Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Lịch sử ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Khoa
Ngày gửi: 13h:02' 19-05-2020
Dung lượng: 39.6 MB
Số lượt tải: 62
Số lượt thích: 0 người
LỊCH SỬ NGOẠI GIAO VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
ISO 9001 : 2015
Nguyễn Thị Thu Sương
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
CHỦ ĐỀ
NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 1946- 1954
Những hình ảnh về kháng chiến
chống Thực dân Pháp 1946-1954
Lực lượng vũ trang Nam Bộ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam)
 thành lập ngày 22/12/1944.
"Lòng quyết tâm còn cao hơn núi". Bộ đội ta kéo pháo vào Điện Biên Phủ
Ngày 7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đập tan Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp, làm “chấn động địa cầu”, dựng lên một mốc son lịch sử chói lọi.
Giai đoạn
1947
1949
Ngoại giao phá vây
1950
1953
Quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa mở rộng hoạt động quốc tế
1954
Hội nghị quốc tế về Đông Dương và ký kết Hiệp định Geneva
NỘI DUNG
I.NGOẠI GIAO PHÁ VÂY 1947- 1949
1.Nêu cao thiện chí và chính nghĩa, nỗ lực vãn hồi hoà bình
2.Khẳng định Việt Nam muốn "làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai ,"tranh thủ đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới.
3.Đối với các nước dân chủ nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực
4.Hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia
5. Đấu tranh chống âm mưu của Pháp và Mỹ lập chính quyền bù nhìn
II.Lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng hoạt động quốc tế 1950 - 1953
1.Thiết lập quan hệ ngoại giao và xây dựng liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa
2.Đấu tranh chóng sự can thiệp của Hoa Kỳ
3. Đẩy mạnh giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Campuchia
4.Vận động nhân dân Pháp và nhân dân thế giới chống chiến tranh xâm lược
III.Hội nghị quốc tế về Đông Dương và ký kết Hiệp định Geneva
1954
I.Ngoại giao phá vây
1947- 1949
I.Ngoại giao phá vây 1947-1949
Từ ngày 19 tháng Mười hai 1946 cuộc kháng chiến cứu nước, bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ trên quy mô toàn quốc.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến thế giới diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, ảnh hưởng to lớn đến tiến trình phát triển của quan hệ quốc tế. Nổi bật là sự ra đời của hàng loạt nước dân chủ nhân dân ở châu Âu, sự phát triển của phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc ở châu Á, Trung Cận Đông và châu Phi
Tình hình chính trị nước Pháp tiếp tục không ổn định: từ tháng Mười Hai 1946 đến tháng Mười 1949.
Trong giai đoạn này, bộ máy chiến tranh của Pháp ở Đông Dương cũng bị xáo trộn lớn: thay ba cao uỷ và ba tổng chỉ huy quân đội viễn chinh.
Đối với Việt Nam, từ năm 1945 đến 1950, cuộc chiến đấu diễn ra trong vòng vây của các thế lực thù địch. Với sức mạnh quật cường của cả dân tộc được hồi sinh sau một thế kỷ bị nô dịch, toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, đã tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ với lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng.
I.Ngoại giao phá vây 1947-1949
Từng bước, từng bước, trải qua các chiến dịch quy mô từ nhỏ đến lớn, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã trưởng thành. Đến năm 1950, thực dân Pháp đã công nhận là không thể giành thắng lợi trong chiến tranh.
Sau chiến thắng biên giới Thu - Đông năm 1950, vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã bị phá vỡ một mảng lớn ở phía Bắc, từ Lai Châu, qua Cao Bằng đến Lạng Sơn, Cách mạng Việt Nam đã thiết lập được quan hệ trực tiếp với cách mạng thế giới, trước hết là với Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân, đồng thời mở rộng các mối liên hệ với các lực lượng yêu chuộng hoà bình, công lý ở Pháp và trên thế giới.
