ vai trò quan trọng và không ngưng tăng lên về số lượng và trang bị.
Dựa vào ưu thế về quân sự, Mĩ tiến hành các chiến dịch mùa khô 65-66,66-67,Khe Sanh… Nhưng bằng sự quyết tâm đánh đuổi kẻ thù xâm lược, quân và dân Việt Nam đã lần lượt đập tan các cuộc hành quân của Mĩ,và tiến tới thực hiện cuộc tổng tiến công vào Tết Mậu Thân, tạo bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, buộc chúng phải tuyên bố “ phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược,và tiến tới hội nghị Pari để bàn về chiến tranh xâm lược.
CHIẾN THẮNG VẠN TƯỜNG

1.Bối cảnh:
Ngày 18/08/1965 sau khi đã chiếm được Chu Lai ( Quảng Nam) lính thuỷ đáng bộ Mỹ mở cuộc hành quân mang tên “ Ánh sáng sao” vào thôn Vạn Tường ( xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) sát bở biển phía bắc Quảng Ngãi, cách căn cứ Chu Lai 17 cây số, nhằm tiêu diệt một đơn vị chủ lực của ta, tìm kiếm thắng lợi quân sự để gây uy thế cho lính thuỷ đánh bộ Mỹ, lấn chiếm vùng giải phóng và mở rộng vùng an toàn cho căn cứ Chu Lai. Lực lượng Mỹ sử dụng vào cuộc hành quân khoảng 9000 tên. Huy động 6 tàu đổ bộ, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay phản lực chiến đấu vào cuộc càn quét này. Vạn Tường là cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa chủ lực các bên trên chiến trường Khu 5.
Lực lượng tham gia trận đánh
*Phía Hoa Kỳ
Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến số 9 thuộc Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 tham gia trực tiếp, có 9000 binh sĩ gồm:
Tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến 2/4
Tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến 3/3
Tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến 3/7
Lực lượng đổ bộ đặc biệt.
Hoả lực yểm trợ do tàu USS Galveston, USS Cabildo và tiểu đoàn pháo binh TQLC 3/12 cùng đảm nhận.
Trợ giúp : không quân do tàu USS Iwo Jima hỗ trợ.
*Phía MTDTGP
Tổng cộng khoảng 1500 người.
Trung đoàn 1 bộ đội chủ lực của quân khu 5.
Đại đội 21. (bộ đội địa phương)
Đại đội 31.
2. Diễn biến
Sáng ngày 18.8, sau những đợt ném bom, bắn phá dữ dội của máy bay, cuộc hành quân “Ánh sao” của quân Mỹ mở màn từ 4 hướng ồ ạt vào Vạn Tường với ảo tưởng nhanh chóng đè bẹp sức đề kháng của quân ta trong thời gian ngắn nhất.
2. Diễn biến
Khai trận lúc 6 giờ 15 sáng 18/8/1965, không quân của TQLC Mỹ cho xuất kích 20 lần chiếc F-4 và A-4, ném 18 tấn bom sát thương, bom napalm xuống Vạn Tường và các địa điểm lân cận. Các pháo hạm trên biển bắn phá dọn bãi cho D2/E4 TQLC đổ bộ bằng máy bay trực thăng và D3/E3 TQLC đổ bộ bằng tàu LCU.
2. Diễn biến
6 giờ 30, 2 đại đội thuộc D3/E3 TQLC có 5 xe tăng M-48, 3 xe tăng phun lửa M-67 dùng tàu LCU đổ bộ lên An Cường (mật danh Green Beach - Vịnh xanh), hình thành vòng vây phía Nam; đánh chiếm thôn An Cường 1 và tiến quân về phía Tây.
2. Diễn biến
6 giờ 45, C1/D4 TQLC đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống thôn Bình Phước (trên bản đồ là bãi đỏ - LZ Red), C2, C3/D4 TQLC đổ bộ xuống thôn Bình Long (trên bản đồ là bãi trắng - LZ White), C4/D4 +C4/D3 TQLC đổ bộ xuống thôn Bình Thạnh Tây (bãi xanh - LZ Blue), hình thành cánh quân bao vây phía Tây.
