Tìm kiếm Bài giảng
Bài 2: Khúc nhạc tâm hồn - Đọc: Trở gió (Nguyễn Ngọc Tư).

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Ngày gửi: 14h:47' 22-10-2024
Dung lượng: 57.0 MB
Số lượt tải: 140
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Ngày gửi: 14h:47' 22-10-2024
Dung lượng: 57.0 MB
Số lượt tải: 140
Số lượt thích:
0 người
BÀI 2: KHÚC NHẠC TÂM HỒN
Bài 2 - Tiết 22, 23
Văn bản 3: TRỞ GIÓ
(Nguyễn Ngọc Tư)
KHỞI ĐỘNG
Theo dõi đoạn video sau và cho biết đoạn video nói đến mùa nào ở
miền Tây?
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
I. Đọc và tìm hiểu chung
I. ĐỌC - TÌM HIỂU CHUNG
1. Đọc
Yêu cầu đọc
- Đọc với giọng thủ thỉ, chậm rãi để làm nổi bật
tâm trạng của nhân vật tôi khi đón gió chướng.
“Trở gió” (Nguyễn Ngọc Tư)
Cuộc hẹn của chúng tôi không rõ ràng, mỗi năm gió lại đến bằng một ngày khác nhau. Nên vừa bước qua tháng
Chín, tôi bắt đầu dời chiếc chuông gió sang cửa sổ phía Đông. Cuộc chờ đợi nhiều khi rất dài, đến nỗi quên phứt đi. Để
rồi một sớm mai, bỗng nghe hơi thở gió rất gần. Thoạt đầu, âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như
ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không. Rồi nó mừng
húm, khi nhận ra tôi chẳng quên được nó bao giờ (dù tôi đã để những chàng trai như Đờ, Ka, Mờ... lãng phai tuốt luốt).
Cái chuông gió với những âm thanh mỏng manh trở thành thứ đồ chơi lãng nhách, chẳng thể hiện nổi sự hừng hực, dạt
dào của nó - bây giờ lớn thành một dòng gió, xấp xãi, cuống quýt xốc vào tấm tole bên chái Đông đã bị đứt đinh từ mùa
trước. Cồn cào. Nồng nhiệt. Mà thiệt dịu dàng. Ôi! Gió chướng.
Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn ngang. Mừng đó rồi bực đó. Sao tôi lại chờ đợi nó,
chẳng phải năm nào cũng vậy, lúc cầm cây chổi ra quét sân, đứng trong gió đầm đìa tôi cũng buồn, buồn muốn chết. Trời
ơi, gió này là sắp hết năm đây, sắp già thêm một tuổi đây, mình đã kịp sống gì đâu, tay mình vẫn trắng như vầy... Mỗi lần
gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được, như ai đó đuổi theo đằng sau, tôi gấp
rãi ăn gấp rãi nói, gấp rãi cười, gấp rãi khi ngày bắt đầu rụng xuống...
Nhưng tôi vẫn mong gió chướng về. Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại. Khi gió bắt đầu hiu hiu se lạnh,
đám con nít nhảy cà tưng, háo hức vỗ tay cười, vậy là gần được sắm quần áo, dép mới rồi (nhà nghèo, cả năm chỉ được
dịp này chứ mấy). Gió chướng (và gió bấc) với tôi là gió Tết, dù từ khi bắt đầu mùa gió đến Tết, mất gần ba tháng ròng.
Má tôi cũng coi nó là gió Tết, nghe gió, má thuận miệng hát "Cấy rồi mùa qua sông cấy mướn. Ông trời ổng thổi ngọn
chướng buồn cha chả là buồn..” rồi thở dài cái thượt "Ứ hự, lụi hụi mà hết năm...". Dường như tâm trạng má khác tôi,
những sợi gió cứ như xốn xang vào nỗi nghèo túng, sợ không lo nỗi một cái tết tử tế cho cả nhà.
Má, tánh lo xa. Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hy vọng rực lên theo màu lúa. Mùi rơm thơm ràn rụa thổi
ngang đồng, nỗi buồn lo của má tan không thành tiếng, tan mau như sương. Đáng chờ đợi lắm, vì mùa gió chướng cũng là mùa
thu hoạch. Gió thổi tạnh ráo những đôi chân suốt một mùa đầm đìa trên đồng bãi. Liếp mía đặt từ hồi tháng hai, tháng ba, đợi
gió mới chịu già, nước ngọt và trĩu, cầm khúc mía trên tay, nghe nặng trịch. Vú sữa chín cây lúc lỉu, căng bóng, màu vàng lan
dần từ đít những trái xanh, trái tím càng tím lịm, nửa đêm dơi ăn rớt lịch bịch ngoài hè. Còn dưa hấu nữa, ui chao...
(Bây giờ thì mùa trái cây kéo dài cả năm, cảm giác thèm thuồng ngày đó không quay lại, nhưng xẻ trái dưa đỏ, thưởng thức
giữa cơn gió chướng hiu hiu, thấy 'đã" hơn, đậm đà hương vị hơn nhiều. Ậy, lại cực đoan...).
Cảm xúc ngọt lành thời thơ ấu chín muồi trong ký ức, lúc lớn lên, gió chướng ám luôn vào những trang viết. Tác phẩm nào
tôi cũng cho gió lúc thấp thoáng lúc ròng ròng thổi qua (nhiều lúc hết hồn, chỉ chi tiết này thôi mình cũng đang lặp lại, mấy nhà
phê bình không khinh khỉnh sao được). Những đám cưới được tôi cho xuất hiện trên cái nền gió này, nhưng chỉ là cái cớ cho
buồn thẫm hơn, sắc lại trên những mối tình dang dỡ. Chắc tại gió quá dịu dàng, nên có cảm giác gờn gợn buồn, có cảm giác như
gió mồ côi, cúi đầu hiu hắt đi giữa đời. Hay tại tôi đã già, đã nhận ra không mùa vui nào là vui trọn. Con nít sướng rơn nhìn đám
cưới đi qua, tự hỏi bà dì lỡ thời sao lại buồn dữ vậy. Đứa cháu ngồi nhìn lớp da của ông ngoại mình bong ra rơi trên nền gạch,
thắt lòng nghĩ về cái chết - con đường thế ngoại sắp (và tất) phải về...
Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn chương, nó "gợi" khủng khiếp. Tôi vẫn thường hình dung, một mai mình đi xa, xa
lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai từ "gió chướng", ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ
quê nhà. Và những hình ảnh quen thuộc hàng hàng lũ lượt hiện ra, những nùi rơm vướng oằn nhánh me, giồng bạc hà cháy lá,
con nước rong linh đinh lém bờ sông, má đứng giê lúa, trấu bay xà quần về cuối gió, vài buồng cau quá lứa thắp lửa trên cao,
tiếng chày quết bánh phồng thâm u trong rặng dừa nước... Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức rất trễ, tầm tám giờ sáng mới
thấy mặt trời ngai ngái lơi lơi, nắng không ra vàng không ra trắng, mây cụm lại rồi rã từng chùm trên đầu.
Ở đó, siêu thị chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu dưa hành bánh chưng, bánh tét, liệu ở đó, có ai bán một mùa gió cho
tôi?
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1: ĐỌC - TÌM HIỂU CHUNG
Văn bản: Trở gió
Tác giả
Xuất xứ
Thể loại
Phương thức biểu đạt
Bố cục
BÁO CÁO BÀI TẬP DỰ ÁN
Trình bày những hiểu biết của
em về tác giả Nguyễn Ngọc Tư và
văn bản “Trở gió”.
2. Tác giả
- Nguyễn Ngọc Tư (1976), sinh ra
trong một gia đình nông dân tại xã Tân
Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Phong cách sáng tác: viết về tình bạn
ở đồng quê…
2. Tác giả:
Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, quê ở Cà Mau.
Văn của chị thường trong sáng, mộc mạc, thể hiện một tâm hồn tinh
tế, nhạy cảm, giàu yêu thương.
Tác phẩm tiểu biểu: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Tạp văn
Nguyễn Ngọc Tư (2005), Không ai qua sông (2016),…
Một số tác phẩm tiêu biểu
01
02
03
04
2005
2005
Cánh
đồng bất
tận
2005
2005
Hành lý
hư vô
2000
Ngọn đèn
không tắt
05
Truyện
ngắn
Nguyễn
Ngọc Tư
Không ai
qua sông
3. Tác phẩm
3. Tác phẩm
Xuất xứ
Văn bản trích từ tập
“Tạp
văn
Nguyễn
Ngọc Tư”, NXB Trẻ
Thành phố Hồ Chí
Minh, 2015
Thể loại
Tản văn
Tản văn
Tản văn, hay còn gọi là tạp văn, tạp bút.. là một thể loại văn học đôi khi không có một nội
dung nào cụ thể rõ ràng mà chỉ là những gì tác giả chợt thấy và viết ra, viết ngay những gì
suy nghĩ trong lòng mà không cần phải đắn đo suy nghĩ tạo ra nội dung cho nó, mang tính
bất chợt và phong phú đa dạng về chủ đề, không có giới hạn nào dành cho thể loại văn học
này, không cần câu nệ chăm chút từ ngữ, biên soạn nội dung, có thể đơn giản chỉ là tường
thuật một sự việc đang diễn ra mà tác giả cảm thấy hứng thú, có chút ấn tượng và muốn
ghi lại, truyền tải lại nó dưới hình thức văn chương, hay đơn giản chỉ là miêu tả hình tượng
nhân vật.
Có thể mượn vật để truyền tải tình cảm, tâm tư, hoặc phát biểu quan điểm, hiểu một cách
đơn giản đó là một loại mỹ văn, hay loại văn thủ thỉ tâm tình, những chuyện kể tai nghe
mắt thấy. Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã
hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính của tác giả. Nó không đòi
hỏi phải mất công xây dựng cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình tiết.. một cách chặt chẽ như
ở truyện ngắn hoặc tiểu thuyết.
Trong văn học cổ Trung Quốc, định nghĩa tản văn được sử dụng để chỉ một thể loại văn xuôi
tự do phân biệt với vận văn: Văn vần và biền văn: Câu văn sóng đôi, thường đi đôi với nhau
và mang tính chất đối xứng. Một số tác phẩm tản văn danh tiếng đã xuất hiện từ thời Tiên
Tần ví dụ như Tả truyện, Chiến Quốc Sách, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Nam Hoa Kinh.. Tuy nhiên
người Trung Quốc ít khi dùng khái niệm tản văn mà thường dùng khái niệm tạp văn hay có
thể hiểu 1 cách dânn giã là văn tạp nham. Từ tạp nham ở đây không có nghĩa là viết bừa
3. Tác phẩm
Xuất xứ
PTBĐ
Văn bản trích từ tập
Tự sự kết hợp với
miêu tả và biểu cảm
“Tạp
văn
Nguyễn
Ngọc Tư”, NXB Trẻ
Thành phố Hồ Chí
Minh, 2015
Thể loại
Tản văn
Ngôi kể
Ngôi thứ nhất,
người kể xưng tôi
Bố cục
TRỞ GIÓ
Từ đầu đến “Ôi!
Gió chướng”: Hình
ảnh gió chướng về.
Đoạn còn lại: Tình
cảm, cảm xúc của
nhân vật “tôi” khi
gió chướng về.
3. Tác phẩm
Văn bản: Trở gió
Xuất xứ
Trích từ Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005)
Thể loại
tản văn.
tự sự.
Phương thức biểu
đạt
Bố cục
2 phần
+ Phần 1: Từ đầu đến…Ôi! Gió chướng” –
Hình ảnh gió chướng.
