ket noi tri thuc voi cuoc song

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 19h:41' 09-12-2023
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 19h:41' 09-12-2023
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
TIẾT 5,6,7
Văn bản 5
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Nguyễn Tuân
I.Tìm hiểu chung:
1. Tác giả
Nhà văn Nguyễn Tuân: (1910-1987)
* Tiểu sử:
- Quê hương: Hà Nội
- Gia đình: nhà Nho (khi Hán học đã tàn)
- Con người:
+ Một ý thức cá nhân phát triển rất cao
+ Một trí thức nặng tình dân tộc
+ Một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác
* Sự nghiệp:
- Trước Cách mạng:
+ Đề tài chính: chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp quá khứ, đời sống trụy lạc…
+ Tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua…
+ Thành công ở thể loại: truyện ngắn
- Sau Cách mạng:
+ Đề tài: kháng chiến chống Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Tác phẩm: Kí chống Mỹ, Sông Đà…
+ Thành công ở thể loại tùy bút
- Phong cách nghệ thuật
+ Tiếp cận sự vật và con người: phương diện thẩm mĩ (vẻ đẹp phi thường, tuyệt mĩ)
+ Cảm hứng phóng túng, cảm giác mãnh liệt…
+ Vận dụng tri thức đa ngành: hội họa, âm nhạc, quân sự…
+ Ngôn ngữ, câu văn: phong phú, tinh tế, giàu nhạc điệu, giàu chất tạo hình…→ tài hoa, uyên bác
Nguyễn Tuân được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)
2.Tác phẩm
a.Vang bóng một thời
- Xuất bản: năm 1940, bao gồm 11 truyện ngắn.
- Đề tài: Vẻ đẹp quá khứ.
- Nhân vật: Nhà Nho tài hoa, tài tử.
→ Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước cách
mạng .
“Một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ” (Vũ Ngọc Phan).
b.Chữ người tử tù
- Nhan đề:
+ Dòng chữ cuối cùng (Tạp chí Tao đàn,1939).
+ Chữ người tử tù (Tâp truyện Vang bóng một thời, 1940).
- Chủ đề:
+ Ngợi ca vẻ đẹp chữ viết và nhân cách một tử tù.
+ Quan niệm về cái đẹp và tình dân tộc sâu sắc .
- Bố cục, tóm tắt: 3 phần
+ Cảnh nhận tù.
+ Cảnh quản ngục biệt đãi Huấn Cao.
+ Cảnh cho chữ.
II. Đọc hiểu văn bản
1.Tình huống truyện
a. Không gian gặp gỡ:
Nhà tù
- Không gian của tội phạm
- Ẩm thấp, bẩn thỉu
- QC làm chủ
->Cuộc gặp của những kẻ đối
nghịch
Buồng giam Huấn Cao
- Không gian của tử tù đặc
biệt
-Quét dọn sạch sẽ
- HC làm chủ
->Cuộc gặp của mối thâm
tình.
b. Thời gian và diễn biến cuộc gặp gỡ: HC đợi ra pháp trường
Những ngày cuối cùng
Giờ phút cuối cùng
Chưa thể gặp HC
Tâm sự QN được hé lộ ( thầy
Thơ )
QN bị mắng, đuổi >< HC đợi QN được HC mời đến
báo thù
->Dò xét, nghi kị, thách thức
->Thấu hiểu, tin tưởng
→ Thời gian và diễn biến cuộc gặp: kịch tính
c. Huấn Cao và Quản Ngục:
Huấn Cao
Tử tù
Quan hệ
Quản ngục
Chính trị: đối nghịch, loại Cai tù
trừ nhau
Người viết chữ đẹp
Nghệ thuật: tri âm, tri kỉ
Người xin chữ
đẹp
Thân thể cầm tù >< Nhân cách cầm
tự do
tù
d. Ý nghĩa của tình huống truyện:
- Nổi bật vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao.
- Sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục.
- Thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm.