2. Diễn biến
Từ Chu Lai, C1 và C2/D3 TQLC có 8 xe tăng M41 và 18 xe bọc thép M113 đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc.
2. Diễn biến
Ở phía Tây Nam Vạn Tường, cánh quân của D3 + C7/D4 TQLC Mỹ tiến đến Lạc Sơn đã phải dừng lại vì D40/E1 và Đại đội trinh sát thuộc E1 QGP phòng ngự, chốt chặn tại điểm cao BANANA (Cao điểm 30 thuộc thôn An Cường 2). D3/E3 TQLC phải đưa thêm 1 đại đội vào tham chiến, tổ chức nhiều đợt ném bom, bắn phá mới vượt qua chốt của QGP, đến trưa 18/8 mới chiếm được thôn An Cường 2 và hội quân với C4/D3 sau khi đã bị tổn thất khoảng 1 trung đội (5 chết, 17 bị thương).
2. Diễn biến
Sau khi cho trực thăng và pháo binh bắn phá dọn bãi, quân Mỹ tổ chức một đoàn gồm 5 xe thiết giáp chở quân loại LVT và 3 tăng phun lửa M-67 tiến quân theo đội hình hàng dọc từ An Cường đi theo con đường mòn giữa An Thái và Nam Yên tấn công D40 và D60/E1 QGP. Lợi dụng địa hình kín đáo, các đơn vị thuộc Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 60 chờ cho đoàn xe TQLC Mỹ đến cách 50m mới nổ súng. Bằng súng không giật, súng chống tăng B40 và lựu đạn phóng AT, QGP đã bắn cháy 4 chiếc đi đầu ngay trong loạt đạn đầu. Những chiếc còn lại hoảng loạn bỏ chạy, sa xuống ruộng lầy. Tiểu đội trưởng Hồ Công Thám chỉ huy tiểu đội của mình dùng lựu đạn AT và lựu đạn diệt tiếp 3 xe.
2. Diễn biến
Chiều 18/8/1965, D45/E2 BB QGP nằm ngoài vòng vây từ Châu Bình mở một mũi đột kích đánh vào sau lưng cánh quân đổ bộ đường biển của TQLC Mỹ. Bị đánh bất ngờ từ sau lưng D3/E3 và D2/E4 TQLC Mỹ phải xoay chính diện về hướng Tây Nam để chống lại các mũi tập kích của D45/E1 QGP. Do đó cánh quân này đã bị hở sườn phía Bắc, bị D40/E1 QGP phản kích và buộc phải lùi về co cụm tại Bình Hòa với sự yểm họ của các xe tăng và trực thăng vũ trang.
2. Diễn biến
Phối hợp với chiến trường chính, chiều 18/8/1965, Đại đội 21 địa phương quân (QGP) tỉnh Quảng Ngãi mở mũi đột kích sâu từ Tây Hy, qua Thượng Hòa xuống Lệ Thủy, phối hợp với du kích các xã Đồng Lễ và Bình Trị đánh vào sau lưng cánh quân của D3/E7 TQLC Mỹ, buộc cánh quân này phải tập trung đối phó, không chi viện được cho cánh quân của D3/E3 và D2/E4 TQLC Mỹ. Trong khi dùng hỏa lực yểm hộ cho D3/E7 TQLC Mỹ, thêm 3 máy bay trực thăng HU-1A bị bắn rơi tại thôn Lệ Thủy.
Lợi dụng vòng vây bị đứt đoạn giữa cánh Bắc và cánh Nam của TQLC Mỹ, đêm 18 rạng ngày 19/8/1965. Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy nhẹ và tiểu đoàn 40 ra khỏi vòng vây.


3. Kết quả:
Với sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích các xã Bình Hải, Bình Hòa, Bình Trị, Bình Đông, Bình Phước, Bình Thanh, Bình Phú, sau một ngày chiến đấu ác liệt quân và dân ta đã diệt 919 tên Mỹ, bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 22 xe tăng, xe bọc thép, đánh bại cuộc hành quân “Ánh sao” - cuộc hành quân quy mô lớn đầu tiên của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

