hoan tat vai 1-nhuom to tam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: miss Ái Hương
Người gửi: Trần Thị Hồng Minh
Ngày gửi: 20h:08' 08-03-2012
Dung lượng: 263.0 KB
Số lượt tải: 58
Nguồn: miss Ái Hương
Người gửi: Trần Thị Hồng Minh
Ngày gửi: 20h:08' 08-03-2012
Dung lượng: 263.0 KB
Số lượt tải: 58
Số lượt thích:
0 người
NHUỘM TƠ TẰM
Nhuộm Trực Tiếp
Nhuộm Axit
Nhuộm Hoạt Tính
LỜI GIỚI THIỆU:
Nền kinh tế nước ta đang trên đà đổi mới và phát triển, nhu cầu chất nhuộm và hữu cơ dùng để nhuộm và in hoa các hàng dệt và các mặt hàng hiếm như lụa tơ tằm tăng lên nhanh chóng.
Tơ tằm là mặt hàng quý hiếm, dùng trong may mặc các mặt hàng cao cấp, khả năng sử dụng của xơ tơ tằm rất linh động , có thể sử dụng may các mặt hàng mặc mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Tơ tằm có bề mặt ánh sáng bóng, mịn , óng ả. Xơ tơ tằm có độ bền cao và có khả năng hút ẩm tốt, có độ đàn hồi tốt, nó khá bền đối với axít vô cơ lõang và axit hữu cơ đậm đặc .
Tuy nhiên, khả năng chống chịu với bazo kém và nhạy cảm với ánh sáng.
NHUỘM TƠ TẰM:
Tơ tằm sau khi đã qua xử lý làm sạch ở điều kiện sản xuất cũng phải xử lý thêm trong dung dịch: NH4OH 25%:3M/L, natri hexametaphotphat: 2G/L, nhiệt độ 50oc , thời gian 20ph, sau đó giặt nóng và làm lạnh.
Có thể dùng các thuốc nhuộm sau đây để nhuộm tơ tằm:
Thu?c nhuộm trực tiếp.
Thuốc nhuộm axít.
Thuốc nhuộm họat tính.
1) THUỐC NHUỘM TRỰC TIẾP:
Thuốc nhuộm trực tiếp hay còn gọi là thuốc nhuộm tự bắt màu là những hợp chất mảu hòa tan trong nước, có khả năng tự bắt màu vào một số vật liệu như tơ tằm một cách trực tiếp nhờ các lực hấp phụ trong mội trường trung tính hoặc kiềm.
Khi chuẩn bị dung dịch nhuộm với những thuốc nhuộm trực tiếp khó tan cần phải thêm natricacbonat vào máng để tạo môi trường kiềm yếu.
Thuốc nhuộm trực tiếp có ưu điểm là đủ gam màu từ vàng đến đen, màu tương đối tươi, song nhiều thuốc nhuộm kém bền màu với giặt và ánh sáng. Độ bền màu và ánh sáng của nhiều thuốc nhuộm trực tiếp sẽ thay đổi khi nhuộm cho các vật liệu khác nhau.
Thí dụ một số thuốc nhuộm kém bền màu khi nhuộm cho xơ bông nhưng lại rất bền màu khi nhuộm cho lụa tơ tằm.
Thành phần nhuộm và công nghệ nhuộm cũng tương tự như vải bông, điều khác chủ yếu là phải khống chế trụ số PH để không ảnh hư?ng đến độ bền của tơ (PH=8-8.5), ít phải dùng muối ăn và không cần hãm màu.
Những thuốc nhuộm trực tiếp dùng riêng cho tơ tằm : Benzyl, Chlorantine (hãng Ciba-Geigy); Colozol (hãng Colourtex); Atul (hãng Atul); Solar (hãng Sandoz); Rono sunfast (hãng IDI), Incomine (hãng INDOKEM)..
2) THUỐC NHUỘM AXIT:
Thuốc nhuộm axit là lớp thuốc nhuộm có đủ gam màu, màu của chúng tươi và ánh hơn nhiều so với loại thuốc nhuộm khác, chúng được dùng để nhuộm len, tơ tằm và polyamid, là những xơ mà trong phân tử của chúng có chứa nhóm amin (NH2) tự do. Độ bền màu với gia công ướt và ánh sáng của đa số thuốc nhuộm axit chiếm vị trí trung bình.
Các loại thuốc nhuộm axit có đặc điểm chung là hòa tan trong nước, có phạm vi sử dụng rộng, ngoài mục đích nhuộm các loại xơ trên, một số được dùng để nhuộm lông thú và nhuộm da.