I.Ngoại giao phá vây 1947-1949
1.Nêu cao thiện chí và chính nghĩa, nỗ lực vãn hồi hoà bình
Đầu năm 1947, đối với các cuộc thương lượng Việt - Pháp, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương "phải lợi dụng hết khả năng ngoại giao, làm cho cuộc lại".`Mục tiêu của đàm phán là Việt Nam độc lập, thống nhất trong Liên hiệp Pháp. "Nếu Pháp không công nhận ta độc lập và thống nhất thì ta tiếp tục kháng chiến đến toàn thắng mới thôi".
Lúc chiến tranh ở Việt Nam nổ ra trên quy mô toàn quốc, Léon Blum vừa thành lập xong Chính phủ của Đảng Xã hội, không nắm được thực chất tình hình ở Đông Dương. Trước khi làm thủ tướng, ông từng tuyên bố ủng hộ giải pháp thoả hiệp và việc thi hành các thoả thuận đã ký kết giữa Chính phủ Pháp với Chính phủ Việt Nam.
1.Nêu cao thiện chí và chính nghĩa, nỗ lực vãn hồi hoà bình
Trong khi đó, giới thực dân ở Đông Dương ra sức xuyên tạc tình hình, đưa ra các luận điệu "Việt Minh phản bội", "Việt Minh phá Hiệp định ngày 6 tháng Ba”; gây trở ngại cho hoạt động của hai đoàn của ông Moutet và tướng Leclerc do Chính phủ của Léon Blum cử sang điều tra tình hình Đông Dương; trì hoãn việc chuyển các thư và điện mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho những người đứng dầu Chính phủ Paris.
1.Nêu cao thiện chí và chính nghĩa, nỗ lực vãn hồi hoà bình
Trước tình hình đó, trong hoàn cảnh thông tin liên lạc cực kỳ khó khăn của thời kỳ đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bằng mọi con đường và phương tiện có thể được, đã kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh ngoại giao, tố cáo bọn thực dân hiếu chiến ở Đông Dương, làm cho dư luận thế giới, chính phủ các nước đồng minh và nhân dân chính giới Pháp thấy rõ thiện chí hoà bình của Chính phủ Việt Nam, với tinh thần "còn nước còn tát".
1.Nêu cao thiện chí và chính nghĩa, nỗ lực vãn hồi hoà bình
2.Khẳng định Việt Nam muốn "làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai ,"tranh thủ đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới.
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn và thiếu thốn, Chính phủ Việt Nam vẫn chủ động triển khai các hoạt động quốc tế để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
3.Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực
- Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
- Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
- Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc
Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân".
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu các quan điểm về chính sách đối ngoại hữu nghị và hợp tác của Việt Nam, khẳng định: Việt Nam muốn "làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai"; "Độc lập của Việt Nam luôn luôn nhờ nơi lực lượng của Việt Nam", "Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam"
3.Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực
4.Hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia
Với Campuchia, Ban Thường vụ Trung ương giao cho Xứ uỷ và Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ phối hợp và giúp đỡ lực lượng kháng chiến Campuchia. Ban ngoại vụ được thành lập chuyên lo việc quan hệ và giúp đỡ các lực lượng của nước bạn.
Trong năm 1949, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động quốc tế giúp bạn Lào phát triển các căn cứ ở phía Thượng, Trung, Hạ Lào và căn cứ Bôlôven; giúp bạn Campuchia mở rộng căn cứ, tiến tới nối liền căn cứ Đông Nam với Đông Bắc.
5. Đấu tranh chống âm mưu của Pháp và Mỹ lập chính quyền bù nhìn
Thất bại trong kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh", sau chiến dịch Thu - Đông 1947, Chính phủ Pháp phải chuyển sang đánh kéo dài, đồng thời đẩy mạnh thực hiện chính sách xây dựng chính quyền bù nhìn, "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Chính phủ Paris đã đi tới quyết định sử dụng lá bài Bảo Đại, tiến hành các bước chuẩn bị để đưa Bảo Đại về nước.