4. Ý nghĩa
Về trận Vạn Tường, tại Hội nghị BCH TW lần thứ 12 (K III), đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đánh giá: “Nếu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, trận Xta-lin-grát là một bước ngoặt chứng tỏ rằng quân phát xít Hít-le không phải không đánh được, thì chúng ta cũng có thể coi trận Vạn Tường là một bước ngoặt chứng minh một cách hùng hồn rằng quân giải phóng miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại được quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có mọi ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực so với quân giải phóng. Thật vậy, trận Vạn Tường ngày 18.8.1965 chẳng khác nào trận Ấp Bắc đối với quân ngụy đầu năm 1963 và rõ ràng sau trận Vạn Tường đã có một loạt trận quân giải phóng miền Nam chiến thắng quân đội Mỹ một cách hết sức oanh liệt...”.
2.2. Đánh tan hai cuộc phản công mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967

* Mùa khô 1965 - 1966
Tháng 01/1965, Mĩ-ngụy tập trung lực lượng mở cuộc phản công lần thứ nhất với 72 vạn quân. địch mở 450 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” then chốt, nhằm vào hai hướng chính là Đông Nam Bộ và Đồng bằng khu 5 nhằm tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, “bẻ gãy xương sống Việt Cộng”, giành lại thế chủ động trên chiến trường.
Mĩ phản công chiến lược mùa khô 1965-1966
Với thế trận chiến tranh nhân dân, bằng nhiều hình thức tác chiến khác nhau đã chặn đánh địch ở khắp mọi hướng, tiến công địch ở mọi nơi…
Trong 4 tháng mùa khô 1965 - 1966, ta đã loại khỏi vòng chiến hơn 67.000 tên địch, trong đó có 35.000 quân Mĩ và chư hầu, bắn hạ 940 máy bay, phá hủy 600 xe tăng, thiết giáp và trên 1.000 ôtô của địch.


* Mùa khô 1966 - 1967

Mùa khô 1966 - 1967, với lực lượng lên đến 980.000 quân (trong đó có 440.000 lính Mĩ và chư hầu), Mĩ đã mở cuộc phản công mùa khô lần thứ hai nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta, tạo bược ngoặt trong chiến tranh.

Chúng đã tiến hành 895 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong đó có 3 cuộc hành quân “tìm diệt” then chốt:
+ At-tơn-bo-rơ đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (tháng 11/1966)

+ Xê-da-phôn đánh vào Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi (tháng 1/1967)

+ Gian-xơn-city đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (tháng 2/1967)

Xe tăng Mĩ bị quân dân Tây Ninh bắn cháy 1967
Quân và dân Nam bộ đã phối hợp với các chiến trường khác đã mở hàng loạt cuộc phản công, từng bước đánh bại các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của địch; loại khỏi vòng chiến 175.000 tên, trong đó có 76.000 lính Mĩ và chư hầu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.
Chiến thắng cuộc phản công chiến lược hai mùa khô của Mĩ đã tạo điều kiện cho quân và dân miền Nam nổi dậy tiến công địch trong năm 1968 lịch sử. Chiến thắng này còn góp phần to lớn trong quá trình đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam.
CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9- KHE SANH




NỘI DUNG
1. Giới thiệu sơ lược chiến dịch Đường 9-Khe Sanh
2. Vị trí chiến lược – tầm quan trọng của Khe Sanh
3. Kế hoạch của hai bên tham chiến
3.1. Hoa Kì
3.2. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
4. Lực lượng các bên tham chiến
4.1. Hoa Kì
4.2. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
5. Diễn biến chính yếu trong trận chiến tại Khe Sanh
6. Kết quả - ý nghĩa
7. Vì sao Khe Sanh được xem là “ Điện Biên Phủ thứ 2” ?
. PHỤ LỤC: ( Một số hình ảnh )

Giới thiệu sơ lược chiến dịch Đường 9-Khe Sanh

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh còn được gọi là "Chiến dịch Đường 9" hay "Trận Khe Sanh", là một trận chiến giữa một bên là Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam VN) với 2 đến 3 sư đoàn của Quân Đội Nhân dân Việt Nam.
Theo Hoa Kì trận đánh diễn ra trong suốt 77 ngày từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1968. Tuy nhiên, đối với QĐNDVN thì trận chiến kéo dài 170 ngày, kết thúc khi lính Mĩ cuối cùng rút khỏi Khe Sanh, đánh dấu sự cáo chung của kế hoạch mở rộng Hàng rào điện tử McNamara.


