Lớp 6 ,7,8,9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thành
Ngày gửi: 10h:48' 13-08-2026
Dung lượng: 11.4 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thành
Ngày gửi: 10h:48' 13-08-2026
Dung lượng: 11.4 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
VỀ PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
CHUYÊN ĐỀ
KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
NĂM HỌC 2025 - 2026
Giáo viên GDTC: Phạm Thị
Thành
Đơn vị: Trường tiểu học và THCS
Nam Quan, xã Xuân Dương
MỤC ĐÍCH
Giúp các học sinh hiểu được:
- Những nguy cơ gây đuối nước và cách phòng
tránh
- Phương pháp cứu hộ.
- Phương pháp sơ cứu người bị đuối nước.
I. NHỮNG NGUY CƠ GÂY RA ĐUỐI NƯỚC
1. Thực trạng trẻ em bị đuối nướcViệt Nam
- Việt Nam có tỷ lệ tử vong do đuối nước cao gấp 10
các nước phát triển. Bình quân mỗi năm cả nước
có trên 3.500 trẻ em và vị thành niên tử vong do
đuối nước, trung bình mỗi ngày có khoảng 10 trẻ
em và vị thành niên tử vong do đuối nước. Theo
thống kê Tổng cục phòng cháy cứu nạn cứu hộ thì
con số càng khủng khiếp hơn mỗi năm có 12.700
trẻ em chết đuối, trung bình mỗi ngày có 35 người
chết đuối đa số là trể em Trẻ em chết do đuối
nước chỉ xếp sau tai nạn giao thông.
- Mùa hè thường là thời điểm hay xảy ra đuối nước
nhiều nhất.
2.Thế nào là tai nạn đuối nước?
Đuối nước hay ngạt nước thường không phải
chết do phổi đầy nước mà vì chất lỏng làm ngăn cản
đường thở.
Hậu quả là não bị thiếu Oxy, nếu không được cấp
cứu kịp thời nạn nhân sẽ chết hoặc để lại di chứng
não nặng nề.
Trẻ em, đặc biệt trẻ nhỏ dưới 3 tuổi sức yếu
nên rất dễ bị ngạt thở: chỉ trong vòng hai phút và
với một xô nước nhỏ cũng có thể làm trẻ chết đuối.
Ngạt nước (9'00 -> 9'12)
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN
ĐUỐI NƯỚC
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ
TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN
ĐUỐI NƯỚC
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN
ĐUỐI NƯỚC
Vượt lũ đi học, không an toàn
NHỮNG NƠI CÁC CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
Vùng chảy xa bờ
Không khởi động kỹ, bơi
quá sức bị chuột rút
3. HẬU QUẢ BỊ TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
HẬU QUẢ BỊ TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
II. NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG ĐUỐI
NƯỚC.
. Nâng cao nhận thức
- Người lớn, trẻ em nhận thức sâu sắc về mức độ nguy
hiểm, các yếu tố nguy cơ dẫn đến đuối nước trẻ em.
- Hậu quả của việc đuối nước tác động đến cá nhân,
bạn bè, gia đình và xã hội.
- Xuống nước khi cơ thể điều hòa với nhiệt độ của cơ
thể, có kỹ năng, có trợ giúp.
1. Khởi động kỹ trước khi xuống nước
2. Học bơi dưới sự hướng dẫn của người lớn biết
bơi.
- Học bơi do người lớn
hướng dẫn:
+ Bơi được ít nhất
25m liên tục
+ Tự làm nổi mình ít
nhất 5 phút
Biết bơi
4.Tuân thủ quy định an toàn đường thủy.
Mặc áo phao khi tắm, qua đò
Bơi nơi an toàn, ngang ngực, có người lớn,
đông người
5. Có các thết bị phòng chống tai nạn đuối nước .
Chum vại, bể nước phải có nắp đậy Giếng nước phải
được xây thành cao, có nắp đậy.
PHÒNG TRÁNH TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC Ở TRẺ EM
Làm hàng rào quanh
ao, hố nước, rãnh nước
quanh nhà, làm cổng
có cửa chắn (khi nhà
gần sông hồ)
6. Cắm biển báo nguy hiểm
7. Lên bờ ngay khi trời tối, mưa, sấm chớp…
8. Không được nhảy xuống nước khi mình
đầy mồ hôi.