+ Phần 2: Phần còn lại: - Tình cảm, cảm xúc
của nhân vật tôi khi gió chướng về.
Cột A
Cột B
Mừng húm
Gió mùa đông Bắc
Xấp xãi
Lặng đi vì xúc động mạnh
Gió chướng
Mừng rơn, mừng đến mức có cảm giác rộn ràng
trong lòng
Hết sức khẩn trương có thể xong trong khoảng
thời gian nhất định
Gấp rãi
Gió bấc
Luống
Liếp
Vội vàng, gấp rút
Chết giấc
Gió mùa đông Bắc, theo cách gọi của người Nam
Bộ. Khi thổi mạnh, gió chướng đưa nước mặn
thâm nhập sâu vào các con song, gây nhiều thiệt
hại cho sản xuất.
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Hình ảnh gió chướng.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 – Tìm hiểu văn bản.
Chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng.
Nghệ thuật
Tác dụng
a. Chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng
Hơi thở gió rất gần
âm thanh ấy ….thoảng
và e dè, như ai đó đứng.
=> Nghệ thuật: nhân hóa, so sánh .
giống như con người
mừng húm; hừng hực;
dạt dào; cồn cào; nồng
nhiệt; dịu dàng…
=> làm cho gió chướng hiện lên
sống động, có hành động, cảm xúc
của con người.
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Hình ảnh gió chướng.
Chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng.
- Mỗi năm gió đến bằng một ngày khác
nhau
- Hơi thở gió rất gần
- Âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tình tang,
thoáng và e dè, như có ai đó đứng đằng xa
ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần
không biết người xưa có còn nhớ ta không
- Mừng húm, hừng hực, dạt dào, xấp xải,
cuống quýt, cồn cào; nồng nhiệt, dịu dàng;
…
Nghệ thuật
Nghệ
thuật:
So sánh, nhân
hóa
Tác dụng
Gió chướng hiện
lên sống động
giống như con
người, có tâm lí,
tính cách, lúc
nhút nhát, rụt rè,
lúc lại cuống
quýt nồng nhiệt.
II. Khám phá văn bản
1. Hình ảnh gió chướng
a. Chi tiết miêu tả gió chướng:
- Mỗi năm gió đến bằng một ngày khác nhau
- Hơi thở gió rất gần
- Âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tình tang, thoáng và e dè, như có ai
đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không
biết người xưa có còn nhớ ta không
- Mừng húm, hừng hực, dạt dào, xấp xải, cuống quýt, cồn cào; nồng
nhiệt, dịu dàng;…
Nghệ thuật: So
sánh, nhân hóa
Gió chướng hiện lên sống động giống như
con người, có tâm lí, tính cách, lúc nhút
nhát, rụt rè, lúc lại cuống quýt nồng nhiệt.
Tình yêu của
nhà văn với gió
chướng
1. Hình ảnh gió chướng
Vì sao tác giả khẳng định “mùa gió
chướng cũng là mùa thu hoạch”? (Chi
tiết nào trong văn bản cho ta biết điều
đó?)
1. Hình ảnh gió chướng
b. Mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch:
Gió chướng vào mùa thì lúa
cũng vừa chín tới
Vú sữa chín cây, lúc lỉu, căng
bóng
Mùa màng bội
thu, cây trái sum
suê quả ngọt khi
gió chướng về
Liếp mía đợi gió mới chịu già,
nước ngọt và trĩu
Còn dưa hấu nữa …
b. Mùa gió chướng- mùa thu hoạch
+ Khi gió chướng về cũng là lúc những nông sản bước vào vụ
thu hoạch.
+ Lúa thì chín tới, mía cũng kịp già, vú sữa chín cây lúc lỉu, dưa
hấu cũng đủ già để thu hoạch.
=> Mùa bội thu với những sản vật quê hương.
Þ Cách chọn lọc hình ảnh, từ ngữ đậm chất miền Tây.
Þ Tình yêu tha thiết với quê hương, gắn bó sâu nặng và rất đỗi tự
hào về một miền đất đặc biệt .
“Gió chướng” cái tên quen thuộc đổi với đồng bào Tây
Nam Bộ được nhà văn Nguyễn Ngọc Tư nhân hoá làm nó trở
lên sống động, giống như con người, hơi thở của gió rất gần,
âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tình tang, thoảng và e dè, như
ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại
ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không, mừng húm,
hừng hực, dạt dào, cồn cào nồng nhiệt, dịu dàng,..
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
II.
2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” khi gió chướng về.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
Tìm hiểu tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” khi gió chướng về.
Nhiệm vụ
Nhóm 1
Tâm trạng của nhân vật “tôi”
Khi đón gió chướng về (đoạn 2)
Biểu hiện
............................
Nhóm 2
Khi còn nhỏ (đoạn 3)
............................
Nhóm 3
Khi lớn lên, bắt đầu viết văn (đoạn 5)
............................
Nhóm 4
Khi xa quê (đoạn 6)
............................
Nhiệm vụ
chung
Nhận xét tình cảm của tác giả với gió chướng:
...........................................................................................................
...........................................................................................................
.....
Nhóm 1: Khi đón gió
chướng về (đoạn 2)
1) Em hãy chỉ ra
những biểu hiện của
tâm trạng “lộn xộn,
ngổn ngang” của
nhân vật “tôi” khi đón
gió chướng về.
2) Lí do nào khiến
nhân vật “tôi” luôn
mong ngóng, chờ đợi
gió chướng?
Nhóm 2:
Khi còn
nhỏ (đoạn
3)
Nhóm 3:
Khi lớn
lên, viết
văn
(đoạn 5)
Nhiệm vụ chung:
Nhận xét tình cảm
của tác giả với gió
chướng.
Nhóm 4: Khi xa quê
(đoạn 6)
1) Khi đi xa, tác giả
thấy trong siêu thị có
những gì?