2. Các nhân vật
a. Huấn Cao
Là một nghệ sĩ tài hoa tuyệt đích
- Tài hoa: viết chữ nhanh và đẹp (nghệ thuật thư pháp)
- Được miêu tả gián tiếp qua các cuộc trò chuyện giữa viên quản
ngục và thầy thơ lại; qua suy nghĩ, cảm xúc của quản ngục về “chữ
ông Huấn Cao”; qua sở nguyện của viên quản ngục.
=> Tác giả “lấy gần để nói xa”, “lấy bóng để làm lộ hình”. Đây là
một lối nói tất tinh tế, sáng tạo, tạo ra sự cuốn hút và vẻ đẹp tài hoa
của Huấn Cao hiện lên một cách khách quan.
=> Trân trọng giá trị truyền thống. Qua đó, thể hiện tình thần dân tộc
và lòng yêu nước kín đáo.
Là người có khí phách anh hùng
- Đứng về phía nhân dân chống lại triều đình mà ông căm ghét.
- Thể hiện qua:
+ Hành động: Hiên ngang, ngạo nghễ.
+ Thái độ: Bình thản, ung dung, tự tại.
+ Lời nói: Khinh bạc, cứng cỏi.
=> Hành động, thái độ, lời nói đã tạo nên khí phách anh hùng của một nhà Nho.
=> Tác giả gửi gắm tình cảm thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc đối với những chiến sĩ yêu nước.
Là người có nhân cách cao thượng
- Thái độ, cách ứng xử đối với nghệ thuật: Huấn Cao “nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép
mình viết câu đối bao giờ”, chỉ trao tặng cái đẹp cho người tri âm, tri kỉ.
- Thái độ, cách ứng xử đối với con người: Trân trọng người yêu cái đẹp.
=> Vẻ đẹp nhân cách con người: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.
=> Quan niệm thẩm mĩ của nhà văn: Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau; Một nhân cách cao đệp bao
giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài. (quan niệm thẩm mĩ tiến bộ)
So sánh mở rộng: Tử Văn và Huấn Cao: đều là hiện thân cho nhân cách cao quý của kẻ sĩ
- Ung dung, bất khuất trước cường quyền.
- Đấu tranh quyết liệt với cái xấu, cái ác.
- Hào hiệp, trọng nghĩa khí.
b. Nhân vật Viên quản ngục
Hoàn cảnh:
- Nghề nghiệp và môi trường sống: cai ngục trong đề lao (nơi người ta
sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, một đống cặn bã, ăn đời ở kiếp với lũ
quay quắt) -> Khó giữ được thiên lương, phẩm giá của con người.
- Sở thích: có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do
tay ông Huấn Cao viết -> Cao quý, trái ngược với công việc mà ông làm.
- Cuộc gặp gỡ đầy trớ trêu với Huấn Cao, một người ông mến mộ trong nhà
lao khi ông là cai ngục mà Huấn Cao lại là tử tù -> Đặt viên quản ngục
vào một tình thế trớ trêu, khó xử nhưng đồng thời cũng làm nổi bật tính
cách, phẩm chất tốt đẹp của ông.
Tính cách, phẩm chất:
- Được thể hiện qua lời kể của tác giả trong phần 1:
+ Ngoại hình: đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu.
+ Lời nói: qua cuộc đối thoại với thầy thơ lại thể hiện sự mến mộ ông Huấn
nhưng vẫn giữ đúng phép tắc.
+ Suy nghĩ: về sự kính mến khí phách, biết tiếc, biết trọng người tài của thầy
thơ lại và mong muốn sẽ biệt đãi ông Huấn Cao những ngày cuối đời.
+ Những câu văn khái quát nhân vật:
Tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên
quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà
nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ.
Những cái thuần khiến vào giữa một đống cặn bã.
Những người có tâm điền tốt và thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay
quắt.
Qua lời kể của tác giả, người đọc có cái nhìn tốt đẹp và thiện cảm hơn với
viên quản ngục.
-
Được thể hiện qua hành động biệt đãi và xin chữ Huấn Cao:
+ Biệt đãi Huấn Cao:
Khi nghe tin Huấn Cao là tử tù: nảy sinh ý định muốn biệt đãi, muốn cho
ông ta đỡ cực những ngày cuối cùng còn lại.