Lớp thuốc nhuộm này có tên là “axit” vì chúng bắt màu vào xơ trong môi trường axit, còn bản thân thuốc nhuộm thì có phản ứng trung tính.
Theo tính chất kỹ thuật thuốc nhuộm axit được chia thành 3 nhóm:
Thuốc nhuộm axit thông thường;
Thuốc nhuộm axit cầm màu;
Thuốc nhuộm axit chứa kim loại.
a) Thuốc nhuộm axit thông thường:
Loại thuốc nhuộm này có gam màu rất rộng, màu thuần sắc và tươi, độ bền màu với gia công ướt cao nhưng độ bền màu với ánh sáng chỉ đạt cấp trung bình.
Theo cấu tạo hóa học thì thuốc nhuộm axit thông thường chủ yếu là:
Dẫn xuất azo.
Dẫn xuất antraquinon.
Thuốc nhuộm azoaxit:
Trong số các thuốc nhuộm azoaxit chỉ có loại monoazo và điazo là có nghĩa thực tiễn, loại polyazo ít gặp vì phân tử của chúng quá lớn.
Thuốc nhuộm monoazo axit do có phân tử nhỏ nên có chủ yếu các gam màu vàng, màu da cam và màu đỏ; đa số chúng là dẫn xuất của azobenzen, benzonaphtalen, pirazolon.
Thuốc nhuộm điazo axit chiếm tỷ lệ lớn trong số các thuốc nhuộm azoaxit, chúng có các gam màu vàng, da cam, đỏ nhưng chủ yếu là các màu xanh và đen.
Thuốc nhuộm axit antraquinon
Vì là dẫn xuất của antraquinon nên thuốc nhuộm axit loại này có độ bền màu cao hoặc rất cao với giặt và ánh sáng, màu tươi và thuần sắc. Ngoài nhóm Natri sunfonat trong nhân antraquinon còn chứa các nhóm khác như : OH, NH2. Khi các nhóm này nằm ở vị trí thích hợp thì thuốc nhuộm có thể tạo phức với ion kim loại làm cho màu bền hơn.
Tơ tằm nhuộm bằng thuốc nhuộm này lúc đầu có màu đỏ khi tạo phức với muối crom thì chuyển thành màu đỏ lựu, bền màu với ánh sáng, gia công ướt và cán mịn.
Tuy công nghệ nhuộm phức tạp nhưng những thuốc nhuộm khó đều màu sẽ đạt được độ bền màu cao với gia công ướt và ánh sáng, hơn nữa lại có thể nhuộm trong môi trường axit yếu và trung tính nên có thể thiết lập công nghệ nhuộm các loại vải pha từ xơ, len hoặc tơ tằm bằng hỗn hợp thuốc nhuộm thích hợp.
b)Thuốc nhuộm axit crom (thuốc nhuộm axit cầm màu):
Một số thuốc nhuộm vừa có các tính chất như thuốc nhuộm axit thông thường vừa có khả năng tạo phức với muối kim loại,chủ yếu là muối crom nên được xếp riêng thành 1 nhóm gọi là thuốc nhuộm axit crom hay thuốc nhuộm axit cầm màu.
c)Thuốc nhuộm axit chứa kim loại:
Để đơn giản hóa quá trình chuẩn bị và nhuộm vật liệu, người ta đã chế tạo ra loại thuốc nhuộm chứa sẵn nguyên tử kim loại trong phân tử của chúng bao gồm:
Thuốc nhuộm chứa kim loại 1:1 : kim loại tạo phức dùng chủ yếu là crom hóa trị ba.
Có tính chất dễ hòa tan trong nước, dễ đều màu, màu tươi và bắt màu vào vật liệu trong môi trường axit mạnh.
Thuốc nhuộm chứa kim loại 1:2 : kim loại tạo phức ngoài crom còn dùng thêm coban hóa trị ba.
Có tính chất khó hòa tan trong nước và khó đều màu nên phải dùng các chất trợ nhuộm cần thiết mới có thể đạt được độ đều màu cao. Ít nhạy cảm với nước cứng và các ion kim loại có trong nước như đồng, sắt, crom...
Để tạo cho thuốc nhuộm có độ hòa tan cần thiết người ta đưa vào phân tử của chúng các nhóm ưa nước như Sunfamit (-SO2NH2), metylsunfon (-SO2CH3), chỉ giữ lại một phần nhóm Natri sunfonat. Vì nguyên tử kim loại (thường là crom) đã được bão hòa bằng các liên kết phối trí nội phân tử, chúng không còn khả năng liên kết phối trí với vật liệu nữa. Chúng liên kết với các vật liệu từ protein (len, tơ tằm, da thuộc, lông thú) bằng liên kết ion, liên kết hidro và liên kết Van der Waals trong môi trường axit yếu (pH= 5-6), và cả môi trường trung tính.