9. Không tắm, bơi ngay sau khi ăn.
KHÔNG
CÁCH CỨU NGƯỜI BỊ ĐUỐI
Tùy theo tình hình cụ thể của người bị
đuối mà quyết định sử dụng phương pháp
thích hợp. Thường có 2 phương pháp cứu
đuối đó là cứu đuối gián tiếp và cứu đuối trực
tiếp.
Mặc dù có biết bơi hay không, khi gặp một
người té xuống nước sâu, ta phải biết kêu gọi
những người xung quanh tới trợ giúp. Nhưng
luôn luôn phải để ý tới nạn nhân và cố gắng
với sáng kiến, khả năng của mình tìm tòi mọi
cách để cứu họ lên.
Trong trường hợp nạn nhân ở gần bờ, không
phải lúc nào cũng có sẵn phao cứu hộ bên
mình, ta có thể tận dụng một chiếc gậy, một
cây sào..
hoặc xa hơn một chút thì dùng một cuộn dây
buộc một đầu vào một vật gì đó nổi lên được
trên mặt nước như: can nhựa, thùng nhựa,
chai nước suối, thùng dầu ăn... đều có thể
dùng cứu họ được.
Ta hãy thực hiện bằng cách níu chặt lấy
một thân cây, một mô đất hoặc một vật gì
chắc chắn, rồi ném hoặc đưa vật hiện có cho
nạn nhân nắm lấy và lôi vào bờ (hình 1)
Nếu có nhiều người, ta giăng một hàng
người nắm tay (như hình 2) để kéo nạn
nhân vào bờ
Nếu có thuyền, ta chèo thuyền ra chỗ nạn
nhân, cũng có thể đưa tay hoặc mái chèo ra cho
nạn nhân nắm lấy, hoặc trong trường hợp khẩn
thiết ta buộc dây vào người và nhảy xuống nước
cứu họ lên thuyền (hình 3)
- Là khi không có dụng cụ cứu đuối hoặc người đuối đã vào
trạng thái hôn mê. Người làm công tác cứu đuối trực tiếp
phải qua lớp huấn luyện chuyên môn, đồng thời phải có
những kiến thức nhất định mới có thể đảm nhiệm được. Khi
cứu đuối trực tiếp cần chú ý những điểm sau:
- Người cứu trước khi vào nước cần quan sát vị trí của người
đuối (đã hôn mê, chìm hay còn giẫy dụa trong nước), tùy
vào tình hình của người đuối mà người cứu sử dụng phương
pháp cho thích hợp. Nếu người bị đuối rơi vào vùng nước
chảy xiết trên sông rạch thì người cứu có thể chạy trên bờ
để đón đầu cứu.
1.CÁCH NHẢY VÀO NƯỚC.
Người cứu nếu không quen với với
tình hình nước ở khu vực có người đuối
thì tuyệt đối không được nhảy cắm đầu
xuống nước mà nên nhảy xoạc chân trước
sau, hai tay dang hai bên về phía trước
(hình 6)
2. CÁCH BƠI TIẾP CẬN NGƯỜI BỊ ĐUỐI.
Khi tiếp cận với người bị đuối, nên dùng kiểu
bơi ếch hoặc trườn sấp ngẩng cao đầu để tiện cho
việc quan sát vị trí và động tác của người đuối, khi
bơi cần chú ý chọn quãng đường ngắn nhất. Khi
người đuối đang còn giẫy dụa, người cứu không nên
xông ngay vào phía trước mặt mà nên tiếp cận họ từ
sau lưng để tránh khỏi bị ôm túm gây nguy hiểm.