2) Khi nhìn thấy ở siêu
thị chất đầy những món
ăn đó, tác giả vẫn cảm
thấy thiếu điều gì?
3) Qua câu hỏi “có ai
bán một mùa gió cho
tôi?”, em cảm nhận
được tình cảm gì của
tác giả?
Nhiệm vụ
Nhóm
1
Tâm trạng của nhân
vật “tôi”
Biểu hiện
Khi đón gió mừng đó rồi bực đó, chờ đợi gió về nhưng khi
chướng về gió về lại buồn vì gió về có nghĩa là sắp hết năm,
(đoạn 2)
sắp già thêm một tuổi, mỗi lần gió về lại cảm
giác
mình
mất
một
cái
gì
đó
không
rõ
ràng,
Tâm trạng “lộn
xộn”, “ngổn
không giải thích được,...
ngang” của
nhân vật “tôi”.
Nhiệm vụ
Tâm trạng của nhân
vật “tôi”
Nhóm Khi còn nhỏ
2
(đoạn 3)
Biểu hiện
Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng
vậy [...] Nhưng tôi vẫn mong gió chướng về. Sự
chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại.
Nhiệm Tâm trạng
vụ của nhân vật
“tôi”
Nhóm Khi lớn lên,
3
bắt đầu viết
văn
(đoạn 5)
Biểu hiện
Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn
chương nó “gợi” khủng khiếp.
Nhiệm vụ Tâm trạng của nhân
Biểu hiện
vật “tôi”
Nhóm 1
Khi đón gió chướng mừng đó rồi bực đó, chờ đợi gió về nhưng khi gió về lại buồn vì gió về
về
có nghĩa là sắp hết năm, sắp già thêm một tuổi, mỗi lần gió về lại cảm
(đoạn 2)
giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được,...
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Khi còn nhỏ
(đoạn 3)
Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng vậy [...] Nhưng tôi vẫn
Khi lớn lên, bắt đầu
viết văn
(đoạn 5)
Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn chương nó “gợi” khủng
Khi xa quê
(đoạn 6)
Tôi vẫn thường hình dung một mai mình đi xa, xa lắm, xa cả những
mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai từ “gió chướng”,
ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quê nhà. [... ] Ở đó, siêu thị
chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu, dưa hành, bánh chưng, bánh tét, liệu
ở đó, có ai bán một mùa gió cho tôi?
mong gió chướng về. Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại.
khiếp.
2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi
Tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi
Biểu hiện của tâm trạng “lộn xộn, Lí do khiến nhân vật “tôi” luôn mong
ngổn ngang” ở nhân vật “tôi”
ngóng, chờ đợi gió chướng
- Khi gió về, lũ con nít nhảy cà tưng,
- Vừa mừng vừa bực.
mừng vì sắp được quần áo mới.
- Muà gió chướng cũng là mùa thu
- Vương vấn những nỗi buồn khó tả.
hoạch.
- Lo sợ khi nghĩ về sự chảy trôi của
thời gian.
- Khẩn trương trong tất cả những
hành động của mình.
- Gió chướng về đồng nghĩa với gió
Tết.
- Gợi nhắc đến quê hương, gắn liền
với quê hương.
Tình cảm của tác giả với gió chướng:
+ Đó là tình yêu, sự gắn bó tha thiết với con người, cảnh sắc
quê hương;
+ Tác giả là người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, có khả năng
cảm nhận được những thay đổi rất nhỏ, rất khẽ khàng của tạo
vật cũng như của tâm trạng con người mỗi khi gió chướng về.
2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi
Nghệ thuật:
- Giọng điệu giãi bày, tâm tình, chia sẻ;
- Ngôn ngữ gợi cảm xúc, suy tư, mang đậm chất Nam Bộ;
- Chi tiết, hình ảnh sinh động, hấp dẫn;
-> Gợi ra suy nghĩ về tình yêu quê hương của tác giả.
=> luôn hướng về quê hương, hướng về nơi có những cơn
gió chướng của mình.
III. Tổng kết
Khái quát nội dung
và nghệ thuật tác
phẩm?
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
Lời văn giàu hình ảnh,
nhạc điệu kết hợp với
biện pháp nhân hóa, so
sánh
2. Nội dung:
Miêu tả ngọn gió chướng
qua đó thể hiện tình yêu,
sự gắn bó với quê hương.
LUYỆN TẬP
Câu 1: Văn bản trở gió của tác giả nào?
A. Nguyễn Nhật Ánh
B. Nguyễn Ngọc Tư
C. Đoàn Giỏi
D. Thép Mới
Câu 2: Nội dung chính của văn bản Trở gió
A. Miêu tả ngọn gió chướng B. Miêu tả cảnh sông nước
qua đó thể hiện tình yêu, sự Nam Bộ qua đó thể hiện tình
gắn bó với quê hương
yêu, sự gắn bó với quê hương
C. Miêu tả những người nông
dân Nam Bộ thật thà, chất
phác.
D. Miêu tả không khí ngày
Tết ở vùng quê Nam Bộ
Câu 3: Câu văn “Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức
rất trễ, tầm tám giờ sáng mới thấy mặt trời ngai ngái lơi
lơi...” sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. So sánh
B. Nhân hoá
C. Ẩn dụ
D. Hoán dụ
Câu 4: Nhân vật tôi tìm mua thứ gì?
A. Dưa hấu
B. Một mùa gió
C. Bánh chưng
D. Dưa kiệu
Câu 5: Nhân vật tôi thường đón gió chướng với tâm trạng
thế nào?