Trung ương Đảng kịp thời nêu ra những biện pháp đấu tranh chống lại việc Pháp đưa Bảo Đại về nước; vạch trần bộ mặt bán nước của Bảo Đại; tỏ thái độ kiên quyết làm cho dư luận quốc tế và trong nước thấy rõ hành động lừa bịp của Pháp
Đẩy mạnh hoạt động đánh phá ngụy quân, ngụy quyền. Đồng thời Đảng chủ trương đề cao thế hợp pháp và đại diện chính thức duy nhất của dân tộc Việt Nam của Chính phủ Hồ Chí Minh, Chỉ thị của Thường vụ Trung ương nêu rõ: "Chính phủ Hồ Chí Minh là đại biểu duy nhất chính thức của dân tộc Việt Nam; do Quốc hội Việt Nam truy nhận. Không ai, ngoài Chính phủ Hồ Chí Minh có quyền tự nhận là đại biểu chính thức của nhân dân Việt Nam để đàm phán với Pháp"?. Một nhiệm vụ của công tác đối ngoại là phải "nêu lên những tài liệu chứng tỏ rằng Vĩnh Thụy (tức Bảo Đại) không đại diện cho ai hết"
5. Đấu tranh chống âm mưu của Pháp và Mỹ lập chính quyền bù nhìn
II.Lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa mở rộng hoạt động quốc tế 1950 - 1953
II.Lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng hoạt động quốc tế 1950 - 1953
Từ cuối năm 1949, tình hình thế giới và châu Á diễn ra những biến cố lớn.
Ở Đông Âu, các chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Nền kinh tế Liên Xô phục hồi với nhịp độ tăng trưởng cao.
Ngày 1 tháng Mười 1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập. Sự ra đời của nước Trung Hoa dân chủ nhân dân tạo ra một bước ngoặt trong tình hình châu Á và thế giới, ảnh hưởng tích cực đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Dương.
Kể từ toàn quốc kháng chiến, nhân dân Việt Nam sau ba năm chiến đấu theo đường lối tự lực cánh sinh, đã vượt qua giai đoạn thử thách hiểm nghèo; lực lượng kháng chiến phát triển và lớn mạnh giành nhiều thắng lợi to lớn và ở vào thế chủ động.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, trước hết là với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa khác, tranh thủ sự đồng tình, chi viện quốc tế, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến của dân tộc ta đến thắng lợi.
II.Lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng hoạt động quốc tế 1950 - 1953
1.Thiết lập quan hệ ngoại giao và xây dựng liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa
Ngày 5 tháng Mười hai 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Chủ tịch Mao Trạch Đông chúc mừng việc thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, khẳng định: "Hai dân tộc Việt - Hoa có mối quan hệ anh em trải mấy nghìn năm lịch sử. Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ càng mật thiết để phát triển tự do và hạnh phúc”
Ngày 14 tháng Giêng 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố; "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam... Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới".
Ngày 3 tháng Hai 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Liên Xô sau khi đã thăm Trung Quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh hội đàm với nhà lãnh đạo Liên Xô Xtalin. Đề cập tình hình cách mạng Việt Nam từ năm 1945 - 1950, Chủ tịch giải thích trong tình thế cực kỳ gian nguy sau Cách mạng tháng Tám 1945, cách mạng Việt Nam đã phải thực hiện những biện pháp chiến lược, sách lược cực kỳ khôn khéo để đối phó với thù trong, giặc ngoài.
Nhân dịp Chủ tịch Mao Trạch Đông đang có mặt ở Mátxcơva để ký kết Hiệp ước đồng minh tương trợ hữu nghị Trung - Xô, các nhà lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc khẳng định sẽ cung cấp cho Việt Nam một số viện trợ vũ khí, trang bị quân sự, lương thực và thuốc men.
1.Thiết lập quan hệ ngoại giao và xây dựng liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa
Trong một buổi làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Liên Xô, Đại nguyên soái Xtalin và Chủ tịch Mao Trạch Đông thoả thuận hai nước sẽ trang bị vũ khí cho sáu đại đoàn bộ binh của Việt Nam; Chủ tịch Mao Trạch Đông còn khẳng định: tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam.
1.Thiết lập quan hệ ngoại giao và xây dựng liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa
Đánh giá thắng lợi ngoại giao đầu năm 1950, trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, ngày 19 tháng Tám 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
"Mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một cuộc thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam, tức là hai nước lớn trên thế giới - Liên Xô và Trung Quốc dân chủ, và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước ngang hàng trong đại gia đình dân chủ thế giới. Nghĩa là ta đã đứng hắn về phe dân chủ và nhập vào khối 800 triệu nhân dân chống đế quốc. Chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là cái đà cho những thắng lợi quân sự sau này"
Thắng lợi ngoại giao đầu năm 1950 đã tạo nên bầu không khí nô nức chiến đấu trong quân và dân Việt Nam trên toàn quốc.