Mục đích chủ yếu của QĐNDVN khi tấn công Khe Sanh là nhằm "nghi binh" cho các hướng tiến công chính trong Chiến dịch Mậu Thân 1968 nhằm:
- Vị trí đặc biệt quan trọng của Khe Sanh giống như "cái mỏ neo" trong bản đồ quân sự của Mĩ, đặc biệt là uy hiếp đường Hồ Chí Minh và bảo vệ vùng I chiến thuật. Đây là trung tâm chỉ huy của Hàng rào điện tử McNamara mà Mĩ đang xây dựng nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh.
- Tập trung đánh và bao vây nhằm thu hút 1 lực lượng lớn quân Mĩ tham chiến, thu hút cả nước Mỹ hồi hộp theo dõi trận "Điện Biên Phủ thứ 2" có thể thay đổi cuộc chiến Việt Nam.

2. Vị trí chiến lược – tầm quan trọng của Khe Sanh


Khe Sanh là một thị trấn thuộc huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), nằm trong một thung lũng rộng phía Tây QL 9, cách biên giới Việt Nam - Lào hơn 10 km.

Do bị động trên toàn chiến trường miền Nam, tướng Mỹ là Oét-mo-len đã liều lĩnh đưa một số lượng lớn quân tinh nhuệ lên đóng chốt ở Khe Sanh, biến nơi đây thành “cụm chiến lược” có vị trí “mỏ neo” then chốt và “bất khả xâm phạm” nhằm phong tỏa biên giới Việt - Lào, cô lập miền Nam với miền Bắc theo ý đồ của quân đội Mỹ.

Sau thất bại trong mùa khô 1965 -1966, Mc Namara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã nảy ra ý định thiết lập một phòng tuyến chống xâm nhập hiện đại nhất ở bờ nam sông Bến Hải để ngăn chặn đối phương:
- Phòng tuyến ước tính có chiều rộng khoảng 20km, từ nam vĩ tuyến 17 đến đường 9, chiều dài trên 100km chạy song song với sông Bến Hải từ biển Đông đến Sê Pôn (Lào) trong đó hành lang mặt bằng xây dựng có bề ngang 500m sẽ được san bằng như một sân bóng.
- Xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc, cứ khoảng 2 km có 1 tháp canh khoảng 4 km có 1 căn cứ cỡ đại đội hoặc tiểu đoàn.

- Bố trí một hệ thống công sự gồm đủ hầm hào, lô cốt kiên cố, hàng chục lớp hàng rào kẽm gai chằng chịt, xen kẽ với nhiều lớp bom mìn đủ kiểu (Mỹ dự kiến sử dụng 20 triệu quả mìn và 25 triệu quả bom cỡ nhỏ).
- Đặc biệt phòng tuyến được trang bị phương tiện điện tử tối tân như "cây nhiệt đới", “máy thông minh", “máy phát hiện hơi người". Đây là các loại máy thu phát tiếng động tinh vi đủ cỡ 15 ngày, 3 tháng, hoặc 6 tháng thay pin một lần.



Căn cứ Khe Sanh được xác định là trung tâm của hệ thống hàng rào điện tử trên. Do đó, Khe Sanh- Quảng Trị được Mỹ xây dựng một tập đoàn phòng ngự mạnh, liên hoàn, kiên cố nhất của Mỹ ở địa đầu miền Nam Việt Nam gồm các cứ điểm Làng Vây, Chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm phòng ngự sân bay Tà Cơn.


Cụm cứ điểm Tà Cơn là cái lõi của tập đoàn phòng ngự Khe Sanh của Mỹ, có chiều dài khoảng 5 km, rộng khoảng 3 km, có một đường băng dã chiến dài khoảng hơn 3.000 m đảm bảo hoạt động của máy bay C-130 và một số trực thăng vũ trang.
Hệ thống công sự, vật cản được xây dựng kiên cố và liên hoàn; công sự chiến đấu bằng bê tông đúc sẵn, hố chiến đấu cá nhân có nắp bằng bao cát, một số lô cốt bằng bê tông, hầm ngầm, hệ thống giao thông hào, chiến hào liên hoàn; xung quanh bao bọc từ 6 đến 10 hàng rào giây thép gai các loại, các bãi mìn dày đặc, xen kẽ rải cây nhiệt đới. (loại thu tin điện tử) khắp các nơi.