Khi đón nhận tù nhân: viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp
mắt hiền lành, lòng kiêng nể, biệt nhỡn riêng với Huấn Cao.
Những ngày Huấn Cao ở tù: suốt nửa tháng, ngày nào cũng tiếp đãi rượu
thịt; trực tiếp vào buồng giam bày tỏ: “Biết ngày là một người có nghĩa khí,
tôi muốn châm chước ít nhiều” và không đặt chân vào buồng giam khi
Huấn Cao yêu cầu. Trước Huấn Cao, viên quản ngục chỉ coi mình là một kẻ
tiểu lại giữ tù không là gì so với ông Huấn.
+Xin chữ ông Huấn:
.Trăn trở, khổ tâm khi không thể tiếp cận ông Huấn.
.Tái nhợt người khi tiếp đọc công văn sáng sớm hôm sau ông Huấn và đồng chí
bị áp giải ra pháp trường. Kể rõ tâm tình để thầy thơ lại giúp.
.Khúm núm, vái lạy và khóc xin bãi lĩnh khi ông Huấn cho chữ.
->Qua hành động biệt đãi và xin chữ Huấn Cao, viên quản ngục càng thể hiện
rõ tính cách tốt đẹp biệt nhỡn liên tài.
Đánh giá:
-Nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụng bút pháp tương phản, đối lập, ngôn ngữ kể đậm chất cổ xưa, trang
trọng để khắc hoạ thành công nhân vật viên quản ngục.
-Chân dung viên quản ngục là một người trọng khí phách, mến tài năng, yêu và say mê cái đẹp, sẵn
sàng thay đổi bản thân vì cái đẹp.
-Nhân vật thể hiện quan điểm thẩm mĩ sâu sắc, nhân sinh: cái đẹp có khả năng cảm hoá con người.
3. Cảnh cho chữ - một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
a.Không gian – địa điểm:
Cho chữ hay còn gọi nghệ thuật thư pháp vốn là một việc làm thanh cao nên thường
diễn ra ở nơi thư phòng trăng thanh, gió mát hoặc giữa thiên nhiên lộng ngát hương hoa
còn ở đây, nó lại diễn ra giữa chốn ngục tù, trong căn buồng gian chật hẹp, ẩm ướt, hôi
hám (tường đầy... phân gián).
b. Thời gian- cách thức cho chữ:
Thường diễn ra công khai, tự do, đường hoàng giữa “thanh thiên bạch nhật”, còn ở đây
nó lại diễn ra bí mật, vào lúc đêm khuya khi “trại giam tỉnh Sơn... vọng canh”.
c. Nhân vật
* Tư thế, vị thế của người cho chữ, người nhận chữ
- Tư thế:
+ Người cho chữ: người nghệ sĩ tài hoa HC, không phải là một người tự do mà là một kẻ tử tù “cổ đeo gông, chân vướng
xiềng, dậm tô từng nét chữ” và chỉ sáng sớm tinh mơ ngày mai là đã bị giải vào kinh chịu án tử hình nhưng lại uy nghi,
đường bệ, say mê tô từng nét chữ.
+ Người xin chữ - thầy thơ lại và viên quản ngục: là những người những kẻ hoàn toàn tự do và là những kẻ có quyền hành
thì kẻ “khúm núm”, người “run run”→Tư thế: xo ro, sợ sệt.
- Vị thế:
+ Kẻ có quyền hành thì không có uy quyền, uy quyền thuộc về HC, kẻ bị tước mọi thứ quyền.
+ Kẻ nắm quyền sinh quyền sát thì khúm núm, sợ sệt, người tử tù thì đường bệ, hiên ngang.
+ Kẻ có chức năng giáo dục tội phạm thì giờ đây đang được tội phạm giáo dục, còn mình thì thành kính lĩnh nhận từng lời
như nhận những lời di huấn thiêng liêng về nhân cách, về lẽ sống của một bậc hiền minh cao cả.
Vị thế: đảo lộn hoàn toàn. Điều đó đã nói lên rằng giữa nơi ngục tù tối tăm không phải là nơi cái ác, cái tàn bạo, xấu xa
đang thống trị mà cái đẹp, cái thiện, cái dũng, cái tài hoa đang làm chủ.
