Tìm kiếm Bài giảng
K7D_Nguyễn Thị Phương Nam_KTGHP

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: An Nhiên
Ngày gửi: 19h:23' 30-11-2019
Dung lượng: 245.0 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: An Nhiên
Ngày gửi: 19h:23' 30-11-2019
Dung lượng: 245.0 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
Môn: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1
/
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam
Lớp: Đại học Tiểu học DK7
Khoa: Sư phạm Tiểu học – Mầm non
Giảng viên hướng dẫn: Trần Dương Quốc Hoà
Năm học: 2019 - 2020
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
Yêu cầu 1: Xem xét – đánh giá việc thực hiện 3 nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học:
Trong thời gian 4 tuần kiến tập tại trường tiểu học Nguyễn An Ninh,em được nhà trường phân công vào lớp 1và may mắn được tham dự 1 số tiết dự giờ của khối lớp khác. Em nhận thấy mặc dù mỗi giáo viên có những phương pháp dạy khác nhau. Tuy nhiên, trong các tiết dạy Tiếng Việt, họ đều thực hiện đầy đủ 3 nguyên tắc dạy học. Cụ thể như sau:
I. Về nguyên tắc phát triển tư duy
Các tiết dạy Tiếng Việt đều tuân thủ nguyên tắc phát triển tư duy. GV luôn đặt HS vào tình huống lúc nào cũng phải tư duy. GV thường xuyên chú ý rèn các thao tác tư duy cho HS như: so sánh, phân tích. Liên tục đưa ra nhiều câu hỏi, đặt HS trong tâm thế phải suy nghĩ, tư duy từ đó giúp các em chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức
- Ví dụ phân môn học vần bài vần “en-ên” tiết 1
+ Về phần KTBC: GV yêu cầu học sinh tìm và viết vào bảng con từ chứa tiếng có vần “ôn-ơn” đã học ở tiết trước =>HS tư duy nhanh và viết ra ngay từ mình suy nghĩ được.
+ Hoạt động với vần mới: GV viết vần ”en-ên” lên bảng và để cho học sinh tự làm các bước: phân tích, so sánh với vần đã học, ghép bảng cài, đánh vần, đọc trơn.GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi để rút ra tiếng khóa, từ khóa (Học vần “en” muốn có tiếng “sen” ta làm thế nào?, Học vần “ên” muốn có tiếng “nhện” ta làm thế nào?; Bức tranh vẽ gì?, Lá sen có màu gì?, Con nhện có mấy chân?..)
+ Ngoài ra ở các từ ứng dụng, GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi để rút ra được các từ ứng dụng và các câu hỏi ngoài để cung cấp thêm tri thức cho HS (Áo lên thường mặt vào mùa nào? Khi nào thì chúng ta được nhận lời khen ? Mũi tên thường được dùng để làm gì ?…)
- Ví dụ phân môn Tập làm văn: Bài “Luyện tập tả người” ( tả ngoại hình ) - lớp 5
GV đưa ra những câu hỏi gợi ý: Người em thường gặp là ai? Khuôn mặt như thế nào? Mái tóc? Mắt? Mũi? Miệng?... HStư duy, suy nghĩ tự do kể và tả lại, tự do sáng tạo cho bài văn của mình, sau đó hoàn chỉnh bài văn và cuối cùng GV chỉnh sửa.
II. Về nguyên tắc giao tiếp
- Trong phần lớn các tiết dạy, GV đảm bảo và thực hiện tốt nguyên tắc giao tiếp, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương pháp – phương tiện dạy học.GV luôn hỏi -> HS trả lời -> một số HS nhận xét câu trả lời của bạn -> GV nhận xét sau cùng và kết luận. GV luôn kích thích các em phát triển lời nói:
+ Khi viết bài, GV luôn đặt những câu hỏi về độ cao, độ rộng; khoảng cách của các con chữ; điểm đặt bút, dừng bút để học sinh trả lời rồi mới viết vào vở (ví dụ vần “ôn”: con chữ “ô” cao mấy dòng ly, điểm đặt bút của chữ “ô” nằm ở dòng kẻ thứ mấy, độ rộng của vần “ôn” viết hết mấy ô,..)
+ Trong bài học vần “ôn-ơn”, ở hoạt động luyện nói theo chủ đề “Mai sau khôn lớn”, GV tổ chức cho HS chơi trò chơi “Bé làm phóng viên” để hỏi các bạn trong lớp về ước mơ sau này của mình. Các emrất hứng thú để được giao tiếp, chia sẻ về những ước mơ của bản thân cho cả lớp cùng nghe
- Ngoài ra, HS luôn được nêu lên cảm nghĩ của mình về 1 bức tranh, 1 hiện tượng, hay trả lời những câu hỏi của GV theo ý hiểu của mình:
+Khi dạy bài “Sự tích cây vú sữa”(lớp 2), ngoài những câu hỏi trong sách, GV còn hỏi ở bên ngoàii: “Em cần phải làm gì để khiến mẹ vui lòng?” HS cùng nhau thảo luận, đóng góp ý kiến, nhận xét đồng tình hay không đồng tình với bạn, và bổ sung, sửa cho bạn.