Sau khi tiếp cận họ từ phía sau lưng nâng họ
lên mặt nước, tiếp đó dùng kỹ thuật bơi
nghiêng hoặc bơi ếch ngửa để dìu họ vào bờ
và tiến hành cấp cứu trên cạn (hình 7)
3. CÁCH BƠI DÌU NGƯỜI BỊ ĐUỐI VÀO BỜ.
Khi cứu người nếu chúng ta không khẩn
trương bơi dìu họ vào bờ để cấp cứu trên cạn thì
coi như ”công dã tràng”. Thường người cứu sử
dụng các kiểu bơi dìu như sau:
CÁCH 1: Nạn nhân nằm ngửa, người cứu bơi ở
phía sau nạn nhân, một tay dùng để bơi, một tay
vắt ngang trên ngực xốc chéo qua nách bên kia.
Bơi kiểu nhái đưa họ vào bờ. Kiểu này người cứu
khá mệt nhưng làm cho nạn nhân được an toàn
tuyệt đối. Kiểu này người cứu phải khá tỉnh táo
và phải biết bơi thành thạo (hình 8)
CÁCH 2: Nâng cằm nạn nhân cho ngửa hẳn mặt
lên, như thế mũi của nạn nhân sẽ được thoát lên
khỏi mặt nước. Cách này được dành cho các nạn
nhân có cơ thể hơi mập. Người cứu có thể dùng
tay còn lại để bơi ếch ngửa vào bờ nhanh hơn.
(hình 9)
CÁCH 3: Từ phía sau, người cứu dùng tay nắm
ngay chùm tóc phía trên trán, giựt ngửa cổ nạn
nhân ra đằng sau, phương pháp này dùng để cứu
nạn nhân là nữ rất có lợi (hình 10)
CÁCH 4: Nếu nạn nhân đã bất tỉnh thực sự, ta có
thể dùng hai tay nâng đầu nạn nhân nổi lên mặt
nước, bơi ngửa bằng hai chân và kéo nạn nhân
vào bờ (hình 12)
CÁCH 5: Nếu nạn nhân có trọng lượng nhẹ hơn ta
và đã bất tỉnh. Ta có thể bơi ngửa, dùng ngực để
đỡ đầu nạn nhân, hai tay xốc dưới nách cho nạn
nhân nằm sải với tư thế thoải mái, hai chân đạp
kiểu ếch ngửa để đưa nạn nhân vào bờ. (hình 13)
Đừng mặc cảm là mình còn bơi yếu nên
không thể làm gì được! Chắc chắn không có ai
bơi giỏi cả nhưng bạn có thể thoát chết đó là
nhờ sự bình tĩnh và sử dụng những kiến thức đã
được học đem ra để áp dụng.
Nếu những phương pháp này được các bạn
rèn luyện tốt. Rất có thể bạn sẽ giúp được một ai
đó thoát chết trong khả năng cho phép. Hy vọng
rằng chính bạn sẽ là người góp phần làm cho số
người thiệt mạng vì chết đuối sẽ được giảm
đáng kể.
Giáo dục phòng tránh đuối nước
- 1. Không để trẻ nhỏ ở một mình khu vực có nước,
luôn ở cạnh và quan sát trẻ.
- 2. Đảm bảo hồ bơi và các vật nước chứa nước được
rào chắn cẩn thận.
- 3. Luôn giám sát các em nhỏ bằng mắt.
- 4. Học bơi là cách tốt nhất hạn chế tai nạn đuối
nước.
- 5. Bố mẹ nên học cách sơ cứu và hồi sinh tim phổi
- 6. Không bao giờ để trẻ lớn hơn giám sát trẻ nhỏ.
- 7. Đừng bao giờ nghĩ trẻ nhỏ biết bơi sẽ không bị
đuối nước.
Giáo dục phòng tránh đuối nước
- 8. Ở những khu vực nước mở như hồ, sông suối,
thủy điện và biển luôn mặc áo phao cho trẻ nhỏ.
- 9. Không để đồ chơi và bất cứ vật gì gần hồ bơi và
nơi chứa nước
- 10. Không để hờ cống chắn ở hồ bơi hoặc hồ chứa
nước khu vựa xung quang trẻ nhỏ.
- Cho trẻ học bơi sớm.
III. PHƯƠNG PHÁP HÔ HẤP NHÂN TẠO.
Phương pháp hô hấp nhân tạo được áp dụng trong trường
hợp cấp cứu nạn nhân bị đuối nước do không biết bơi, gặp tai
nạn đường thủy, các trường hợp bị tai nạn khác dẫn đến bất
tỉnh và ngưng tim ngưng thở…bao gồm 5 bước thực hiện sau:
1. NGUY HIỂM
2. ĐÁP ỨNG
3. ĐƯỜNG THỞ.