A. Bâng khuâng, xao
xuyến
B. Háo hức
C. Lộn xộn, ngổn ngang
D. Tất cả đều đúng
Câu 6: Với nhân vật tôi, gió chướng là
A. Gió Tết
B. Gió ngày mùa
C. Gió báo bão
D. Gió heo may
Câu 7: Mỗi lần gió chướng về, nhân vật tôi có cảm giác
A. Mất một cái gì đó không rõ
ràng, không giải thích được, B. Háo hức vỗ tay cười
như ai đó đuổi theo đằng sau
C. Mừng húm
D. Cồn cào. Nồng nhiệt
Bài 2 - Tiết 22, 23
Văn bản 3: TRỞ GIÓ
(Nguyễn Ngọc Tư)
KHỞI ĐỘNG
Theo dõi đoạn video sau và cho biết đoạn video nói đến mùa nào ở
miền Tây?
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
I. Đọc và tìm hiểu chung
I. ĐỌC - TÌM HIỂU CHUNG
1. Đọc
Yêu cầu đọc
- Đọc với giọng thủ thỉ, chậm rãi để làm nổi bật
tâm trạng của nhân vật tôi khi đón gió chướng.
“Trở gió” (Nguyễn Ngọc Tư)
Cuộc hẹn của chúng tôi không rõ ràng, mỗi năm gió lại đến bằng một ngày khác nhau. Nên vừa bước qua tháng
Chín, tôi bắt đầu dời chiếc chuông gió sang cửa sổ phía Đông. Cuộc chờ đợi nhiều khi rất dài, đến nỗi quên phứt đi. Để
rồi một sớm mai, bỗng nghe hơi thở gió rất gần. Thoạt đầu, âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như
ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không. Rồi nó mừng
húm, khi nhận ra tôi chẳng quên được nó bao giờ (dù tôi đã để những chàng trai như Đờ, Ka, Mờ... lãng phai tuốt luốt).
Cái chuông gió với những âm thanh mỏng manh trở thành thứ đồ chơi lãng nhách, chẳng thể hiện nổi sự hừng hực, dạt
dào của nó - bây giờ lớn thành một dòng gió, xấp xãi, cuống quýt xốc vào tấm tole bên chái Đông đã bị đứt đinh từ mùa
trước. Cồn cào. Nồng nhiệt. Mà thiệt dịu dàng. Ôi! Gió chướng.
Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn ngang. Mừng đó rồi bực đó. Sao tôi lại chờ đợi nó,
chẳng phải năm nào cũng vậy, lúc cầm cây chổi ra quét sân, đứng trong gió đầm đìa tôi cũng buồn, buồn muốn chết. Trời
ơi, gió này là sắp hết năm đây, sắp già thêm một tuổi đây, mình đã kịp sống gì đâu, tay mình vẫn trắng như vầy... Mỗi lần
gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được, như ai đó đuổi theo đằng sau, tôi gấp
rãi ăn gấp rãi nói, gấp rãi cười, gấp rãi khi ngày bắt đầu rụng xuống...
Nhưng tôi vẫn mong gió chướng về. Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại. Khi gió bắt đầu hiu hiu se lạnh,
đám con nít nhảy cà tưng, háo hức vỗ tay cười, vậy là gần được sắm quần áo, dép mới rồi (nhà nghèo, cả năm chỉ được
dịp này chứ mấy). Gió chướng (và gió bấc) với tôi là gió Tết, dù từ khi bắt đầu mùa gió đến Tết, mất gần ba tháng ròng.
Má tôi cũng coi nó là gió Tết, nghe gió, má thuận miệng hát "Cấy rồi mùa qua sông cấy mướn. Ông trời ổng thổi ngọn
chướng buồn cha chả là buồn..” rồi thở dài cái thượt "Ứ hự, lụi hụi mà hết năm...". Dường như tâm trạng má khác tôi,
những sợi gió cứ như xốn xang vào nỗi nghèo túng, sợ không lo nỗi một cái tết tử tế cho cả nhà.
Má, tánh lo xa. Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hy vọng rực lên theo màu lúa. Mùi rơm thơm ràn rụa thổi
ngang đồng, nỗi buồn lo của má tan không thành tiếng, tan mau như sương. Đáng chờ đợi lắm, vì mùa gió chướng cũng là mùa
thu hoạch. Gió thổi tạnh ráo những đôi chân suốt một mùa đầm đìa trên đồng bãi. Liếp mía đặt từ hồi tháng hai, tháng ba, đợi
gió mới chịu già, nước ngọt và trĩu, cầm khúc mía trên tay, nghe nặng trịch. Vú sữa chín cây lúc lỉu, căng bóng, màu vàng lan
dần từ đít những trái xanh, trái tím càng tím lịm, nửa đêm dơi ăn rớt lịch bịch ngoài hè. Còn dưa hấu nữa, ui chao...
(Bây giờ thì mùa trái cây kéo dài cả năm, cảm giác thèm thuồng ngày đó không quay lại, nhưng xẻ trái dưa đỏ, thưởng thức
giữa cơn gió chướng hiu hiu, thấy 'đã" hơn, đậm đà hương vị hơn nhiều. Ậy, lại cực đoan...).
Cảm xúc ngọt lành thời thơ ấu chín muồi trong ký ức, lúc lớn lên, gió chướng ám luôn vào những trang viết. Tác phẩm nào
tôi cũng cho gió lúc thấp thoáng lúc ròng ròng thổi qua (nhiều lúc hết hồn, chỉ chi tiết này thôi mình cũng đang lặp lại, mấy nhà
phê bình không khinh khỉnh sao được). Những đám cưới được tôi cho xuất hiện trên cái nền gió này, nhưng chỉ là cái cớ cho
buồn thẫm hơn, sắc lại trên những mối tình dang dỡ. Chắc tại gió quá dịu dàng, nên có cảm giác gờn gợn buồn, có cảm giác như
gió mồ côi, cúi đầu hiu hắt đi giữa đời. Hay tại tôi đã già, đã nhận ra không mùa vui nào là vui trọn. Con nít sướng rơn nhìn đám
cưới đi qua, tự hỏi bà dì lỡ thời sao lại buồn dữ vậy. Đứa cháu ngồi nhìn lớp da của ông ngoại mình bong ra rơi trên nền gạch,
thắt lòng nghĩ về cái chết - con đường thế ngoại sắp (và tất) phải về...
Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn chương, nó "gợi" khủng khiếp. Tôi vẫn thường hình dung, một mai mình đi xa, xa
lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai từ "gió chướng", ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ
quê nhà. Và những hình ảnh quen thuộc hàng hàng lũ lượt hiện ra, những nùi rơm vướng oằn nhánh me, giồng bạc hà cháy lá,
con nước rong linh đinh lém bờ sông, má đứng giê lúa, trấu bay xà quần về cuối gió, vài buồng cau quá lứa thắp lửa trên cao,
tiếng chày quết bánh phồng thâm u trong rặng dừa nước... Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức rất trễ, tầm tám giờ sáng mới
thấy mặt trời ngai ngái lơi lơi, nắng không ra vàng không ra trắng, mây cụm lại rồi rã từng chùm trên đầu.
Ở đó, siêu thị chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu dưa hành bánh chưng, bánh tét, liệu ở đó, có ai bán một mùa gió cho
tôi?
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1: ĐỌC - TÌM HIỂU CHUNG
Văn bản: Trở gió
Tác giả
Xuất xứ
Thể loại
Phương thức biểu đạt
Bố cục
BÁO CÁO BÀI TẬP DỰ ÁN
Trình bày những hiểu biết của
em về tác giả Nguyễn Ngọc Tư và
văn bản “Trở gió”.
2. Tác giả
- Nguyễn Ngọc Tư (1976), sinh ra
trong một gia đình nông dân tại xã Tân
Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Phong cách sáng tác: viết về tình bạn
ở đồng quê…
2. Tác giả:
Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, quê ở Cà Mau.
Văn của chị thường trong sáng, mộc mạc, thể hiện một tâm hồn tinh
tế, nhạy cảm, giàu yêu thương.
Tác phẩm tiểu biểu: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Tạp văn
Nguyễn Ngọc Tư (2005), Không ai qua sông (2016),…
Một số tác phẩm tiêu biểu
01
02
03
04
2005
2005
Cánh
đồng bất
tận
2005
2005
Hành lý
hư vô
2000
Ngọn đèn
không tắt
05
Truyện
ngắn
Nguyễn
Ngọc Tư
Không ai
qua sông
3. Tác phẩm
3. Tác phẩm
Xuất xứ
Văn bản trích từ tập
“Tạp
văn
Nguyễn
Ngọc Tư”, NXB Trẻ
Thành phố Hồ Chí
Minh, 2015
Thể loại
Tản văn
Tản văn
Tản văn, hay còn gọi là tạp văn, tạp bút.. là một thể loại văn học đôi khi không có một nội
dung nào cụ thể rõ ràng mà chỉ là những gì tác giả chợt thấy và viết ra, viết ngay những gì
suy nghĩ trong lòng mà không cần phải đắn đo suy nghĩ tạo ra nội dung cho nó, mang tính
bất chợt và phong phú đa dạng về chủ đề, không có giới hạn nào dành cho thể loại văn học
này, không cần câu nệ chăm chút từ ngữ, biên soạn nội dung, có thể đơn giản chỉ là tường
thuật một sự việc đang diễn ra mà tác giả cảm thấy hứng thú, có chút ấn tượng và muốn
ghi lại, truyền tải lại nó dưới hình thức văn chương, hay đơn giản chỉ là miêu tả hình tượng
nhân vật.
Có thể mượn vật để truyền tải tình cảm, tâm tư, hoặc phát biểu quan điểm, hiểu một cách
đơn giản đó là một loại mỹ văn, hay loại văn thủ thỉ tâm tình, những chuyện kể tai nghe
mắt thấy. Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã
hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính của tác giả. Nó không đòi
hỏi phải mất công xây dựng cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình tiết.. một cách chặt chẽ như
ở truyện ngắn hoặc tiểu thuyết.
Trong văn học cổ Trung Quốc, định nghĩa tản văn được sử dụng để chỉ một thể loại văn xuôi
tự do phân biệt với vận văn: Văn vần và biền văn: Câu văn sóng đôi, thường đi đôi với nhau
và mang tính chất đối xứng. Một số tác phẩm tản văn danh tiếng đã xuất hiện từ thời Tiên
Tần ví dụ như Tả truyện, Chiến Quốc Sách, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Nam Hoa Kinh.. Tuy nhiên
người Trung Quốc ít khi dùng khái niệm tản văn mà thường dùng khái niệm tạp văn hay có
thể hiểu 1 cách dânn giã là văn tạp nham. Từ tạp nham ở đây không có nghĩa là viết bừa
3. Tác phẩm
Xuất xứ
PTBĐ
Văn bản trích từ tập
Tự sự kết hợp với
miêu tả và biểu cảm
“Tạp
văn
Nguyễn
Ngọc Tư”, NXB Trẻ
Thành phố Hồ Chí
Minh, 2015
Thể loại
Tản văn
Ngôi kể
Ngôi thứ nhất,
người kể xưng tôi
Bố cục
TRỞ GIÓ
Từ đầu đến “Ôi!
Gió chướng”: Hình
ảnh gió chướng về.
Đoạn còn lại: Tình
cảm, cảm xúc của
nhân vật “tôi” khi
gió chướng về.
3. Tác phẩm
Văn bản: Trở gió
Xuất xứ
Trích từ Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005)
Thể loại
tản văn.
tự sự.
Phương thức biểu
đạt
Bố cục
2 phần
+ Phần 1: Từ đầu đến…Ôi! Gió chướng” –
Hình ảnh gió chướng.
+ Phần 2: Phần còn lại: - Tình cảm, cảm xúc
của nhân vật tôi khi gió chướng về.