Thuốc nhuộm chứa kim loại 1:2 do có thể nhuộm trong môi trường axit yếu nên được dùng nhiều để nhuộm tơ tằm.
3) THUỐC NHUỘM HOẠT TÍNH:
Thuốc nhuộm hoạt tính là những hợp chất màu mà trong phân tử của chúng có chứa các nhóm nguyên tử có thể thực hiện mối liên kết hóa trị với vật liệu nói chung và xơ dệt nói riêng trong quá trình nhuộm.
Nhờ vậy mà chúng có độ bền màu cao với gia công ướt, ma sát và nhiều chỉ tiêu khác nữa.
Thuốc nhuộm hoạt tính có đủ gam màu, màu tươi và thuần sắc, công nghệ nhuộm đa dạng và không quá phức tạp, vì vậy nên tuy mới ra đời năm 1956 đến nay đã được sản xuất với khối lượng lớn và sử dụng khá phổ biến.
Chúng được dùng để nhuộm và in hoa cho tơ tằm, len, vật liệu từ xơ polyamit, xenlulo.
Trong điều kiện nhuộm, khi tiếp xúc với vật liệu thuốc nhuộm hoạt tính sẽ tham gia đồng thời vào hai phản ứng : với vật liệu và phản ứng thủy phân.
Phản ứng với vật liệu (xơ) là phản ứng chính có dạng tổng quát:
S – Ar – T – X + HO – Xơ A – Ar – T – O – Xơ + HX
Phản ứng thủy phân là phản ứng phụ làm giảm hiệu suất sử dụng của thuốc nhuộm, có dạng tổng quát:
S – Ar – T – X + HOH S – Ar – T – OH + HX
Ưu điểm
Có gam màu rộng.
Màu tươi và thuần sắc.
Có độ bền màu cao với gia công ướt.
Phương pháp nhuộm đa dạng.
Dễ tái lập lại màu.
Dễ làm sạch nước thải.Giá thành vừa phải.
Nhược điểm
Khó giặt sạch phần thuốc nhuộm bị thủy phân.
Chu kỳ nhuộm dài.
Tốn nhiều hóa chất.
Độ bền màu với ánh sáng không cao nhất là các màu đỏ và da cam.
Nhuộm Trực Tiếp
Nhuộm Axit
Nhuộm Hoạt Tính
LỜI GIỚI THIỆU:
Nền kinh tế nước ta đang trên đà đổi mới và phát triển, nhu cầu chất nhuộm và hữu cơ dùng để nhuộm và in hoa các hàng dệt và các mặt hàng hiếm như lụa tơ tằm tăng lên nhanh chóng.
Tơ tằm là mặt hàng quý hiếm, dùng trong may mặc các mặt hàng cao cấp, khả năng sử dụng của xơ tơ tằm rất linh động , có thể sử dụng may các mặt hàng mặc mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Tơ tằm có bề mặt ánh sáng bóng, mịn , óng ả. Xơ tơ tằm có độ bền cao và có khả năng hút ẩm tốt, có độ đàn hồi tốt, nó khá bền đối với axít vô cơ lõang và axit hữu cơ đậm đặc .
Tuy nhiên, khả năng chống chịu với bazo kém và nhạy cảm với ánh sáng.
NHUỘM TƠ TẰM:
Tơ tằm sau khi đã qua xử lý làm sạch ở điều kiện sản xuất cũng phải xử lý thêm trong dung dịch: NH4OH 25%:3M/L, natri hexametaphotphat: 2G/L, nhiệt độ 50oc , thời gian 20ph, sau đó giặt nóng và làm lạnh.
Có thể dùng các thuốc nhuộm sau đây để nhuộm tơ tằm:
Thu?c nhuộm trực tiếp.
Thuốc nhuộm axít.
Thuốc nhuộm họat tính.
1) THUỐC NHUỘM TRỰC TIẾP:
Thuốc nhuộm trực tiếp hay còn gọi là thuốc nhuộm tự bắt màu là những hợp chất mảu hòa tan trong nước, có khả năng tự bắt màu vào một số vật liệu như tơ tằm một cách trực tiếp nhờ các lực hấp phụ trong mội trường trung tính hoặc kiềm.