Sơ đồ các lớp phòng thủ dự định xây dựng trong kế hoạch thiết lập “Hàng rào điện tử McNamara “

3. Kế hoạch của hai bên tham chiến
3.1. Hoa Kì


Ở ngưỡng cửa năm 1968, tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam, tướng Wesmoreland, quyết định rằng cần phải “thả mồi ngon” lùa quân địch vào bẫy, để buộc tướng Giáp phải đánh nhau theo cung cách quy ước, vốn là sở trường của quân Mỹ.

Cả Bộ chỉ huy viễn chinh Mĩ ở Sài Gòn ( MACV) lẫn Bộ chỉ huy tối cao Hoa Kỳ đều đã nhận thấy Khe Sanh có một thế mạnh căn bản so với không chỉ với Điện Biên Phủ, mà với mọi pháo đài từng có trong lịch sử.
Đó là Khe Sanh được hỗ trợ bởi hệ thống hỏa lực cực mạnh, chế áp độc lập từ bên ngoài, gồm hàng chục lần chiếc pháo đài bay B-52 đánh phá mỗi ngày, gồm yểm trợ đường không cự ly gần bởi lực lượng khoảng 2.000 máy bay chiến đấu khác của không quân chiến thuật, không lực của hải quân, không lực của thủy quân lục chiến, với tần suất 500 lần chiếc ngày, hoạt động được cả trong điều kiện tầm nhìn zero (bay hoàn toàn bằng khí tài) cũng như ban đêm.

3.2. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Cuối năm 1967, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng VNDCCH đã vạch ra kế hoạch chiến lược năm 1968 là: Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, phân tán lực lượng, tiêu diệt địch mà chiến trường chính là hướng Đường 9 - Khe Sanh, thực hiện cuộc tiến công đồng loạt vào thành phố, thị xã kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng mở đầu cho một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Nam Bộ, Trị - Thiên - Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh sẽ thực hiện nhiệm vụ thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của địch (chủ yếu là lính Mỹ), góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền thực hiện đòn chiến lược tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968.

Ngày 6 tháng 12 năm 1967, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.

Thiếu tướng Trần Quý Hai Phó tổng tham mưu trưởng làm tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy mặt trận.

4. Lực lượng các bên tham chiến
4.1. Hoa Kì

Có khoảng 45.000 quân trên toàn tuyến (trong đó có 28.000 quân Mỹ),gồm 3 trung đoàn tăng cường thuộc Sư đoàn thủy quân lục chiến 3; 4 tiểu đoàn tàu tuần tra và vận tải (5, 10, 53 và 301), 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới, trong quá trình phòng ngự được sự chi viện mạnh của không quân, pháo binh ở phía sau.





Riêng ở Khe Sanh, Mỹ có 3 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 26, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 9 TQLC Mỹ, Sở chỉ huy chiến dịch lưu động - FOB-3 của Lục quân Mỹ (588 lính), 1 tiểu đoàn pháo 155 ly, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội chống tăng, Tiểu đoàn 37 Biệt động quân VNCH, 1 đội thám báo 300 lính, tổng cộng 6.680 lính.


Bảo đảm kỹ thuật - hậu cần cho Khe Sanh, bao gồm tải thương bằng trực thăng (MediVac); và phương thức tiếp tế LAPES (thả dù ở độ cao tầm thấp) thực hiện bởi một cầu hàng không hiện đại, qui mô khổng lồ trên các máy bay trọng tải lớn C-130.
Mỹ có thể đáp ứng cho Khe Sanh tới 600 tấn hàng tiếp tế/ngày (trong khi Pháp chỉ cung cấp được cho Điện Biên Phủ 100 tấn)

4.2. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Các sư đoàn bộ binh 304, 320, 324B và 325 (từ tháng 5, Sư đoàn 308 và Trung đoàn 246 vào thay cho các sư đoàn 324B và 325 đi chiến trường khác), Trung đoàn 270 (Vĩnh Linh) và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, 1 đoàn và 5 đại đội đặc công, 5 trung đoàn pháo binh (16, 45, 84 và 204), 3 trung đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn hoá học, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội súng phun lửa, 6 tiểu đoàn vận tải và lực lượng vũ trang các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá.