Cột A
Cột B
Mừng húm
Gió mùa đông Bắc
Xấp xãi
Lặng đi vì xúc động mạnh
Gió chướng
Mừng rơn, mừng đến mức có cảm giác rộn ràng
trong lòng
Hết sức khẩn trương có thể xong trong khoảng
thời gian nhất định
Gấp rãi
Gió bấc
Luống
Liếp
Vội vàng, gấp rút
Chết giấc
Gió mùa đông Bắc, theo cách gọi của người Nam
Bộ. Khi thổi mạnh, gió chướng đưa nước mặn
thâm nhập sâu vào các con song, gây nhiều thiệt
hại cho sản xuất.
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Hình ảnh gió chướng.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 – Tìm hiểu văn bản.
Chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng.
Nghệ thuật
Tác dụng
a. Chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng
Hơi thở gió rất gần
âm thanh ấy ….thoảng
và e dè, như ai đó đứng.
=> Nghệ thuật: nhân hóa, so sánh .
giống như con người
mừng húm; hừng hực;
dạt dào; cồn cào; nồng
nhiệt; dịu dàng…
=> làm cho gió chướng hiện lên
sống động, có hành động, cảm xúc
của con người.
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Hình ảnh gió chướng.
Chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng.
- Mỗi năm gió đến bằng một ngày khác
nhau
- Hơi thở gió rất gần
- Âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tình tang,
thoáng và e dè, như có ai đó đứng đằng xa
ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần
không biết người xưa có còn nhớ ta không
- Mừng húm, hừng hực, dạt dào, xấp xải,
cuống quýt, cồn cào; nồng nhiệt, dịu dàng;
…
Nghệ thuật
Nghệ
thuật:
So sánh, nhân
hóa
Tác dụng
Gió chướng hiện
lên sống động
giống như con
người, có tâm lí,
tính cách, lúc
nhút nhát, rụt rè,
lúc lại cuống
quýt nồng nhiệt.
II. Khám phá văn bản
1. Hình ảnh gió chướng
a. Chi tiết miêu tả gió chướng:
- Mỗi năm gió đến bằng một ngày khác nhau
- Hơi thở gió rất gần
- Âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tình tang, thoáng và e dè, như có ai
đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không
biết người xưa có còn nhớ ta không
- Mừng húm, hừng hực, dạt dào, xấp xải, cuống quýt, cồn cào; nồng
nhiệt, dịu dàng;…
Nghệ thuật: So
sánh, nhân hóa
Gió chướng hiện lên sống động giống như
con người, có tâm lí, tính cách, lúc nhút
nhát, rụt rè, lúc lại cuống quýt nồng nhiệt.
Tình yêu của
nhà văn với gió
chướng
1. Hình ảnh gió chướng
Vì sao tác giả khẳng định “mùa gió
chướng cũng là mùa thu hoạch”? (Chi
tiết nào trong văn bản cho ta biết điều
đó?)
1. Hình ảnh gió chướng
b. Mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch:
Gió chướng vào mùa thì lúa
cũng vừa chín tới
Vú sữa chín cây, lúc lỉu, căng
bóng
Mùa màng bội
thu, cây trái sum
suê quả ngọt khi
gió chướng về
Liếp mía đợi gió mới chịu già,
nước ngọt và trĩu
Còn dưa hấu nữa …
b. Mùa gió chướng- mùa thu hoạch
+ Khi gió chướng về cũng là lúc những nông sản bước vào vụ
thu hoạch.
+ Lúa thì chín tới, mía cũng kịp già, vú sữa chín cây lúc lỉu, dưa
hấu cũng đủ già để thu hoạch.
=> Mùa bội thu với những sản vật quê hương.
Þ Cách chọn lọc hình ảnh, từ ngữ đậm chất miền Tây.
Þ Tình yêu tha thiết với quê hương, gắn bó sâu nặng và rất đỗi tự
hào về một miền đất đặc biệt .
“Gió chướng” cái tên quen thuộc đổi với đồng bào Tây
Nam Bộ được nhà văn Nguyễn Ngọc Tư nhân hoá làm nó trở
lên sống động, giống như con người, hơi thở của gió rất gần,
âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tình tang, thoảng và e dè, như
ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại
ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không, mừng húm,
hừng hực, dạt dào, cồn cào nồng nhiệt, dịu dàng,..
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
II.
2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” khi gió chướng về.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
Tìm hiểu tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” khi gió chướng về.
Nhiệm vụ
Nhóm 1
Tâm trạng của nhân vật “tôi”
Khi đón gió chướng về (đoạn 2)
Biểu hiện
............................
Nhóm 2
Khi còn nhỏ (đoạn 3)
............................
Nhóm 3
Khi lớn lên, bắt đầu viết văn (đoạn 5)
............................
Nhóm 4
Khi xa quê (đoạn 6)
............................
Nhiệm vụ
chung
Nhận xét tình cảm của tác giả với gió chướng:
...........................................................................................................
...........................................................................................................
.....
Nhóm 1: Khi đón gió
chướng về (đoạn 2)
1) Em hãy chỉ ra
những biểu hiện của
tâm trạng “lộn xộn,
ngổn ngang” của
nhân vật “tôi” khi đón
gió chướng về.
2) Lí do nào khiến
nhân vật “tôi” luôn
mong ngóng, chờ đợi
gió chướng?
Nhóm 2:
Khi còn
nhỏ (đoạn
3)
Nhóm 3:
Khi lớn
lên, viết
văn
(đoạn 5)
Nhiệm vụ chung:
Nhận xét tình cảm
của tác giả với gió
chướng.
Nhóm 4: Khi xa quê
(đoạn 6)
1) Khi đi xa, tác giả
thấy trong siêu thị có
những gì?
2) Khi nhìn thấy ở siêu
thị chất đầy những món
ăn đó, tác giả vẫn cảm
thấy thiếu điều gì?
3) Qua câu hỏi “có ai
bán một mùa gió cho
tôi?”, em cảm nhận
được tình cảm gì của
tác giả?