+ Khi giới thiệu bài “ Bà cháu” (
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
Môn: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1
/
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam
Lớp: Đại học Tiểu học DK7
Khoa: Sư phạm Tiểu học – Mầm non
Giảng viên hướng dẫn: Trần Dương Quốc Hoà
Năm học: 2019 - 2020
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
Yêu cầu 1: Xem xét – đánh giá việc thực hiện 3 nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học:
Trong thời gian 4 tuần kiến tập tại trường tiểu học Nguyễn An Ninh,em được nhà trường phân công vào lớp 1và may mắn được tham dự 1 số tiết dự giờ của khối lớp khác. Em nhận thấy mặc dù mỗi giáo viên có những phương pháp dạy khác nhau. Tuy nhiên, trong các tiết dạy Tiếng Việt, họ đều thực hiện đầy đủ 3 nguyên tắc dạy học. Cụ thể như sau:
I. Về nguyên tắc phát triển tư duy
Các tiết dạy Tiếng Việt đều tuân thủ nguyên tắc phát triển tư duy. GV luôn đặt HS vào tình huống lúc nào cũng phải tư duy. GV thường xuyên chú ý rèn các thao tác tư duy cho HS như: so sánh, phân tích. Liên tục đưa ra nhiều câu hỏi, đặt HS trong tâm thế phải suy nghĩ, tư duy từ đó giúp các em chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức
- Ví dụ phân môn học vần bài vần “en-ên” tiết 1
+ Về phần KTBC: GV yêu cầu học sinh tìm và viết vào bảng con từ chứa tiếng có vần “ôn-ơn” đã học ở tiết trước =>HS tư duy nhanh và viết ra ngay từ mình suy nghĩ được.
+ Hoạt động với vần mới: GV viết vần ”en-ên” lên bảng và để cho học sinh tự làm các bước: phân tích, so sánh với vần đã học, ghép bảng cài, đánh vần, đọc trơn.GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi để rút ra tiếng khóa, từ khóa (Học vần “en” muốn có tiếng “sen” ta làm thế nào?, Học vần “ên” muốn có tiếng “nhện” ta làm thế nào?; Bức tranh vẽ gì?, Lá sen có màu gì?, Con nhện có mấy chân?..)
+ Ngoài ra ở các từ ứng dụng, GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi để rút ra được các từ ứng dụng và các câu hỏi ngoài để cung cấp thêm tri thức cho HS (Áo lên thường mặt vào mùa nào? Khi nào thì chúng ta được nhận lời khen ? Mũi tên thường được dùng để làm gì ?…)
- Ví dụ phân môn Tập làm văn: Bài “Luyện tập tả người” ( tả ngoại hình ) - lớp 5
GV đưa ra những câu hỏi gợi ý: Người em thường gặp là ai? Khuôn mặt như thế nào? Mái tóc? Mắt? Mũi? Miệng?... HStư duy, suy nghĩ tự do kể và tả lại, tự do sáng tạo cho bài văn của mình, sau đó hoàn chỉnh bài văn và cuối cùng GV chỉnh sửa.
II. Về nguyên tắc giao tiếp
- Trong phần lớn các tiết dạy, GV đảm bảo và thực hiện tốt nguyên tắc giao tiếp, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương pháp – phương tiện dạy học.GV luôn hỏi -> HS trả lời -> một số HS nhận xét câu trả lời của bạn -> GV nhận xét sau cùng và kết luận. GV luôn kích thích các em phát triển lời nói:
+ Khi viết bài, GV luôn đặt những câu hỏi về độ cao, độ rộng; khoảng cách của các con chữ; điểm đặt bút, dừng bút để học sinh trả lời rồi mới viết vào vở (ví dụ vần “ôn”: con chữ “ô” cao mấy dòng ly, điểm đặt bút của chữ “ô” nằm ở dòng kẻ thứ mấy, độ rộng của vần “ôn” viết hết mấy ô,..)
+ Trong bài học vần “ôn-ơn”, ở hoạt động luyện nói theo chủ đề “Mai sau khôn lớn”, GV tổ chức cho HS chơi trò chơi “Bé làm phóng viên” để hỏi các bạn trong lớp về ước mơ sau này của mình. Các emrất hứng thú để được giao tiếp, chia sẻ về những ước mơ của bản thân cho cả lớp cùng nghe
- Ngoài ra, HS luôn được nêu lên cảm nghĩ của mình về 1 bức tranh, 1 hiện tượng, hay trả lời những câu hỏi của GV theo ý hiểu của mình:
+Khi dạy bài “Sự tích cây vú sữa”(lớp 2), ngoài những câu hỏi trong sách, GV còn hỏi ở bên ngoàii: “Em cần phải làm gì để khiến mẹ vui lòng?” HS cùng nhau thảo luận, đóng góp ý kiến, nhận xét đồng tình hay không đồng tình với bạn, và bổ sung, sửa cho bạn.
+ Khi giới thiệu bài “ Bà cháu” (
 








Các ý kiến mới nhất