Sau khi lập được quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, hướng hoạt động đối ngoại chủ yếu của Việt Nam là củng cố quan hệ với các nước anh em đồng thời mở rộng quan hệ với nhân dân Pháp, với các tổ chức hoà bình, dân chủ quốc tế nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ để đẩy mạnh kháng chiến.
1.Thiết lập quan hệ ngoại giao và xây dựng liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa
2.Đấu tranh chóng sự can thiệp của Hoa Kỳ
Pháp, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây phản ứng gay gắt việc Liên Xô, Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Do Mỹ thúc giục, ngày 29 tháng Giêng 1950, Quốc hội Pháp phê chuẩn Hiệp định Élysée. Ngay sau khi Liên Xô tuyên bố công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bộ Ngoại giao Pháp gửi thư kháng nghị và phê phán Liên Xô gay gắt.
Đảng đề ra chủ trương chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, hoàn toàn giải phóng Đông Dương, đẩy mạnh kháng chiến, đánh tan tâm lý sợ Mỹ, thân Mỹ và phối hợp cuộc kháng chiến của Việt Nam với phong trào hoà bình, dân chủ thế giới...
Việt Nam cử đoàn tham gia Hội nghị hoà bình thế giới lần đầu tổ chức ở Paris tháng Tư 1949; thành lập Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, tham gia phong trào lấy chữ ký bảo vệ hoà bình Việt Nam tham gia Hội nghị hoà bình thế giới lần thứ hai ở Vacsava tháng Mười một 1950.
Hội nghị này đã thông qua nghị quyết đòi đế quốc chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên và Việt Nam. Việt Nam tích cực tham gia đóng góp vào thành công của Hội nghị hoà bình châu Á - Thái Bình Dương họp ở Bắc Kinh, tháng Mười 1952. Hội nghị này đã mạnh mẽ lên án cuộc chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Miên, Mã Lai.
2.Đấu tranh chóng sự can thiệp của Hoa Kỳ
3. Đẩy mạnh giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Campuchia
Từ sau chiến thắng Biên giới 1950, tình hình quân sự, chính trị ở Việt Nam và Đông Dương có những chuyển biến sâu sắc. Cuộc kháng chiến của Việt Nam bước sang giai đoạn mới.
Ngày 11 tháng Ba 1951, các đại diện của Mặt trận Khơme Itsarak, của Mặt trận Lào Itxala và đại diện của Mặt trận Liên Việt của Việt Nam đã họp hội nghị thành lập "Mặt trận Đoàn kết Liên minh Việt - Miên - Lào". Hội nghị xác định:
1. Ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia đều có kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Cuộc kháng chiến của ba dân tộc là một bộ phận khăng khít của phong trào hoà bình, dân chủ thế giới. Nhiệm vụ của cách mạng tại ba nước Đông Dương là đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho ba nước hoàn toàn độc lập, xây dựng ba quốc gia mới, làm cho nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ.
2. Thành lập liên minh nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau; định ra một chương trình hành động chung của liên minh ba nước.
3. Thành lập Uỷ ban liên minh gồm các ông: Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Sơn Ngọc Minh, Tuxamut, Xuphanuvông, Nuhắc.
4. Công bố một tuyên ngôn nói rõ ý nghĩa và mục đích thành lập Liên minh nhân dân ba nước, gây một phong trào ủng hộ Liên minh đó trong nhân dân ba nước.
4.Vận động nhân dân Pháp và nhân dân thế giới chống chiến tranh xâm lược
Từ năm 1950, sau khi khai thông được quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng địa bàn hoạt động quốc tế, các mối liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp, với các lực lượng dân chủ tiến bộ ở Pháp và trên thế giới có điều kiện thuận lợi để mở rộng.