Tổng cộng lực lượng trên toàn tuyến có khoảng 40 ngàn quân. Trong đó 2 Sư đoàn 204 và sư đoàn 325 (tổng cộng khoảng 17.000 quân) thực hiện bao vây Khe Sanh, còn các sư đoàn 320 và 324 thực hiện cắt đường 9, chặn quân tiếp viện của Mỹ. Các lực lượng vũ trang địa phương thực hiện đánh tập kích diệt các đoàn vận tải, tiêu hao sinh lực địch.

5. Diễn biến chính yếu trong trận chiến tại Khe Sanh
Chiến dịch diễn ra 4 đợt:

Đợt 1 (20/1-7/2), Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công quận lỵ Hướng Hoá và cứ điểm Huội San( 24-1-1968), diệt cứ điểm Làng Vây ( 6-7/2/1968), làm chủ đoạn đường 9 từ Cà Lu đến biên giới Việt - Lào.
Đợt 2 (8/2-31/3): phát triển lên vây lấn và pháo kích căn cứ Khe Sanh suốt 50 ngày đêm; bao vây Cồn Tiên, đánh một số trận ở hướng Đông Quốc lộ 1.


Đợt 3 (1-30/4): đánh quân Mỹ ứng cứu trong chiến dịch Pegasus, giải toả, giữ vững các khu vực làng Khoai, Cu Bốc, các điểm cao 689 và 622, triệt phá giao thông trên đường 9.
Đợt 4 (8/5-15/7), khôi phục thế vây lấn Tà Cơn, đánh quân Mỹ rút chạy khỏi Khe Sanh.

Các diễn biến chính:
- 20 tháng 1: Đụng độ mạnh giữa Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và bộ đội Bắc Việt trên Đồi 881-Nam. Hai bên đều thiệt hại nặng. Trong ngày này, một Trung Úy Bắc Việt ra đầu thú và đã cho biết kế hoạch tấn công của Cộng quân vào căn cứ Khe Sanh.
- 21 tháng 1: Cộng quân pháo kích vào Khe Sanh, kho đạn trong căn cứ nổ tung, Đồi 861 bị pháo kích, nhưng các binh sĩ Hoa Kỳ trên đồi đã đẩy lui cuộc tấn công của bộ đội Bắc Việt.

- 22 tháng 1: Căn cứ Khe Sanh được tăng viện bởi Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ.
- 26 tháng 1: Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH của Đại Úy Hoàng Phổ đến Khe Sanh. Đây là lực lượng tăng viện sau cùng trong khoảng thời gian căn cứ bị bao vâỵ
- 30 tháng 1: Cộng Sản mở chiến dịch "Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa" trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Nhiều thị xã bị tấn công, trong đó có Huế và Sài Gòn là hai thành phố xảy ra những vụ đụng độ lớn nhất.

- 6 tháng 2 năm 1968: bộ đội và chiến xa Bắc Việt tấn công Trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, cách Khe Sanh 10 km về hướng Tây. Ngày hôm sau, Làng Vei thất thủ.
- 9 tháng 2: Một trận kịch chiến xảy ra trên Đồi 64, quân Cộng Sản để lại 134 xác chết. Phía bên Hoa Kỳ có 26 binh sĩ TQLC tử thương.
- 11 tháng 2: Hai vận tải cơ C-130 đáp xuống Khe Sanh. Một chiếc nổ tung vì trúng đạn pháo kích. Chiếc còn lại gấp rút được sửa chữa rồi bay "khập khễnh" về phi trường Đà Nẵng bình an.

- 21 tháng 2: Bắc Việt tấn công vào vòng đai phòng thủ tại khu vực hướng Đông ở Khe Sanh. Nhưng không chọc thủng được bức tường phòng thủ kiên cố của Biệt Động Quân VNCH.
- Từ tháng 2 đến cuối tháng 3: cường độ pháo kích của Cộng quân tại Khe Sanh quá ác liệt. Phương pháp tiếp tế duy nhất là móc các kiện hàng vào những cánh dù rồi thả xuống từ các vận tải cơ trên vòm trờị
- 23 tháng 2: Cộng quân bắn 1,300 quả đạn đại bác vào Khe Sanh. Trận địa pháo kéo dài 8 tiếng đồng hồ, 10 quân nhân Hoa Kỳ bị thiệt mạng, 51 người khác bị thương.

