Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 2. Khái quát văn học dân gian Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Tính
Ngày gửi: 18h:19' 27-09-2021
Dung lượng: 205.8 KB
Số lượt tải: 75
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Tính
Ngày gửi: 18h:19' 27-09-2021
Dung lượng: 205.8 KB
Số lượt tải: 75
Số lượt thích:
0 người
KHÁI QUÁT
VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
1
ĐC
Khái niệm: Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, được tập thể sáng tạo, phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng.
KHÁI QUÁT
VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
2
ĐC
Khái quát văn học dân gian Việt Nam
3
ĐC
I. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
1. Tính truyền miệng
Tại sao nói: tính truyền miệng là đặc trưng cơ bản của văn học dân gian?
Là đặc trưng cơ bản của VHDG
Biểu hiện: VHDG ra đời, tồn tại, lưu hành theo phương thức truyền miệng:
+ Truyền miệng là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói miệng hoặc bằng trình diễn .
+ Truyền miệng theo không gian (nơi này sang nơi khác); truyền miệng theo thời gian (từ đời này qua đời khác).
+ Quá trình truyền miệng được thực hiện thông qua diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động.
4
ĐC
2. Tính tập thể
Tính tập thể của văn học dân gian được thể hiện như thế nào?
- Văn học dân gian là kết quả của quá trình sáng tác tập thể: Lúc đầu 1 người khởi xướng -> Tp được hình thành và tiếp nhận ->nhiều người khác tiếp tục lưu truyền, sáng tác lại -> Tp hoàn thiện hơn.
->Tính tập thể và tính truyền miệng tạo nên dị bản (Vb khác vs VB chính, hay còn gọi là diễn bản)
=> Tạo nên diện mạo đặc sắc và phong phú.
<=>Kết luận: Tính tập thể và tính truyền miệng là những đặc trưng cơ bản chi phối xuyên suốt quá trình sáng tác và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian.
5
ĐC
-Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.
-> VHDG ra đời trong cộng đồng, lưu truyền và phục vụ cho cộng đồng đó.
Ví dụ: Tục ngữ cho kinh nghiệm về lao động, về ứng xử,…
Ca dao: là phần lời cho những bài hát ru
Sử thi phục vụ cho những buổi kể chuyện của buôn làng, ca ngợi người anh hùng, ca ngợi sự ra đời của bộ tộc
Truyền thuyết: ca ngợi lịch sử,….
3. Tính thực hành
6
ĐC
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
Trình bày bảng hệ thống thể loại của văn học dân gian dân gian Việt Nam?
7
ĐC
8
ĐC
9
ĐC
III. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam
10
ĐC
1. Văn học dân gian là kho tàng tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc
-Tri thức văn học dân gian rất phong phú, thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống:
+Tri thức tự nhiên: Cung cấp tri thức về hiện tượng thời tiết, thiên tai, bão lũ; sự hình thành của trời đất…
Ví dụ: “Tục ngữ lại là túi khôn dân gian”
+Tri thức xã hội: Cung cấp tri thức về lịch sử xã hội và sinh hoạt của con người
+Tri thức con người thông qua các mối quan hệ với : kinh tế, chính trị,văn hóa; Gia đình; bạn bè, tình yêu, thầy trò…
Ví dụ: Nhận thức về cách sống “Đói cho sạch, rách cho thơm”
- Tri thức dân gian là nhận thức của nhân dân, nó khác với nhận thức của giai cấp thống trị.
Ví dụ: Truyện cổ tích với khát vọng “Ở hiền gặp lành”; - Những tri thức được trình bày bằng nghệ thuật ngôn từ nên rất sinh động và hấp dẫn.
11
ĐC
2. Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người
- Tinh thần nhân đạo:
+ Tôn vinh giá trị con người (tư tưởng nhân văn).
+ Tình yêu thương con người (cảm thông, thương xót).
+ Đấu tranh ko ngừng để bảo vệ, giải phóng con người khỏi bất công, cường quyền...
Ví dụ: Ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp người phụ nữ trong bài ca dao „thân em như tấm lụa đào“,...
- Hình thành những phẩm chất truyền thống tốt đẹp:
+ Tình yêu quê hương, đất nước.
+ Lòng vị tha, đức kiên trung.
+ Tính cần kiệm, óc thực tiễn,...
12
ĐC
3. Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc
13
-VHDG sử dụng nhiều hình ảnh giàu giá trị thẩm mĩ trở thành biểu tượng của văn hóa, văn học dân tộc.
Nhiều tác phẩm VHDG đã trở thành mẫu mực với nghệ thuật độc đáo.
„Ca dao là những viên ngọc quý của Văn học dân gian“
-VHDG trở thành nguồn nuôi dưỡng, cơ sở của VH viết.
Ví dụ: Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương có sử dụng mô tip thân em trong ca dao.
Ví dụ: Đoạn trích “Đất Nước” (Nguyễn Khoa Điềm): Mượn hình ảnh chiếc khăn, miếng trầu,…. trong ca dao.
ĐC
IV. GHI NHỚ
- Văn học dân gian là kết quả của quá trình sáng tác tập thể, tồn tại dưới hình thức truyền miệng thông qua diễn xướng. Trong quá trình lưu truyền, tác phẩm văn học dân gian được tập thể không ngừng sáng tạo lại và hoàn thiện. Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.
- Văn học dân gian có nhiều giá trị to lớn về nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, cần được quý trọng và phát huy.
14
ĐC
 








Các ý kiến mới nhất