Nhiệm vụ
Nhóm
1
Tâm trạng của nhân
vật “tôi”
Biểu hiện
Khi đón gió mừng đó rồi bực đó, chờ đợi gió về nhưng khi
chướng về gió về lại buồn vì gió về có nghĩa là sắp hết năm,
(đoạn 2)
sắp già thêm một tuổi, mỗi lần gió về lại cảm
giác
mình
mất
một
cái
gì
đó
không
rõ
ràng,
Tâm trạng “lộn
xộn”, “ngổn
không giải thích được,...
ngang” của
nhân vật “tôi”.
Nhiệm vụ
Tâm trạng của nhân
vật “tôi”
Nhóm Khi còn nhỏ
2
(đoạn 3)
Biểu hiện
Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng
vậy [...] Nhưng tôi vẫn mong gió chướng về. Sự
chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại.
Nhiệm Tâm trạng
vụ của nhân vật
“tôi”
Nhóm Khi lớn lên,
3
bắt đầu viết
văn
(đoạn 5)
Biểu hiện
Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn
chương nó “gợi” khủng khiếp.
Nhiệm vụ Tâm trạng của nhân
Biểu hiện
vật “tôi”
Nhóm 1
Khi đón gió chướng mừng đó rồi bực đó, chờ đợi gió về nhưng khi gió về lại buồn vì gió về
về
có nghĩa là sắp hết năm, sắp già thêm một tuổi, mỗi lần gió về lại cảm
(đoạn 2)
giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được,...
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Khi còn nhỏ
(đoạn 3)
Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng vậy [...] Nhưng tôi vẫn
Khi lớn lên, bắt đầu
viết văn
(đoạn 5)
Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn chương nó “gợi” khủng
Khi xa quê
(đoạn 6)
Tôi vẫn thường hình dung một mai mình đi xa, xa lắm, xa cả những
mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai từ “gió chướng”,
ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quê nhà. [... ] Ở đó, siêu thị
chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu, dưa hành, bánh chưng, bánh tét, liệu
ở đó, có ai bán một mùa gió cho tôi?
mong gió chướng về. Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại.
khiếp.
2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi
Tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi
Biểu hiện của tâm trạng “lộn xộn, Lí do khiến nhân vật “tôi” luôn mong
ngổn ngang” ở nhân vật “tôi”
ngóng, chờ đợi gió chướng
- Khi gió về, lũ con nít nhảy cà tưng,
- Vừa mừng vừa bực.
mừng vì sắp được quần áo mới.
- Muà gió chướng cũng là mùa thu
- Vương vấn những nỗi buồn khó tả.
hoạch.
- Lo sợ khi nghĩ về sự chảy trôi của
thời gian.
- Khẩn trương trong tất cả những
hành động của mình.
- Gió chướng về đồng nghĩa với gió
Tết.
- Gợi nhắc đến quê hương, gắn liền
với quê hương.
Tình cảm của tác giả với gió chướng:
+ Đó là tình yêu, sự gắn bó tha thiết với con người, cảnh sắc
quê hương;
+ Tác giả là người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, có khả năng
cảm nhận được những thay đổi rất nhỏ, rất khẽ khàng của tạo
vật cũng như của tâm trạng con người mỗi khi gió chướng về.
2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi
Nghệ thuật:
- Giọng điệu giãi bày, tâm tình, chia sẻ;
- Ngôn ngữ gợi cảm xúc, suy tư, mang đậm chất Nam Bộ;
- Chi tiết, hình ảnh sinh động, hấp dẫn;
-> Gợi ra suy nghĩ về tình yêu quê hương của tác giả.
=> luôn hướng về quê hương, hướng về nơi có những cơn
gió chướng của mình.
III. Tổng kết
Khái quát nội dung
và nghệ thuật tác
phẩm?
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
Lời văn giàu hình ảnh,
nhạc điệu kết hợp với
biện pháp nhân hóa, so
sánh
2. Nội dung:
Miêu tả ngọn gió chướng
qua đó thể hiện tình yêu,
sự gắn bó với quê hương.
LUYỆN TẬP
Câu 1: Văn bản trở gió của tác giả nào?
A. Nguyễn Nhật Ánh
B. Nguyễn Ngọc Tư
C. Đoàn Giỏi
D. Thép Mới
Câu 2: Nội dung chính của văn bản Trở gió
A. Miêu tả ngọn gió chướng B. Miêu tả cảnh sông nước
qua đó thể hiện tình yêu, sự Nam Bộ qua đó thể hiện tình
gắn bó với quê hương
yêu, sự gắn bó với quê hương
C. Miêu tả những người nông
dân Nam Bộ thật thà, chất
phác.
D. Miêu tả không khí ngày
Tết ở vùng quê Nam Bộ
Câu 3: Câu văn “Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức
rất trễ, tầm tám giờ sáng mới thấy mặt trời ngai ngái lơi
lơi...” sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. So sánh
B. Nhân hoá
C. Ẩn dụ
D. Hoán dụ
Câu 4: Nhân vật tôi tìm mua thứ gì?
A. Dưa hấu
B. Một mùa gió
C. Bánh chưng
D. Dưa kiệu
Câu 5: Nhân vật tôi thường đón gió chướng với tâm trạng
thế nào?
A. Bâng khuâng, xao
xuyến
B. Háo hức
C. Lộn xộn, ngổn ngang
D. Tất cả đều đúng
Câu 6: Với nhân vật tôi, gió chướng là
A. Gió Tết
B. Gió ngày mùa
C. Gió báo bão
D. Gió heo may
Câu 7: Mỗi lần gió chướng về, nhân vật tôi có cảm giác
A. Mất một cái gì đó không rõ
ràng, không giải thích được, B. Háo hức vỗ tay cười
như ai đó đuổi theo đằng sau
C. Mừng húm
D. Cồn cào. Nồng nhiệt
 








Các ý kiến mới nhất