KẾT
LUẬN
VÀ Ở
KIẾN
4.
NH
ỊP TH
. NGHỊ
5. MẠCH.
+ Bước 1: Nguy hiểm.
Đảm bảo không còn bất kỳ sự nguy hiểm
nào đối với nạn nhân và người cấp cứu.
+ Bước 2: Đáp ứng
Kiểm tra sự đáp ứng của nạn nhân bằng cách: Bóp nhẹ hai vai, gọi to hoặc
lắc nhẹ xem nạn nhân còn tỉnh táo hay không. Trước khi thực hiện các bước kế
tiếp nên nới lỏng quần áo, lấy các vật cộm trong túi áo quần nạn nhân ra ngoài.
Đối với trẻ em dưới 1 tuổi nên vỗ mạnh vào lòng bàn chân của nạn nhân và kết
hợp gọi to.
Gọi ngay số điện thoại 115 hoặc số điện thoại của cơ quan y tế gần nhất đến
báo sự việc và yêu cầu hỗ trợ.
+ Bước 3: Đường thở
Khai thông đường thở của nạn nhân bằng cách:
+ Lấy mọi dị vật gây tắc nghẽn
đường thở trong miệng nạn nhân, kể cả răng
giả (nếu có). Nếu nạn nhân ói mửa thì cần nghiêng đầu sang bên
cho nạn nhân ói và vệ sinh sạch sẽ miệng và mũi nạn nhân trước
khi thực hiện các bước kế tiếp.
+ Thông đưởng thở bằng cách nâng cằm và ngửa đầu nạn nhân
( để tránh lưỡi tụt xuống che thành họng của nạn nhân). Trong
trường hợp nghi ngờ nạn nhân bị chấn thương đốt sống cổ cần
thực hiện nâng hàm nhẹ vừa phải vừa đủ để không khí vào và
phải làm hết sức cẩn thận (nếu có người hỗ trợ thì giữ cố định
phần đầu bằng tay khi thực hiện quá trình sơ cứu)
+ Bước 4: Nhịp thở
Cấp cứu viên quan sát lồng ngực, áp lỗ tai sát mũi và bàn tay đặt
trên bụng nạn nhân để :
+ Nghe : Hơi thở của nạn nhân.
+ Nhìn : Lồng ngực nạn nhân có di động (phập phồng lên xuống)
hay không.
+ Cảm nhận : Hơi ấm của cơ thể nạn nhân.
Thực hiện nghe, nhìn và cảm nhận trong 5 giây (có thể
đếm từ 1 đến 5) để xác định nạn nhân còn thở không, nếu nạn
nhân không thở thì cấp cứu viên lập tức thổi hơi 5 lần liên tục
(cần thổi hơi dài và đủ mạnh từ 2 giây trở lên). Nếu có băng gạc y
tế hoặc gạc chuyên dụng thì cấp cứu viên nên đặt trên miệng nạn
nhân trước khi tiến hành thổi hơi (tránh các bệnh lây nhiễm qua
đường hô hấp).
Cấp cứu viên phải nghe kiểm tra hơi thở và quan sát xem lồng
ngực nạn nhân có nâng lên hay không sau mỗi lần thổi hơi. Nếu
thổi không đúng cách không khí sẽ không vào lồng ngực được.
Nguyên nhân:
+ Ngửa đầu nạn nhân không đủ để thông thoáng đường thở.
+ Có vật nghẽn đường thở.
+ Áp miệng không đúng cách, không sát miệng nạn nhân.
+ Bịt mũi không kín.
+ Thổi hơi không đủ mạnh.