-29 tháng 2: Bộ đội Bắc Việt mở cuộc tấn công ác liệt vào vòng đai phòng thủ ở phía Đông căn cứ, nhưng gặp phải mức kháng cự mãnh liệt của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Cả ba đợt xung phong của Cộng quân bị đẩy lui, họ để lại 70 xác chết trên trận địa.
- Từ 1 đến 15 tháng 4 năm 1968: cuộc hành quân PEGASUS (của quân đội Mỹ) và LAM SƠN 207 (của quân đội VNCH) được tiến hành. Chiến dịch kết thúc vào ngày 15 tháng 4/1968. Căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏa.

6. Kết quả - Ý nghĩa
6.1. Với Hoa Kỳ

Việc giữ vững căn cứ Khe Sanh có thể coi là một thắng lợi về mặt chiến thuật của Mĩ. Dù nhiều đơn vị bị thiệt hại nặng, song không có đơn vị lớn nào bị tiêu diệt hoặc bắt sống toàn bộ như Pháp ở Điện Biên Phủ. Song cái giá phải trả là không hề rẻ, với gần 7.500 thương vong chỉ trong 77 ngày, quân đồn trú tại Khe Sanh mất gần 1/2 quân số.

Cuối cùng, các chính trị gia Mĩ quyết định phá hủy và rút khỏi Khe Sanh, chấm dứt vai trò chiến lược của nó.
Quân nhân Mĩ cuối cùng rút khỏi khu vực vào 15 tháng 7, trước đó ngày 9 tháng 7 năm 1968, lá cờ Quân giải phóng đã được cắm trên cột cờ sân bay Tà Cơn

6.2. Với Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trải qua 170 ngày đêm vây lấn Khe Sanh, QĐNDVN tuyên bố đã đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 3 TQLC và sư đoàn không vận số 1 Mỹ, diệt 11.900 quân Mĩ và VNCH, phá hủy 197 máy bay, 78 xe tăng-thiết giáp, 46 khẩu pháo, 50 kho đạn, giải phóng một địa bàn rộng lớn phía tây tỉnh Quảng Trị với 1 vạn dân, phá vỡ một mảng tuyến phòng ngự thép ngăn chặn ở địa đầu Nam Việt Nam.

Khi xét về mục tiêu chiến dịch, QĐNDVN đã hoàn thành cả 2 mục tiêu, thậm chí đã hoàn thành mục tiêu thứ 3 là ép quân Mĩ rút khỏi Khe Sanh.
Đây là cơ sở để QĐNDVN coi đây là một thắng lợi chiến lược to lớn. Hồ Chí Minh gửi điện khen: "...thắng lợi Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, góp phần vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam... mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa..."

Đây là lần đầu tiên QĐNDVN dàn quân ở cấp sư đoàn đối mặt với quân Mĩ. Tuy phải chịu nhiều thương vong do hỏa lực cực mạnh của Mĩ, đặc biệt là bom B-52 rải thảm, song họ cũng gây thiệt hại nặng tương đương cho các lực lượng tinh nhuệ bậc nhất của Hoa Kì là Thủy quân Lục chiến và quân biệt kích CIDG. Đây là thành tích đáng khích lệ đối với QĐNDVN, khi họ là bên tấn công và hoàn toàn lép vế về hỏa lực.
Với việc Mĩ bỏ Khe Sanh, Hàng rào điện tử McNamara coi như cáo chung. Kế hoạch chiến lược mà Mĩ đang xây dựng nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh coi như phá sản. Từ đây về sau, không còn căn cứ nào có thể uy hiếp trực tiếp tuyến đường cùng dòng hàng đưa ra tiền tuyến.
Do đó có thể nói Trận Khe Sanh là bàn đạp cho các chiến dịch lớn của QĐNDVN sau này (chiến dịch Hạ Lào, chiến dịch Hè 1972...), và cuối cùng là chiến dịch quyết định Xuân 1975.