* Lời nói, hành động của các nhân vật.
Huấn Cao.
- Lời khuyên: “Ta khuyên... lương thiện đi”
Huấn Cao khuyên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn, tìm về chốn thanh tao để có thể tiếp tục sử nguyện cao quý và giữ
thiên lương cho vững lành.→Lời khuyên là lời di huấn thiêng liêng của người tử tù.
- Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân: cái đẹp có thể ra đời ở mọi nơi nhưng cái đẹp không thể chung sống với cái xấu xa,
cái ác bởi bản chất của cái đẹp là cái thiện. Cái đẹp của văn chương nghệ thuật không thể tách rời cái đẹp của tình người. Vì
vậy, muốn chơi chữ trước hết cần phải giữ lấy thiên lương.
Quản ngục
- Hành động bái lạy trong lời nói nghẹn ngào của ngục quan trước lời di huấn của người tử tù: “kẻ mê muội này xin bái
lĩnh”.
→Sức cảm hoá mạnh mẽ của cái thiện, cái đẹp đối với con người. Bằng con đường của trái tim, sức mạnh ấy càng được
nhân lên gấp bội.
Tóm lại: Cảnh cho chữ
- Thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm:
+ Khẳng định sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, của cái thiện đối với cái
ác,...
+ Khẳng định sự bất tử của cái đẹp: cái đẹp có thể bị cầm tù, bức hại nhưng nó không thể bị huỷ diệt. (Việc HC cho chữ là
sự bàn giao lại cái đẹp để cái đẹp trở thành bất tử. Ngày mai, HC vào kinh thụ án nhưng di bút và di ngôn của ông để lại cho
hậu thế đủ để ông đi vào cõi trường tồn).
- Phát huy triệt để sức mạnh của thủ pháp nghệ thuật đối lập tương phản, của bút pháp lãng mạn, sử dụng với tần số cao các
từ HV, huy động kiến thức ở nhiều lĩnh vực như hội hoạ, điện ảnh, lịch sử,... cùng ngôn ngữ miêu tả giàu chất tại hình, HC
không chỉ làm nổi bật hình tượng HC và VQN mà còn thể hiện tài năng bậc thầy của mình trong việc “phục chế” không khí
cổ xưa, hoàn thành tâm nguyện lưu giữ vẻ đẹp “vang bóng một thời” cho muôn đời.
- Nghệ thuật:
+ Đối lập, tương phản
Cái chật hẹp, ẩm thấp, hôi hám, tối tăm của nhà tù và đêm khuya
Ánh sáng rực rỡ của bó đuốc tẩm dầu, của vuông lụa trắng tinh, của mùi thơm từ chậu mực.
→Sự đối lập tương phản giữa ánh sáng và bóng tối; cái thiện và cái ác; cái cao cả và cái thấp hèn; cái đẹp
và sự tầm thường, đề tiện...
+ Nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh →Cảnh cho chữ giống như một đoạn phim quay chậm, từng
hình ảnh, động tác hiện dần lên dưới ngòi bút “đậm chất điện ảnh” của nhà văn: trên cái nền đen kịt của
trại giam là vầng sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu. Dưới vầng sáng trang trọng và rực rỡ đó, ba con
người đang chụm đầu vào nhau quanh một tấm lụa còn nguyên vẹn lần hồ. Vuông lụa trắng là điểm sáng
nhất của vầng sáng ấy. Trên đó, từng nét chữ đang tượng hình, từng con chữ đang ra đời→ Cái đẹp được
khai sinh ngay giữa nhà tù, giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn, giữa nơi bóng tối và cái ác đang ngự trị.
III. Tổng kết
1. Nội dung.
Chữ người tử tù khẳng định và tôn vinh sự chiến thắng của ánh sáng, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả
của con người đồng thời bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của nhà văn.
2. Nghệ thuật.
- Tạo dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc (cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa viên quản
ngục và Huấn Cao).
- Sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản.
- Xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao, con người hội tụ nhiều vẻ đẹp.
- Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính, vừa hiện đại.
THANKS YOU
Văn bản 5
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Nguyễn Tuân
I.Tìm hiểu chung:
1. Tác giả
Nhà văn Nguyễn Tuân: (1910-1987)
* Tiểu sử:
- Quê hương: Hà Nội
- Gia đình: nhà Nho (khi Hán học đã tàn)
- Con người:
+ Một ý thức cá nhân phát triển rất cao
+ Một trí thức nặng tình dân tộc
+ Một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác
* Sự nghiệp:
- Trước Cách mạng:
+ Đề tài chính: chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp quá khứ, đời sống trụy lạc…
+ Tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua…
+ Thành công ở thể loại: truyện ngắn
- Sau Cách mạng:
+ Đề tài: kháng chiến chống Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Tác phẩm: Kí chống Mỹ, Sông Đà…
+ Thành công ở thể loại tùy bút
- Phong cách nghệ thuật
+ Tiếp cận sự vật và con người: phương diện thẩm mĩ (vẻ đẹp phi thường, tuyệt mĩ)
+ Cảm hứng phóng túng, cảm giác mãnh liệt…
+ Vận dụng tri thức đa ngành: hội họa, âm nhạc, quân sự…
+ Ngôn ngữ, câu văn: phong phú, tinh tế, giàu nhạc điệu, giàu chất tạo hình…→ tài hoa, uyên bác
Nguyễn Tuân được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)
2.Tác phẩm
a.Vang bóng một thời
- Xuất bản: năm 1940, bao gồm 11 truyện ngắn.
- Đề tài: Vẻ đẹp quá khứ.
- Nhân vật: Nhà Nho tài hoa, tài tử.
→ Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước cách
mạng .
“Một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ” (Vũ Ngọc Phan).
b.Chữ người tử tù
- Nhan đề:
+ Dòng chữ cuối cùng (Tạp chí Tao đàn,1939).
+ Chữ người tử tù (Tâp truyện Vang bóng một thời, 1940).
- Chủ đề:
+ Ngợi ca vẻ đẹp chữ viết và nhân cách một tử tù.
+ Quan niệm về cái đẹp và tình dân tộc sâu sắc .
- Bố cục, tóm tắt: 3 phần
+ Cảnh nhận tù.
+ Cảnh quản ngục biệt đãi Huấn Cao.
+ Cảnh cho chữ.
II. Đọc hiểu văn bản
1.Tình huống truyện
a. Không gian gặp gỡ:
Nhà tù
- Không gian của tội phạm
- Ẩm thấp, bẩn thỉu
- QC làm chủ
->Cuộc gặp của những kẻ đối
nghịch
Buồng giam Huấn Cao
- Không gian của tử tù đặc
biệt
-Quét dọn sạch sẽ
- HC làm chủ
->Cuộc gặp của mối thâm
tình.
b. Thời gian và diễn biến cuộc gặp gỡ: HC đợi ra pháp trường
Những ngày cuối cùng
Giờ phút cuối cùng
Chưa thể gặp HC
Tâm sự QN được hé lộ ( thầy
Thơ )
QN bị mắng, đuổi >< HC đợi QN được HC mời đến
báo thù
->Dò xét, nghi kị, thách thức
->Thấu hiểu, tin tưởng
→ Thời gian và diễn biến cuộc gặp: kịch tính
c. Huấn Cao và Quản Ngục:
Huấn Cao
Tử tù
Quan hệ
Quản ngục
Chính trị: đối nghịch, loại Cai tù
trừ nhau
Người viết chữ đẹp
Nghệ thuật: tri âm, tri kỉ
Người xin chữ
đẹp
Thân thể cầm tù >
tự do
tù
d. Ý nghĩa của tình huống truyện:
- Nổi bật vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao.
- Sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục.
- Thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm.
2. Các nhân vật
a. Huấn Cao
Là một nghệ sĩ tài hoa tuyệt đích
- Tài hoa: viết chữ nhanh và đẹp (nghệ thuật thư pháp)
- Được miêu tả gián tiếp qua các cuộc trò chuyện giữa viên quản
ngục và thầy thơ lại; qua suy nghĩ, cảm xúc của quản ngục về “chữ
ông Huấn Cao”; qua sở nguyện của viên quản ngục.