Khi chuẩn bị dung dịch nhuộm với những thuốc nhuộm trực tiếp khó tan cần phải thêm natricacbonat vào máng để tạo môi trường kiềm yếu.
Thuốc nhuộm trực tiếp có ưu điểm là đủ gam màu từ vàng đến đen, màu tương đối tươi, song nhiều thuốc nhuộm kém bền màu với giặt và ánh sáng. Độ bền màu và ánh sáng của nhiều thuốc nhuộm trực tiếp sẽ thay đổi khi nhuộm cho các vật liệu khác nhau.
Thí dụ một số thuốc nhuộm kém bền màu khi nhuộm cho xơ bông nhưng lại rất bền màu khi nhuộm cho lụa tơ tằm.
Thành phần nhuộm và công nghệ nhuộm cũng tương tự như vải bông, điều khác chủ yếu là phải khống chế trụ số PH để không ảnh hư?ng đến độ bền của tơ (PH=8-8.5), ít phải dùng muối ăn và không cần hãm màu.
Những thuốc nhuộm trực tiếp dùng riêng cho tơ tằm : Benzyl, Chlorantine (hãng Ciba-Geigy); Colozol (hãng Colourtex); Atul (hãng Atul); Solar (hãng Sandoz); Rono sunfast (hãng IDI), Incomine (hãng INDOKEM)..
2) THUỐC NHUỘM AXIT:
Thuốc nhuộm axit là lớp thuốc nhuộm có đủ gam màu, màu của chúng tươi và ánh hơn nhiều so với loại thuốc nhuộm khác, chúng được dùng để nhuộm len, tơ tằm và polyamid, là những xơ mà trong phân tử của chúng có chứa nhóm amin (NH2) tự do. Độ bền màu với gia công ướt và ánh sáng của đa số thuốc nhuộm axit chiếm vị trí trung bình.
Các loại thuốc nhuộm axit có đặc điểm chung là hòa tan trong nước, có phạm vi sử dụng rộng, ngoài mục đích nhuộm các loại xơ trên, một số được dùng để nhuộm lông thú và nhuộm da.
Lớp thuốc nhuộm này có tên là “axit” vì chúng bắt màu vào xơ trong môi trường axit, còn bản thân thuốc nhuộm thì có phản ứng trung tính.
Theo tính chất kỹ thuật thuốc nhuộm axit được chia thành 3 nhóm:
Thuốc nhuộm axit thông thường;
Thuốc nhuộm axit cầm màu;
Thuốc nhuộm axit chứa kim loại.
a) Thuốc nhuộm axit thông thường:
Loại thuốc nhuộm này có gam màu rất rộng, màu thuần sắc và tươi, độ bền màu với gia công ướt cao nhưng độ bền màu với ánh sáng chỉ đạt cấp trung bình.
Theo cấu tạo hóa học thì thuốc nhuộm axit thông thường chủ yếu là:
Dẫn xuất azo.
Dẫn xuất antraquinon.
Thuốc nhuộm azoaxit:
Trong số các thuốc nhuộm azoaxit chỉ có loại monoazo và điazo là có nghĩa thực tiễn, loại polyazo ít gặp vì phân tử của chúng quá lớn.
Thuốc nhuộm monoazo axit do có phân tử nhỏ nên có chủ yếu các gam màu vàng, màu da cam và màu đỏ; đa số chúng là dẫn xuất của azobenzen, benzonaphtalen, pirazolon.
Thuốc nhuộm điazo axit chiếm tỷ lệ lớn trong số các thuốc nhuộm azoaxit, chúng có các gam màu vàng, da cam, đỏ nhưng chủ yếu là các màu xanh và đen.
Thuốc nhuộm axit antraquinon
Vì là dẫn xuất của antraquinon nên thuốc nhuộm axit loại này có độ bền màu cao hoặc rất cao với giặt và ánh sáng, màu tươi và thuần sắc. Ngoài nhóm Natri sunfonat trong nhân antraquinon còn chứa các nhóm khác như : OH, NH2. Khi các nhóm này nằm ở vị trí thích hợp thì thuốc nhuộm có thể tạo phức với ion kim loại làm cho màu bền hơn.
Tơ tằm nhuộm bằng thuốc nhuộm này lúc đầu có màu đỏ khi tạo phức với muối crom thì chuyển thành màu đỏ lựu, bền màu với ánh sáng, gia công ướt và cán mịn.