+ Bước 5: Mạch
Kết thúc lần thổi hơi thứ 5, cấp cứu viên tiến hành kết hợp
kiểm tra mạch bằng cách đặt 2 ngón tay (ngón trỏ và giữa) vào
mạch cổ nạn nhân kiểm tra trong 10 giây (có thể đếm từ 1 đến 10),
lúc này sẽ xảy ra 2 trường hợp như sau :
VỀ PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH
CHUYÊN ĐỀ
KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
NĂM HỌC 2025 - 2026
Giáo viên GDTC: Phạm Thị
Thành
Đơn vị: Trường tiểu học và THCS
Nam Quan, xã Xuân Dương
MỤC ĐÍCH
Giúp các học sinh hiểu được:
- Những nguy cơ gây đuối nước và cách phòng
tránh
- Phương pháp cứu hộ.
- Phương pháp sơ cứu người bị đuối nước.
I. NHỮNG NGUY CƠ GÂY RA ĐUỐI NƯỚC
1. Thực trạng trẻ em bị đuối nướcViệt Nam
- Việt Nam có tỷ lệ tử vong do đuối nước cao gấp 10
các nước phát triển. Bình quân mỗi năm cả nước
có trên 3.500 trẻ em và vị thành niên tử vong do
đuối nước, trung bình mỗi ngày có khoảng 10 trẻ
em và vị thành niên tử vong do đuối nước. Theo
thống kê Tổng cục phòng cháy cứu nạn cứu hộ thì
con số càng khủng khiếp hơn mỗi năm có 12.700
trẻ em chết đuối, trung bình mỗi ngày có 35 người
chết đuối đa số là trể em Trẻ em chết do đuối
nước chỉ xếp sau tai nạn giao thông.
- Mùa hè thường là thời điểm hay xảy ra đuối nước
nhiều nhất.
2.Thế nào là tai nạn đuối nước?
Đuối nước hay ngạt nước thường không phải
chết do phổi đầy nước mà vì chất lỏng làm ngăn cản
đường thở.
Hậu quả là não bị thiếu Oxy, nếu không được cấp
cứu kịp thời nạn nhân sẽ chết hoặc để lại di chứng
não nặng nề.
Trẻ em, đặc biệt trẻ nhỏ dưới 3 tuổi sức yếu
nên rất dễ bị ngạt thở: chỉ trong vòng hai phút và
với một xô nước nhỏ cũng có thể làm trẻ chết đuối.
Ngạt nước (9'00 -> 9'12)
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN
ĐUỐI NƯỚC
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ
TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN
ĐUỐI NƯỚC
NHỮNG NƠI CÁC EM CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN
ĐUỐI NƯỚC
Vượt lũ đi học, không an toàn
NHỮNG NƠI CÁC CÓ NGUY CƠ BỊ TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
Vùng chảy xa bờ
Không khởi động kỹ, bơi
quá sức bị chuột rút
3. HẬU QUẢ BỊ TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
HẬU QUẢ BỊ TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC
II. NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG ĐUỐI
NƯỚC.
. Nâng cao nhận thức
- Người lớn, trẻ em nhận thức sâu sắc về mức độ nguy
hiểm, các yếu tố nguy cơ dẫn đến đuối nước trẻ em.
- Hậu quả của việc đuối nước tác động đến cá nhân,
bạn bè, gia đình và xã hội.
- Xuống nước khi cơ thể điều hòa với nhiệt độ của cơ
thể, có kỹ năng, có trợ giúp.
1. Khởi động kỹ trước khi xuống nước
2. Học bơi dưới sự hướng dẫn của người lớn biết
bơi.
- Học bơi do người lớn
hướng dẫn:
+ Bơi được ít nhất
25m liên tục
+ Tự làm nổi mình ít
nhất 5 phút
Biết bơi
4.Tuân thủ quy định an toàn đường thủy.
Mặc áo phao khi tắm, qua đò
Bơi nơi an toàn, ngang ngực, có người lớn,
đông người
5. Có các thết bị phòng chống tai nạn đuối nước .
Chum vại, bể nước phải có nắp đậy Giếng nước phải
được xây thành cao, có nắp đậy.
PHÒNG TRÁNH TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC Ở TRẺ EM
Làm hàng rào quanh
ao, hố nước, rãnh nước
quanh nhà, làm cổng
có cửa chắn (khi nhà
gần sông hồ)
6. Cắm biển báo nguy hiểm
7. Lên bờ ngay khi trời tối, mưa, sấm chớp…
8. Không được nhảy xuống nước khi mình
đầy mồ hôi.