Trong thời gian thăm Liên Xô, tại Matxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ các đại diện Đảng Cộng sản Pháp và nhiều tổ chứ quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
Ngày 20 tháng Bảy 1950, khi tiếp Léo Figuerre, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhờ chuyển lời của nhân dân Việt Nam cảm ơn nhân dân và các tầng lớp xã hội Pháp đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Để góp phần thúc đẩy phong trào chống chiến tranh ở Pháp, Chính phủ Việt Nam quyết định trao trả cho Pháp 228 tù binh và nhân viên dân sự Pháp. Ta trao danh sách cho Léo Figuerre về Pháp công bố. Chuyến thăm của đại diện Đảng Cộng sản Pháp tại Việt Nam có tiếng vang lớn. Khẩu hiệu "Hoà bình và hồi hương” .
4.Vận động nhân dân Pháp và nhân dân thế giới chống chiến tranh xâm lược
III.Hội nghị quốc tế về Đông Dương và ký kết Hiệp định Geneva 1954
Hiệp định Geneva 1954
VIDEO HIỆP ĐỊNH
GENEVE 1954
Bối cảnh dẫn đến Hội nghị quốc tế về Đông Dương
Từ giữa năm 1953, tình hình thế giới xuất hiện một số nhân tố mới tác động đến chiều hướng phát triển của chiến tranh ở Đông Dương. Cuộc chiến tranh lạnh ở vào thời kỳ quyết liệt; hai khối và hai hệ thống chính trị đối lập đấu tranh với nhau gay gắt.
Từ năm 1950, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo bước ngoặt trong quan hệ quốc tế: nối liền Việt Nam với hậu phương quốc tế xã hội chủ nghĩa, kết thúc thời kỳ chiến đấu trong vòng vây, làm cho cuộc kháng chiến đã được tiếp thêm sức mạnh với sự liên kết với 800 triệu nhân dân thuộc cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tăng cường phối hợp.
Điện Biên Phủ - Geneva là đỉnh cao của chín năm kháng chiến của nhân dân Việt Nam trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.
Đây là thắng lợi vĩ đại của một nước nhỏ đánh thắng một đế quốc to.Thắng lợi đó góp phần phát triển cách mạng Lào và Campuchia, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc, thúc đẩy quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.
Thành tựu đối ngoại nổi bật trong giai đoạn đầu là đã nỗ lực khắc phục hoàn cảnh khó khăn chiến đấu trong vòng vây khi các liên hệ từ thủ đô kháng chiến với thế giới hết sức hạn chế, thiếu thông tin tài liệu để nghiên cứu quốc tế, không có ngoại tệ, nhưng đã chủ động, nỗ lực to lớn để phá vây qua hướng Tây Nam, mở các cơ quan đại diện ở Băngcốc, Rănggun, tạo được đầu mối ở ngoài nước để hoạt động quốc tế
”
Bài học đàm phán và ký kết Hiệp định Geneva 1954 đã được quan tâm đúng mức trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, khi Việt Nam tiến hành đàm phán với Hoa Kỳ nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
“
Thắng lợi quan trọng này là kết quả của đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến, đường lối đối ngoại đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là thành quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao; minh chứng hùng hồn chính sách đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế của Đảng và nhân dân ta. Đây còn là cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược sau này.
”
Đây là thắng lợi vĩ đại của một nước nhỏ đánh thắng một đế quốc to. Thắng lợi đó góp phần phát triển cách mạng Lào và Campuchia, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc, thúc đẩy quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.
Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc hiện nay, chúng ta không chấp nhận, không khuất phục trước kiểu hành xử lấy sức mạnh để uy hiếp nước khác. Với chính nghĩa, chúng ta nhất định thắng, nhưng trong đấu tranh, sách lược phải hết sức mềm dẻo. Đó là bài học kinh nghiệm đấu tranh trên mặt trận ngoại giao từ Hội nghị Geneve 1954.
Ngày nay, trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bên cạnh các lợi thế, việc nghiên cứu sâu sắc tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể hiện nay, là việc làm có ý nghĩa
Tài liệu tham khảo: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI,2005
Email: 116518019@sv.tvu.edu.vn
CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BAN ĐÃ LẮNG NGHE
 
Gửi ý kiến