Tuy công nghệ nhuộm phức tạp nhưng những thuốc nhuộm khó đều màu sẽ đạt được độ bền màu cao với gia công ướt và ánh sáng, hơn nữa lại có thể nhuộm trong môi trường axit yếu và trung tính nên có thể thiết lập công nghệ nhuộm các loại vải pha từ xơ, len hoặc tơ tằm bằng hỗn hợp thuốc nhuộm thích hợp.
b)Thuốc nhuộm axit crom (thuốc nhuộm axit cầm màu):
Một số thuốc nhuộm vừa có các tính chất như thuốc nhuộm axit thông thường vừa có khả năng tạo phức với muối kim loại,chủ yếu là muối crom nên được xếp riêng thành 1 nhóm gọi là thuốc nhuộm axit crom hay thuốc nhuộm axit cầm màu.
c)Thuốc nhuộm axit chứa kim loại:
Để đơn giản hóa quá trình chuẩn bị và nhuộm vật liệu, người ta đã chế tạo ra loại thuốc nhuộm chứa sẵn nguyên tử kim loại trong phân tử của chúng bao gồm:
Thuốc nhuộm chứa kim loại 1:1 : kim loại tạo phức dùng chủ yếu là crom hóa trị ba.
Có tính chất dễ hòa tan trong nước, dễ đều màu, màu tươi và bắt màu vào vật liệu trong môi trường axit mạnh.
Thuốc nhuộm chứa kim loại 1:2 : kim loại tạo phức ngoài crom còn dùng thêm coban hóa trị ba.
Có tính chất khó hòa tan trong nước và khó đều màu nên phải dùng các chất trợ nhuộm cần thiết mới có thể đạt được độ đều màu cao. Ít nhạy cảm với nước cứng và các ion kim loại có trong nước như đồng, sắt, crom...
Để tạo cho thuốc nhuộm có độ hòa tan cần thiết người ta đưa vào phân tử của chúng các nhóm ưa nước như Sunfamit (-SO2NH2), metylsunfon (-SO2CH3), chỉ giữ lại một phần nhóm Natri sunfonat. Vì nguyên tử kim loại (thường là crom) đã được bão hòa bằng các liên kết phối trí nội phân tử, chúng không còn khả năng liên kết phối trí với vật liệu nữa. Chúng liên kết với các vật liệu từ protein (len, tơ tằm, da thuộc, lông thú) bằng liên kết ion, liên kết hidro và liên kết Van der Waals trong môi trường axit yếu (pH= 5-6), và cả môi trường trung tính.
Thuốc nhuộm chứa kim loại 1:2 do có thể nhuộm trong môi trường axit yếu nên được dùng nhiều để nhuộm tơ tằm.
3) THUỐC NHUỘM HOẠT TÍNH:
Thuốc nhuộm hoạt tính là những hợp chất màu mà trong phân tử của chúng có chứa các nhóm nguyên tử có thể thực hiện mối liên kết hóa trị với vật liệu nói chung và xơ dệt nói riêng trong quá trình nhuộm.
Nhờ vậy mà chúng có độ bền màu cao với gia công ướt, ma sát và nhiều chỉ tiêu khác nữa.
Thuốc nhuộm hoạt tính có đủ gam màu, màu tươi và thuần sắc, công nghệ nhuộm đa dạng và không quá phức tạp, vì vậy nên tuy mới ra đời năm 1956 đến nay đã được sản xuất với khối lượng lớn và sử dụng khá phổ biến.
Chúng được dùng để nhuộm và in hoa cho tơ tằm, len, vật liệu từ xơ polyamit, xenlulo.
Trong điều kiện nhuộm, khi tiếp xúc với vật liệu thuốc nhuộm hoạt tính sẽ tham gia đồng thời vào hai phản ứng : với vật liệu và phản ứng thủy phân.
Phản ứng với vật liệu (xơ) là phản ứng chính có dạng tổng quát:
S – Ar – T – X + HO – Xơ A – Ar – T – O – Xơ + HX
Phản ứng thủy phân là phản ứng phụ làm giảm hiệu suất sử dụng của thuốc nhuộm, có dạng tổng quát:
S – Ar – T – X + HOH S – Ar – T – OH + HX
Ưu điểm
Có gam màu rộng.
Màu tươi và thuần sắc.
Có độ bền màu cao với gia công ướt.
Phương pháp nhuộm đa dạng.
Dễ tái lập lại màu.
Dễ làm sạch nước thải.Giá thành vừa phải.
Nhược điểm
Khó giặt sạch phần thuốc nhuộm bị thủy phân.
Chu kỳ nhuộm dài.
Tốn nhiều hóa chất.
Độ bền màu với ánh sáng không cao nhất là các màu đỏ và da cam.
 







Các ý kiến mới nhất