9. Không tắm, bơi ngay sau khi ăn.
KHÔNG
CÁCH CỨU NGƯỜI BỊ ĐUỐI
Tùy theo tình hình cụ thể của người bị
đuối mà quyết định sử dụng phương pháp
thích hợp. Thường có 2 phương pháp cứu
đuối đó là cứu đuối gián tiếp và cứu đuối trực
tiếp.
Mặc dù có biết bơi hay không, khi gặp một
người té xuống nước sâu, ta phải biết kêu gọi
những người xung quanh tới trợ giúp. Nhưng
luôn luôn phải để ý tới nạn nhân và cố gắng
với sáng kiến, khả năng của mình tìm tòi mọi
cách để cứu họ lên.
Trong trường hợp nạn nhân ở gần bờ, không
phải lúc nào cũng có sẵn phao cứu hộ bên
mình, ta có thể tận dụng một chiếc gậy, một
cây sào..
hoặc xa hơn một chút thì dùng một cuộn dây
buộc một đầu vào một vật gì đó nổi lên được
trên mặt nước như: can nhựa, thùng nhựa,
chai nước suối, thùng dầu ăn... đều có thể
dùng cứu họ được.
Ta hãy thực hiện bằng cách níu chặt lấy
một thân cây, một mô đất hoặc một vật gì
chắc chắn, rồi ném hoặc đưa vật hiện có cho
nạn nhân nắm lấy và lôi vào bờ (hình 1)
Nếu có nhiều người, ta giăng một hàng
người nắm tay (như hình 2) để kéo nạn
nhân vào bờ
Nếu có thuyền, ta chèo thuyền ra chỗ nạn
nhân, cũng có thể đưa tay hoặc mái chèo ra cho
nạn nhân nắm lấy, hoặc trong trường hợp khẩn
thiết ta buộc dây vào người và nhảy xuống nước
cứu họ lên thuyền (hình 3)
- Là khi không có dụng cụ cứu đuối hoặc người đuối đã vào
trạng thái hôn mê. Người làm công tác cứu đuối trực tiếp
phải qua lớp huấn luyện chuyên môn, đồng thời phải có
những kiến thức nhất định mới có thể đảm nhiệm được. Khi
cứu đuối trực tiếp cần chú ý những điểm sau:
- Người cứu trước khi vào nước cần quan sát vị trí của người
đuối (đã hôn mê, chìm hay còn giẫy dụa trong nước), tùy
vào tình hình của người đuối mà người cứu sử dụng phương
pháp cho thích hợp. Nếu người bị đuối rơi vào vùng nước
chảy xiết trên sông rạch thì người cứu có thể chạy trên bờ
để đón đầu cứu.
1.CÁCH NHẢY VÀO NƯỚC.
Người cứu nếu không quen với với
tình hình nước ở khu vực có người đuối
thì tuyệt đối không được nhảy cắm đầu
xuống nước mà nên nhảy xoạc chân trước
sau, hai tay dang hai bên về phía trước
(hình 6)
2. CÁCH BƠI TIẾP CẬN NGƯỜI BỊ ĐUỐI.
Khi tiếp cận với người bị đuối, nên dùng kiểu
bơi ếch hoặc trườn sấp ngẩng cao đầu để tiện cho
việc quan sát vị trí và động tác của người đuối, khi
bơi cần chú ý chọn quãng đường ngắn nhất. Khi
người đuối đang còn giẫy dụa, người cứu không nên
xông ngay vào phía trước mặt mà nên tiếp cận họ từ
sau lưng để tránh khỏi bị ôm túm gây nguy hiểm.
Sau khi tiếp cận họ từ phía sau lưng nâng họ
lên mặt nước, tiếp đó dùng kỹ thuật bơi
nghiêng hoặc bơi ếch ngửa để dìu họ vào bờ
và tiến hành cấp cứu trên cạn (hình 7)
3. CÁCH BƠI DÌU NGƯỜI BỊ ĐUỐI VÀO BỜ.
Khi cứu người nếu chúng ta không khẩn
trương bơi dìu họ vào bờ để cấp cứu trên cạn thì
coi như ”công dã tràng”. Thường người cứu sử
dụng các kiểu bơi dìu như sau:
CÁCH 1: Nạn nhân nằm ngửa, người cứu bơi ở
phía sau nạn nhân, một tay dùng để bơi, một tay
vắt ngang trên ngực xốc chéo qua nách bên kia.