7. Vì sao Khe Sanh được xem là “ Điện Biên Phủ thứ 2” ?
Sở dĩ Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh được mệnh danh là "Trận Điện Biên Phủ thứ hai" vì giữa hai trận đánh này có những điểm tương đồng:
- Thứ nhất, cả Khe Sanh và Điện Biên Phủ đều tiếp giáp với biên giới Việt - Lào. Khe Sanh cách biên giới Việt - Lào chừng 20km, còn Điện Biên Phủ chỉ cách khoảng 8km.


- Thứ hai, là địa hình đều hiểm trở, khó tiếp cận. Chỉ có thể tiếp cận Điện Biên Phủ bằng đường không. Đối với Khe Sanh, ngoài việc tiếp cận bằng đường không, còn có thêm cách tiếp cận bằng đường bộ thông qua con đường 9.
- Về tính chất của cả hai trận đánh lúc bấy giờ đã trở thành tâm điểm chú ý của báo chí và các cơ quan công luận khác. Đối với quân địch cả hai trận đều có bài học giống nhau, đó là sự thất bại.
 

Pháo của Quân đội Nhân dân Việt Nam bắn gần đường băng
Một góc thị trấn Khe Sanh

M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ Carroll.

PT-76 chạy trên xích sắt, được trang bị nòng súng 76 ly, và có khả năng lội nước. Tuy vỏ bọc bên ngoài tương đối mỏng, nhưng độ cứng của thép cũng đủ để ngăn chặn các loại đạn trung liên từ 7.62 ly trở xuống

Những hình ảnh về Khe Sanh – Lao Bảo hôm nay:
Hồ đảo huyện


Nhà sàn của người dân bản



xe tăng ở Làng Vây
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968
1/ Hoàn cảnh:
Đầu năm 1967, Trung ương Đảng chủ trương chủ động tiến công địch với phương châm “vừa đánh vừa đàm”. Với Hội nghị Bộ chính trị (12-1967) và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14 ( 1-1968) đi đến quyết định: chuyển cuộc chiến tranh cách mạng Miền Nam sang một thời kì mới- thời kì giành thắng lợi quyết định. Con đường để đi tới quyết định thắng lợi là bằng “Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa”.
Bước vào xuân 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô. Đồng thời lợi dụng mâu thuẫn trong năm bầu cử tổng thống (1968), ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là đô thị, nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mĩ, quân đồng minh, đánh đòn mạnh vào chính quyền và quân đội Sài Gòn giành chính quyền về tay nhân dân, buộc Mĩ phải đàm phán và rút quân về nước.
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

2/ Diễn biến:
- Đợt 1: (30/1 đến 25/2/1968):
Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 01 năm 1968 (Đêm giao thừa Tết Mậu Thân), lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân miền Nam đồng loạt tiến công địch trên khắp các đô thị, các ấp chiến lược, các vùng nông thôn do địch kiểm soát ở 37 trên 44 tỉnh; 5 trong tổng số 6 đô thị, hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam, trong đó mạnh nhất là ở Sài Gòn và Huế.
LƯỢC ĐỒ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNGVÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
TẾT MẬU THÂN 1968
2/ Diễn biến:
- Đợt 2:(từ 5-5 đến 18/6/1968)
- Đợt 3 (từ 17/8 đến 30/9/1968)
Sân bay dã chiến của Mỹ tại Cần Thơ bị phá hủy
Quân Mỹ chiến đấu tại Sài gòn
Tổn thất về lực lượng của cả hai bên
Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết tù binh trên đường phố Sài Gòn
Tính chung cả 3 đợt ta loại khỏi vòng chiến đâu 630.000 lính Mỹ - Nguỵ và chư hầu, tiêu diệt và đánh triệt hạ nhiều đơn vị địch, tịch thu và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh khác.
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

3/ Ý nghĩa:
Mặc dù còn có nhiều hạn chế, song cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 có ý nghĩa hết sức to lớn:
- Làm lung lay ý chí xâm lược của quân viễn chinh Mỹ, buộc Mỹ phải tuyên bố “Phi Mỹ hoá chiến tranh”,
-Chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoaị miền Bắc, chịu đến bàn đàm phán ở Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh.
- Giáng 1 đòn quyết định góp phần làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân ta.

 
Gửi ý kiến