=> Tác giả “lấy gần để nói xa”, “lấy bóng để làm lộ hình”. Đây là
một lối nói tất tinh tế, sáng tạo, tạo ra sự cuốn hút và vẻ đẹp tài hoa
của Huấn Cao hiện lên một cách khách quan.
=> Trân trọng giá trị truyền thống. Qua đó, thể hiện tình thần dân tộc
và lòng yêu nước kín đáo.
Là người có khí phách anh hùng
- Đứng về phía nhân dân chống lại triều đình mà ông căm ghét.
- Thể hiện qua:
+ Hành động: Hiên ngang, ngạo nghễ.
+ Thái độ: Bình thản, ung dung, tự tại.
+ Lời nói: Khinh bạc, cứng cỏi.
=> Hành động, thái độ, lời nói đã tạo nên khí phách anh hùng của một nhà Nho.
=> Tác giả gửi gắm tình cảm thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc đối với những chiến sĩ yêu nước.
Là người có nhân cách cao thượng
- Thái độ, cách ứng xử đối với nghệ thuật: Huấn Cao “nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép
mình viết câu đối bao giờ”, chỉ trao tặng cái đẹp cho người tri âm, tri kỉ.
- Thái độ, cách ứng xử đối với con người: Trân trọng người yêu cái đẹp.
=> Vẻ đẹp nhân cách con người: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.
=> Quan niệm thẩm mĩ của nhà văn: Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau; Một nhân cách cao đệp bao
giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài. (quan niệm thẩm mĩ tiến bộ)
So sánh mở rộng: Tử Văn và Huấn Cao: đều là hiện thân cho nhân cách cao quý của kẻ sĩ
- Ung dung, bất khuất trước cường quyền.
- Đấu tranh quyết liệt với cái xấu, cái ác.
- Hào hiệp, trọng nghĩa khí.
b. Nhân vật Viên quản ngục
Hoàn cảnh:
- Nghề nghiệp và môi trường sống: cai ngục trong đề lao (nơi người ta
sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, một đống cặn bã, ăn đời ở kiếp với lũ
quay quắt) -> Khó giữ được thiên lương, phẩm giá của con người.
- Sở thích: có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do
tay ông Huấn Cao viết -> Cao quý, trái ngược với công việc mà ông làm.
- Cuộc gặp gỡ đầy trớ trêu với Huấn Cao, một người ông mến mộ trong nhà
lao khi ông là cai ngục mà Huấn Cao lại là tử tù -> Đặt viên quản ngục
vào một tình thế trớ trêu, khó xử nhưng đồng thời cũng làm nổi bật tính
cách, phẩm chất tốt đẹp của ông.
Tính cách, phẩm chất:
- Được thể hiện qua lời kể của tác giả trong phần 1:
+ Ngoại hình: đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu.
+ Lời nói: qua cuộc đối thoại với thầy thơ lại thể hiện sự mến mộ ông Huấn
nhưng vẫn giữ đúng phép tắc.
+ Suy nghĩ: về sự kính mến khí phách, biết tiếc, biết trọng người tài của thầy
thơ lại và mong muốn sẽ biệt đãi ông Huấn Cao những ngày cuối đời.
+ Những câu văn khái quát nhân vật:
Tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên
quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà
nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ.
Những cái thuần khiến vào giữa một đống cặn bã.
Những người có tâm điền tốt và thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay
quắt.
Qua lời kể của tác giả, người đọc có cái nhìn tốt đẹp và thiện cảm hơn với
viên quản ngục.
-
Được thể hiện qua hành động biệt đãi và xin chữ Huấn Cao:
+ Biệt đãi Huấn Cao:
Khi nghe tin Huấn Cao là tử tù: nảy sinh ý định muốn biệt đãi, muốn cho
ông ta đỡ cực những ngày cuối cùng còn lại.
Khi đón nhận tù nhân: viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp
mắt hiền lành, lòng kiêng nể, biệt nhỡn riêng với Huấn Cao.