Bơi kiểu nhái đưa họ vào bờ. Kiểu này người cứu
khá mệt nhưng làm cho nạn nhân được an toàn
tuyệt đối. Kiểu này người cứu phải khá tỉnh táo
và phải biết bơi thành thạo (hình 8)
CÁCH 2: Nâng cằm nạn nhân cho ngửa hẳn mặt
lên, như thế mũi của nạn nhân sẽ được thoát lên
khỏi mặt nước. Cách này được dành cho các nạn
nhân có cơ thể hơi mập. Người cứu có thể dùng
tay còn lại để bơi ếch ngửa vào bờ nhanh hơn.
(hình 9)
CÁCH 3: Từ phía sau, người cứu dùng tay nắm
ngay chùm tóc phía trên trán, giựt ngửa cổ nạn
nhân ra đằng sau, phương pháp này dùng để cứu
nạn nhân là nữ rất có lợi (hình 10)
CÁCH 4: Nếu nạn nhân đã bất tỉnh thực sự, ta có
thể dùng hai tay nâng đầu nạn nhân nổi lên mặt
nước, bơi ngửa bằng hai chân và kéo nạn nhân
vào bờ (hình 12)
CÁCH 5: Nếu nạn nhân có trọng lượng nhẹ hơn ta
và đã bất tỉnh. Ta có thể bơi ngửa, dùng ngực để
đỡ đầu nạn nhân, hai tay xốc dưới nách cho nạn
nhân nằm sải với tư thế thoải mái, hai chân đạp
kiểu ếch ngửa để đưa nạn nhân vào bờ. (hình 13)
Đừng mặc cảm là mình còn bơi yếu nên
không thể làm gì được! Chắc chắn không có ai
bơi giỏi cả nhưng bạn có thể thoát chết đó là
nhờ sự bình tĩnh và sử dụng những kiến thức đã
được học đem ra để áp dụng.
Nếu những phương pháp này được các bạn
rèn luyện tốt. Rất có thể bạn sẽ giúp được một ai
đó thoát chết trong khả năng cho phép. Hy vọng
rằng chính bạn sẽ là người góp phần làm cho số
người thiệt mạng vì chết đuối sẽ được giảm
đáng kể.
Giáo dục phòng tránh đuối nước
- 1. Không để trẻ nhỏ ở một mình khu vực có nước,
luôn ở cạnh và quan sát trẻ.
- 2. Đảm bảo hồ bơi và các vật nước chứa nước được
rào chắn cẩn thận.
- 3. Luôn giám sát các em nhỏ bằng mắt.
- 4. Học bơi là cách tốt nhất hạn chế tai nạn đuối
nước.
- 5. Bố mẹ nên học cách sơ cứu và hồi sinh tim phổi
- 6. Không bao giờ để trẻ lớn hơn giám sát trẻ nhỏ.
- 7. Đừng bao giờ nghĩ trẻ nhỏ biết bơi sẽ không bị
đuối nước.
Giáo dục phòng tránh đuối nước
- 8. Ở những khu vực nước mở như hồ, sông suối,
thủy điện và biển luôn mặc áo phao cho trẻ nhỏ.
- 9. Không để đồ chơi và bất cứ vật gì gần hồ bơi và
nơi chứa nước
- 10. Không để hờ cống chắn ở hồ bơi hoặc hồ chứa
nước khu vựa xung quang trẻ nhỏ.
- Cho trẻ học bơi sớm.
III. PHƯƠNG PHÁP HÔ HẤP NHÂN TẠO.
Phương pháp hô hấp nhân tạo được áp dụng trong trường
hợp cấp cứu nạn nhân bị đuối nước do không biết bơi, gặp tai
nạn đường thủy, các trường hợp bị tai nạn khác dẫn đến bất
tỉnh và ngưng tim ngưng thở…bao gồm 5 bước thực hiện sau:
1. NGUY HIỂM
2. ĐÁP ỨNG
3. ĐƯỜNG THỞ.
KẾT
LUẬN
VÀ Ở
KIẾN
4.
NH
ỊP TH
. NGHỊ
5. MẠCH.
+ Bước 1: Nguy hiểm.
Đảm bảo không còn bất kỳ sự nguy hiểm
nào đối với nạn nhân và người cấp cứu.
+ Bước 2: Đáp ứng
Kiểm tra sự đáp ứng của nạn nhân bằng cách: Bóp nhẹ hai vai, gọi to hoặc
lắc nhẹ xem nạn nhân còn tỉnh táo hay không. Trước khi thực hiện các bước kế
tiếp nên nới lỏng quần áo, lấy các vật cộm trong túi áo quần nạn nhân ra ngoài.
Đối với trẻ em dưới 1 tuổi nên vỗ mạnh vào lòng bàn chân của nạn nhân và kết
hợp gọi to.
Gọi ngay số điện thoại 115 hoặc số điện thoại của cơ quan y tế gần nhất đến
báo sự việc và yêu cầu hỗ trợ.
+ Bước 3: Đường thở
Khai thông đường thở của nạn nhân bằng cách:
+ Lấy mọi dị vật gây tắc nghẽn
đường thở trong miệng nạn nhân, kể cả răng
giả (nếu có). Nếu nạn nhân ói mửa thì cần nghiêng đầu sang bên
cho nạn nhân ói và vệ sinh sạch sẽ miệng và mũi nạn nhân trước
khi thực hiện các bước kế tiếp.
+ Thông đưởng thở bằng cách nâng cằm và ngửa đầu nạn nhân
( để tránh lưỡi tụt xuống che thành họng của nạn nhân). Trong
trường hợp nghi ngờ nạn nhân bị chấn thương đốt sống cổ cần
thực hiện nâng hàm nhẹ vừa phải vừa đủ để không khí vào và
phải làm hết sức cẩn thận (nếu có người hỗ trợ thì giữ cố định
phần đầu bằng tay khi thực hiện quá trình sơ cứu)
+ Bước 4: Nhịp thở
Cấp cứu viên quan sát lồng ngực, áp lỗ tai sát mũi và bàn tay đặt
trên bụng nạn nhân để :
+ Nghe : Hơi thở của nạn nhân.
+ Nhìn : Lồng ngực nạn nhân có di động (phập phồng lên xuống)
hay không.
+ Cảm nhận : Hơi ấm của cơ thể nạn nhân.
Thực hiện nghe, nhìn và cảm nhận trong 5 giây (có thể
đếm từ 1 đến 5) để xác định nạn nhân còn thở không, nếu nạn
nhân không thở thì cấp cứu viên lập tức thổi hơi 5 lần liên tục
(cần thổi hơi dài và đủ mạnh từ 2 giây trở lên). Nếu có băng gạc y
tế hoặc gạc chuyên dụng thì cấp cứu viên nên đặt trên miệng nạn
nhân trước khi tiến hành thổi hơi (tránh các bệnh lây nhiễm qua
đường hô hấp).
Cấp cứu viên phải nghe kiểm tra hơi thở và quan sát xem lồng
ngực nạn nhân có nâng lên hay không sau mỗi lần thổi hơi. Nếu
thổi không đúng cách không khí sẽ không vào lồng ngực được.
Nguyên nhân:
+ Ngửa đầu nạn nhân không đủ để thông thoáng đường thở.
+ Có vật nghẽn đường thở.
+ Áp miệng không đúng cách, không sát miệng nạn nhân.
+ Bịt mũi không kín.
+ Thổi hơi không đủ mạnh.
+ Bước 5: Mạch
Kết thúc lần thổi hơi thứ 5, cấp cứu viên tiến hành kết hợp
kiểm tra mạch bằng cách đặt 2 ngón tay (ngón trỏ và giữa) vào
mạch cổ nạn nhân kiểm tra trong 10 giây (có thể đếm từ 1 đến 10),
lúc này sẽ xảy ra 2 trường hợp như sau :
 








Các ý kiến mới nhất