Những ngày Huấn Cao ở tù: suốt nửa tháng, ngày nào cũng tiếp đãi rượu
thịt; trực tiếp vào buồng giam bày tỏ: “Biết ngày là một người có nghĩa khí,
tôi muốn châm chước ít nhiều” và không đặt chân vào buồng giam khi
Huấn Cao yêu cầu. Trước Huấn Cao, viên quản ngục chỉ coi mình là một kẻ
tiểu lại giữ tù không là gì so với ông Huấn.
+Xin chữ ông Huấn:
.Trăn trở, khổ tâm khi không thể tiếp cận ông Huấn.
.Tái nhợt người khi tiếp đọc công văn sáng sớm hôm sau ông Huấn và đồng chí
bị áp giải ra pháp trường. Kể rõ tâm tình để thầy thơ lại giúp.
.Khúm núm, vái lạy và khóc xin bãi lĩnh khi ông Huấn cho chữ.
->Qua hành động biệt đãi và xin chữ Huấn Cao, viên quản ngục càng thể hiện
rõ tính cách tốt đẹp biệt nhỡn liên tài.
Đánh giá:
-Nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụng bút pháp tương phản, đối lập, ngôn ngữ kể đậm chất cổ xưa, trang
trọng để khắc hoạ thành công nhân vật viên quản ngục.
-Chân dung viên quản ngục là một người trọng khí phách, mến tài năng, yêu và say mê cái đẹp, sẵn
sàng thay đổi bản thân vì cái đẹp.
-Nhân vật thể hiện quan điểm thẩm mĩ sâu sắc, nhân sinh: cái đẹp có khả năng cảm hoá con người.
3. Cảnh cho chữ - một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
a.Không gian – địa điểm:
Cho chữ hay còn gọi nghệ thuật thư pháp vốn là một việc làm thanh cao nên thường
diễn ra ở nơi thư phòng trăng thanh, gió mát hoặc giữa thiên nhiên lộng ngát hương hoa
còn ở đây, nó lại diễn ra giữa chốn ngục tù, trong căn buồng gian chật hẹp, ẩm ướt, hôi
hám (tường đầy... phân gián).
b. Thời gian- cách thức cho chữ:
Thường diễn ra công khai, tự do, đường hoàng giữa “thanh thiên bạch nhật”, còn ở đây
nó lại diễn ra bí mật, vào lúc đêm khuya khi “trại giam tỉnh Sơn... vọng canh”.
c. Nhân vật
* Tư thế, vị thế của người cho chữ, người nhận chữ
- Tư thế:
+ Người cho chữ: người nghệ sĩ tài hoa HC, không phải là một người tự do mà là một kẻ tử tù “cổ đeo gông, chân vướng
xiềng, dậm tô từng nét chữ” và chỉ sáng sớm tinh mơ ngày mai là đã bị giải vào kinh chịu án tử hình nhưng lại uy nghi,
đường bệ, say mê tô từng nét chữ.
+ Người xin chữ - thầy thơ lại và viên quản ngục: là những người những kẻ hoàn toàn tự do và là những kẻ có quyền hành
thì kẻ “khúm núm”, người “run run”→Tư thế: xo ro, sợ sệt.
- Vị thế:
+ Kẻ có quyền hành thì không có uy quyền, uy quyền thuộc về HC, kẻ bị tước mọi thứ quyền.
+ Kẻ nắm quyền sinh quyền sát thì khúm núm, sợ sệt, người tử tù thì đường bệ, hiên ngang.
+ Kẻ có chức năng giáo dục tội phạm thì giờ đây đang được tội phạm giáo dục, còn mình thì thành kính lĩnh nhận từng lời
như nhận những lời di huấn thiêng liêng về nhân cách, về lẽ sống của một bậc hiền minh cao cả.
Vị thế: đảo lộn hoàn toàn. Điều đó đã nói lên rằng giữa nơi ngục tù tối tăm không phải là nơi cái ác, cái tàn bạo, xấu xa
đang thống trị mà cái đẹp, cái thiện, cái dũng, cái tài hoa đang làm chủ.
* Lời nói, hành động của các nhân vật.
Huấn Cao.
- Lời khuyên: “Ta khuyên... lương thiện đi”
Huấn Cao khuyên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn, tìm về chốn thanh tao để có thể tiếp tục sử nguyện cao quý và giữ
thiên lương cho vững lành.→Lời khuyên là lời di huấn thiêng liêng của người tử tù.
- Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân: cái đẹp có thể ra đời ở mọi nơi nhưng cái đẹp không thể chung sống với cái xấu xa,
cái ác bởi bản chất của cái đẹp là cái thiện. Cái đẹp của văn chương nghệ thuật không thể tách rời cái đẹp của tình người. Vì
vậy, muốn chơi chữ trước hết cần phải giữ lấy thiên lương.
Quản ngục
- Hành động bái lạy trong lời nói nghẹn ngào của ngục quan trước lời di huấn của người tử tù: “kẻ mê muội này xin bái
lĩnh”.
→Sức cảm hoá mạnh mẽ của cái thiện, cái đẹp đối với con người. Bằng con đường của trái tim, sức mạnh ấy càng được
nhân lên gấp bội.
Tóm lại: Cảnh cho chữ
- Thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm:
+ Khẳng định sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, của cái thiện đối với cái
ác,...
+ Khẳng định sự bất tử của cái đẹp: cái đẹp có thể bị cầm tù, bức hại nhưng nó không thể bị huỷ diệt. (Việc HC cho chữ là
sự bàn giao lại cái đẹp để cái đẹp trở thành bất tử. Ngày mai, HC vào kinh thụ án nhưng di bút và di ngôn của ông để lại cho
hậu thế đủ để ông đi vào cõi trường tồn).
- Phát huy triệt để sức mạnh của thủ pháp nghệ thuật đối lập tương phản, của bút pháp lãng mạn, sử dụng với tần số cao các
từ HV, huy động kiến thức ở nhiều lĩnh vực như hội hoạ, điện ảnh, lịch sử,... cùng ngôn ngữ miêu tả giàu chất tại hình, HC
không chỉ làm nổi bật hình tượng HC và VQN mà còn thể hiện tài năng bậc thầy của mình trong việc “phục chế” không khí
cổ xưa, hoàn thành tâm nguyện lưu giữ vẻ đẹp “vang bóng một thời” cho muôn đời.
- Nghệ thuật:
+ Đối lập, tương phản
Cái chật hẹp, ẩm thấp, hôi hám, tối tăm của nhà tù và đêm khuya
Ánh sáng rực rỡ của bó đuốc tẩm dầu, của vuông lụa trắng tinh, của mùi thơm từ chậu mực.
→Sự đối lập tương phản giữa ánh sáng và bóng tối; cái thiện và cái ác; cái cao cả và cái thấp hèn; cái đẹp
và sự tầm thường, đề tiện...
+ Nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh →Cảnh cho chữ giống như một đoạn phim quay chậm, từng
hình ảnh, động tác hiện dần lên dưới ngòi bút “đậm chất điện ảnh” của nhà văn: trên cái nền đen kịt của
trại giam là vầng sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu. Dưới vầng sáng trang trọng và rực rỡ đó, ba con
người đang chụm đầu vào nhau quanh một tấm lụa còn nguyên vẹn lần hồ. Vuông lụa trắng là điểm sáng
nhất của vầng sáng ấy. Trên đó, từng nét chữ đang tượng hình, từng con chữ đang ra đời→ Cái đẹp được
khai sinh ngay giữa nhà tù, giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn, giữa nơi bóng tối và cái ác đang ngự trị.
III. Tổng kết
1. Nội dung.
Chữ người tử tù khẳng định và tôn vinh sự chiến thắng của ánh sáng, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả
của con người đồng thời bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của nhà văn.
2. Nghệ thuật.
- Tạo dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc (cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa viên quản
ngục và Huấn Cao).
- Sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản.
- Xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao, con người hội tụ nhiều vẻ đẹp.
- Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính, vừa hiện đại.
THANKS YOU
 








Các ý kiến mới nhất